Tay gàn bát sách

Posted: 30/06/2013 in Phạm Khắc Trung, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Phạm Khắc Trung

thap_nhang

Gia đình tôi di cư vào Nam trong chuyến tàu chót gồm có bà ngoại, bố mẹ và 2 chị Nhung, Châu, lúc đó mẹ tôi mang thai tôi được 5 tháng. Vô Nam, bố tôi tiếp tục phục vụ trong lực lượng Hiến Binh (tôi đoán là tiền thân của Quân Cảnh), chức vụ Trung Sĩ hành chánh, đóng ở trại Quán Tre. Cả xóm có mình bố tôi đi làm mặc bộ kaki vàng ủi hồ thẳng tắp, chân đi giầy da đen bóng lộn, đầu đội mũ kết (mũ có vành bằng mủ cứng che mắt giống mũ đại lễ của Sĩ Quan), trong khi những quân nhân khác lại mặc đồ xanh lá cây rừng, chân đi giầy vải, đầu đội mũ xếp… Không hiểu sao hồi ấy tôi chưa đầy 2 tuổi, mà hình ảnh mỗi chiều mẹ ẵm tôi ra hiên nhà đón bố đi làm về lại khắc ghi rõ nét trong đầu tôi. Tôi nhớ mỗi lần ẵm tôi từ tay mẹ, bố đều dở chiếc mũ kết đội lên đầu tôi trước khi bước vô nhà.

Năm 1957 bố tôi bị bệnh phải nằm bệnh viện Cộng Hòa mất mấy tháng, sau đó bị cho giải ngũ đúng vào ngày mẹ tôi sanh đứa em gái kế tên Kim Báu. Bố tôi buồn, lo, rồi đâm ra hận, vì cả nhà trông cậy vào đồng lương quân nhân ít ỏi của ông. Ông dặn tôi, “Lớn lên con chớ chọn đường binh nghiệp, đời nhà binh bạc bẽo không đâu bằng!” Từ đấy, bà ngoại và mẹ tôi tảo tần đi mua khoai lang và củ mì, củ tróc ở tận trong làng Nam, sáng dậy sớm luộc rồi đem ra chợ bán kiếm tiền đong gạo. Bữa cơm của gia đình tôi dạo ấy chỉ có cà pháo muối ngâm tương, chan nước rau lang hoặc rau muống luộc. Bà ngoại tôi còn chan nước vối hay nước chè tươi mà chừa nước rau luộc cho chị em chúng tôi. Lâu lâu mới có được bữa ăn thịnh soạn, đó là canh cua đồng giã nát, chắt lấy nước nấu với rau đay và lá mồng tơi thái nhuyễn hái ở bờ rào.

Cũng nhờ bố tôi bệnh rồi thất nghiệp một thời gian mà tôi may mắn hơn tất cả các chị em khác. Ngày nào tôi cũng được bố ôm nằm trên võng đong đưa ru ngủ. Bố tôi chỉ thuộc mỗi hai bài, hết hát, “Một con chuột có một cái đuôi. Hai tai, hai mắt. Tình bằng đầu là một cái đầu và bốn cái chân / Hai con chuột có hai cái đuôi. Bốn tai, bốn mắt. Tình bằng đầu là hai cái đầu và tám cái chân / Ba con chuột có ba cái đuôi. Sáu tai, sáu mắt. Tình bằng đầu là ba cái đầu và mười hai cái chân / Bốn con chuột có bốn cái đuôi. Tám tai, tám mắt. Tình bằng đầu là bốn cái đầu và mười sáu cái chân / v…v…”, lại ngân nga, “Hễ làm người biết nghĩ thì nên / Kể chi khôn dại sang hèn / Tính lành ai cũng vẹn toàn từ xưa / Vì nhiễm tục nên hư trăm nết / Phải tỉnh thân mở mắt nhìn đời / Con ơi nhớ bấy nhiêu lời!”

Mấy tháng sau bố tôi tìm được việc dạy đánh máy chữ cho một trường dạy nghề trên Ngã Bảy, Chợ Lớn. Rồi hơn một năm sau mới được nhận vào làm thư ký cho tòa hành chánh tỉnh Kiến Tường mà khởi đầu nghiệp công chức. Cho mãi tới năm 1964, 1965 gì đó, bố tôi mới được thuyên chuyển về Saigon.

Bà ngoại tôi mất năm 1960, lúc đó mẹ tôi đang mang thai sắp sanh đứa em gái nữa tên Thanh Ngọc. Buổi trưa bà mất, Thùy và tôi đang chơi ô quan sau nhà chờ tới giờ đi học, thì Thảo con bác Sâm chạy thộc xuống vỗ vai kêu, “Mi lên ngay, bà mày sắp mất!” Tôi chạy lên xì xụp khóc nắm tay bà. Tôi còn nhớ rõ tiếng mẹ tôi gào khóc, “Lúc cơ cực bà gánh khoai nuôi con nuôi cháu, bây giờ nhà có đủ cơm đủ rau sao bà nỡ bỏ con bỏ cháu cho đành?”

Ông ngoại tôi có 4 phòng tất cả: Bà cả sinh ra bác Đán đã mất ngoài Bắc, ba bà sau đều di cư vào Nam và rất thuận thảo thương yêu nhau. Bà hai sinh ra mẹ tôi, bà Bảng thứ ba không con cái, bà Núi thứ tư là mẹ của dì Thiệu.

Nguyệt là con gái lớn của dì Thiệu. Nguyệt lớn hơn tôi rất nhiều, khi tôi vào học lớp Năm (bây giờ là lớp 1) thì Nguyệt đang chuẩn bị thi Trung Học, vậy mà lúc nào Nguyệt cũng ngon ngọt gọi tôi, một tiếng cũng anh, hai tiếng cũng anh và xưng tên Nguyệt. Mỗi khi giỗ tết, thế nào Nguyệt cũng ở lại chơi với tôi vài ngày, ca hát vui vầy và kể chuyện cổ tích cho tôi nghe. Tôi thích nhất cách Nguyệt đóng vai chú Ba, vừa lý lắc diễn trò, vừa tíu tít hát, “Ngộ ở bên Tàu / Ngộ mới sang qua / Ngộ đạp cứt gà / Ngộ tưởng đường đen / Ngộ nhặt ngộ ăn / Ngộ kêu thúi hoắc”. Lúc tôi lên lớp Nhì thì Nguyệt lên xe hoa về nhà chồng, từ đấy anh em chúng tôi không còn gặp nhau nữa.

Hôm mẹ sanh Ngọc tôi đang đi học không hay, lúc về chị Nhung dắt tôi ra nhà bảo sanh “cô Nghị” ngoài đường cái thăm mẹ ngay. Đến nơi, tôi không hỏi han gì mẹ, lại lật đật lật tã em xem rồi buồn bã chép miệng thở dài, “Lại con gái!” Mẹ cười xoa đầu tôi hứa lần sau sẽ đẻ em trai cho tôi ẵm.

Một hôm thấy cụ Sâm (bố bác Sâm) bị mụn ghẻ ở ống quyển hành đi không nổi, ngồi đuổi ruồi trước cửa nhà, tôi động lòng trắc ẩn, bèn vào phòng mẹ nằm vờ vĩnh thăm em Ngọc, len lén lấy hộp thuốc piniciline bột và cái băng rốn của em liệng qua cửa sổ, rồi thụt thò lượm lên và chạy lên cửa trước ngồi rịt thuốc băng bó vết thương cho cụ Sâm. Những hành động của tôi không qua khỏi mắt mẹ, nhưng mẹ lặng thinh không nói năng gì, chờ đến cuối tuần bố về, cả nhà ngồi quây quần dưới đất ăn cơm, mẹ mới mang ra kể. Bố tôi buông chén cơm ôm tôi vào lòng hãnh diện bảo, “Giúp người già yếu là nghĩa cử tốt đẹp, con cứ thẳng thắn làm không cần lén lút, mai mốt cứ về nói thẳng với bố mẹ!”

Hai năm sau mẹ giữ lời hứa, đẻ cho tôi đứa em trai đặt tên Phạm Khắc Thành (1962). Đi học thì thôi, hễ về đến nhà là tôi quấn quít bên Thành, đến nỗi Thành hám hơi tôi, vừa chập chững biết đi đã đeo tôi miết, tối tự động lên giường ngủ với tôi cho tới lúc lớn khôn. Từ đó tôi lê la cõng Thành đi chơi cho mẹ làm công chuyện, mở đầu cho tục lệ đứa lớn lo cho đứa bé thành từng cặp sau này: Tôi lo cho Thành, chị Nhung lo cho Bích Ngà (1964), chị Châu lo cho Thu Hà (1966), bà Kính lo cho Hiếu (1968), Ngọc lo cho Thuận (1975). Năm 1970 chị Nhung bệnh nằm nhà thương Bình Dân và bị pháo kích chết, bấy giờ chị Châu lo luôn cho cả Bích Ngà.

Tôi lớn hơn Thành 7 tuổi, nhưng cấu tạo xương tôi nhỏ, mà hồi đó tôi lại ốm yếu gầy gò, trong khi xương Thành to, người lại bụ bẫm, nên tôi ẵm Thành không nổi, chỉ cõng được Thành thôi. Vậy mà do mê coi đá gà, chiều nào tôi cũng tha lôi, cõng Thành lội mấy cây số vào sâu tuốt trong làng Nam. Mỗi khi thấy trời chuyển mưa là Thành sợ, miệng Thành ngọng nghịu hối tôi, “Anh Kệ đi về kẻo trời mưa” khiến lũ trẻ xung quanh cười chế nhạo. Nhiều lần chạy mưa không kịp về bị mẹ rầy vì làm em ướt như chuột lột. Mỗi khi Thành bệnh, tôi sợ Thành chết nên hối hận lắm, thầm trách mình mê coi đá gà mà bắt em lội nắng dầm mưa. Buổi tối nằm nghe tiếng chim cú mèo kêu tôi không dám ngủ, ngồi dậy thấm nước miếng quyệt mắt Thành để chim không đếm được lông mi. Rồi suốt đêm tôi giật mình thức giấc, hễ dậy lại lay xem Thành còn sống hay không?

Một buổi chiều tôi mệt nằm lăn ra đất ngủ, Thành lại lay đòi tôi cõng đi chơi nhưng tôi không dậy nổi, thế là Thành vô lấy hộp diêm chất lên đốt tai tôi. Bị phỏng đau tôi ôm tai khóc, Thành luống cuống chạy lại ôm cổ tôi ríu rít kêu, “Anh Kệ nhín em sương!”

Thành cầm tinh cọp nhưng hiền từ như chú mèo con, nên có nick name là “thằng chú”. Thành biết kính trên nhường dưới và rất có hiếu với cha mẹ. Hồi đó mẹ tôi mang bệnh đau nhức, đi học về đến nhà là Thành ngồi bóp chân cho mẹ miết, đến lúc mẹ giục đi học bài Thành mới đứng lên. Ở chung phòng với tôi nên Thành lấy sách tôi mua đọc rất sớm, khởi từ những truyện cười dân gian như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai Tú Xuất…, đến truyện học trò của Duyên Anh như Dzũng Đakao, Thằng Vũ, Thằng Côn, Mơ thành người Quang Trung…, sang đến truyện Tàu gồm Tây Du ký, Hán Sở tranh hùng, Tam quốc diễn nghĩa, Đông Châu liệt quốc, Thủy Hử…, rồi Thành mướn đọc hầu như toàn bộ những pho kiếm hiệp của các tác giả Kim Dung, Cổ Long, Nam Kim Thạch… Mỗi tối trước khi ngủ, Thành lại đem những truyện đã đọc ra bàn luận cùng tôi. Hai năm học thi Tú Tài tôi ở trọ trên Saigon, mỗi cuối tuần về thăm nhà Thành lại lăng xăng lít xít pha trà điếu đóm ông anh. Thành thích lối nói chuyện tưng tửng trào phúng của tôi, một hôm cả nhà ngồi ăn cơm chiều, Báu lên tiếng than van một điều gì đó, tôi giỡn bảo, “Cái con này ưa vòi vĩnh. Rủi sinh nhằm gia đình nghèo thì không biết sẽ ra sao?” Cả nhà đều phá lên cười, Thành đắc chí cười vỗ tay vào đùi bôm bốp. Báu nói, “Anh làm như nhà mình giàu dữ? Nói giỡn chơi kiểu đó lọt ra ngoài, người ta không hiểu sẽ chửi cho thúi đầu!”

Sau 30/04/75 gia đình tôi tan nát. Điều làm tôi đau buồn nhất là sự thay đổi đột ngột của mẹ tôi. Sở dĩ tôi nhắc đến chuyện ăn cắp peniciline bột ở trên là để so sánh với sự thay đổi này, từ xưa đến giờ mẹ cấm tiệt anh em chúng tôi không được chửi bậy hay văng tục. Hồi ấy loa xã và đài phát thanh lúc nào cũng ra rả ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, thằng em út tôi đang học nói nên bắt chước ca theo. Một hôm đi học về tôi thấy Thuận vừa nhún nhẩy vừa ca, “Ồ Í Inh ăng ùm”. Lúc đầu tôi tưởng Thuận ca ngọng câu “Hồ Chí Minh anh hùng”, đến chừng nghe các em cười rúc rích và thúc Thuận ca lại hoài tôi mới thắc mắc, hóa ra mẹ dạy Thuận ca, “Hồ Chí Minh ăn l…”. Tôi vào nhà trong nói chuyện với mẹ, Thành ngồi bóp chân lắng nghe nhưng không nói năng gì. Tôi nói, “Sao mợ lại dạy Thuận ca tầm bậy vậy? Chưa nói đến chuyện du kích bắt đi cải tạo mút mùa, mợ không nghĩ rằng đã dạy cho con hư sao?” Mẹ nói mát, “Gớm! Nuôi anh ăn học bây giờ anh dạy lại mợ đấy à?” Tôi trả lời, “Mợ không nhớ đã từng dạy con ‘giấy rách giữ lấy lề’ đấy sao?” Mẹ tôi làm thinh và sau này tôi không nghe Thuận ca như vậy nữa. Tối vô ngủ Thành nói với tôi, “Em cũng nghĩ mợ sai nhưng không dám nói!” Tôi bảo Thành, “Có hiếu không có nghĩa là chấp nhận việc cha mẹ làm sai!”

Sau khi tôi vượt biên thoát, bố tôi dắt Báu và Thành về dưới miền Tây lo chuyện vượt biên. Chuyện đổ bể ra, bố tôi bị bắt đi tù, Báu và Thành chạy xấc bấc xang bang và lưu lạc rày đây mai đó dưới miền Tây, rốt cuộc Thành quẩn trí, bị tâm thần phải bỏ cuộc trở về nhà, còn Báu thì lận đận mãi cho tới năm 90 mới thoát bằng đường bộ qua được Thái Lan.

Thời gian sau Thành hết bệnh, theo học xong nghề điện lạnh và đi làm. Thành chăm chỉ làm ăn rồi lập gia đình, sinh được 2 con, đứa trai là Phạm Chí (1991), đứa gái tên Mỵ Ý (2000).

Đầu năm 1992 vợ tôi muốn về Việt Nam thăm gia đình. Lúc đó Lãnh Sự quán Việt Nam ở Canada còn lén lút, chưa dám lộ mặt vì sợ người Việt biểu tình, thủ tục xin Visa phải thông qua các đại lý du lịch. Trong đơn xin Visa nhập cảnh Việt Nam có một câu hỏi khó là “Bạn rời Việt Nam bằng cách nào? Lý do?” Nếu mình trả lời rằng “Vượt biên, tỵ nạn cộng sản” thì chắc chắn không được cấp Visa. Còn nếu trả lời theo điều Việt cộng mong muốn là “Vượt biên vì lý do kinh tế” thì tôi không cam lòng. Cho nên tôi dùng dằng, thức trắng đêm tìm câu trả lời cho đặng, rốt cuộc tôi ghi, “Vượt biên. Lý do: Theo chồng”, và vợ tôi được cấp giấy nhập cảnh.

Cuối năm 1996 bố tôi bị stroke, mẹ và các em gọi điện thoại kêu tôi về. Tôi trả lời rằng tôi không thể về thì mẹ trách, “Anh đâu có là cái gì, đến như ông Nguyễn Cao Kỳ còn về được nữa là!” Tôi cố giải thích cách nào mẹ cũng không chịu hiểu. Tôi bèn quay qua cầu cứu nơi Thành. Tôi kể cho Thành nghe về câu hỏi khó trong đơn xin Visa rồi giải thích, “Thành còn nhớ tuồng cải lương ‘Người ven đô’ do Út Trà Ôn thủ vai ông Tám Khỏe ở tám thôn vườn trầu tuyên bố ly khai cộng sản không? Việt cộng mong muốn người Việt Quốc Gia ký vào cái đơn nhận rằng tỵ nạn kinh tế để tự hủy vai trò tỵ nạn chính trị chính đáng của mình. Chưa nói tới chuyện chúng sẽ trưng ra quốc tế để tuyên truyền, tự mình viết vào có nghĩa là mình đã nhận thua cuộc. Anh không là cái đinh gì hết, nhưng anh không cam tâm thua cuộc một cách phi lý như vậy!” Thành tỏ ra thông cảm, nói, “Em hiểu anh rất nhiều. Dứt khoát anh đừng về, để rồi em sẽ tìm lời giải thích cho cậu hiểu”. Mấy tháng sau tôi phone về, bố tôi bảo, “Con không cần phải về. Thành có kể cậu nghe và cậu rất hiểu”. Năm 2001 bố mất tôi cũng không về nên mẹ càng trách…

Ở Việt Nam bây giờ, con cái đi học muốn đạt điểm cao thì phụ huynh phải biết thủ tục “phong bì”, cho con chạy theo chế độ “học thêm”, và bắt con học thuộc lòng “bài tủ”. Ai cũng biết phương pháp giáo dục đó sai lầm làm hỏng con mình, nhưng vì lợi ích trước mắt, nên ai cũng phóng lao theo cho con đạt được điểm cao làm cầu nối, trước mắt là vào được đại học, sau là có được cái mảnh bằng để tiến thân, rồi từ từ sẽ uốn nắn con cái sau cho đúng (?!).

Thành không nghĩ như vậy. Thành cho rằng, “ngày nay học tập ngày sau giúp đời”, học trước hết là phải rèn luyện nhân cách, rồi sau mới trau dồi kiến thức, để trở thành công dân tốt mà làm hay làm đẹp cho đời. Thành nói, “Hệ thống giáo dục của cộng sản hết sức sai lầm. Mình đã biết nó sai mà vẫn tiếp tay, tức là làm hại con mình và có tội với dân tộc”. Thế là Thành lội nước ngược, kéo con ra khỏi chỗ xoáy sai lầm, nên bị ngay các em trong nhà chỉ trích, “Trong gia đình ai cũng lo cho con cái học hành, chỉ vì anh Thành có tư tưởng kỳ lạ như vậy mà đẩy con mình ra khỏi quỹ đạo”, và gọi Thành là “tay gàn bát sách”. Lúc sau này Thành còn cải đạo theo Pháp Luân Công.

Chuyện gia đạo của Thành cũng lình xình lắm, vợ Thành mắc chứng nghiện cờ bạc nên mang nợ khắp nơi, dần dà không trang trải nổi, con nợ neo đòi mắng vốn cả mẹ chồng, khiến Thành nổi khùng đánh đuổi vợ đi. Hồng cũng biết mình có lỗi nên năn nỉ hứa sẽ chừa, vợ chồng lại ăn ở thuận hòa và sinh thêm đứa con út tên Đạt (2005). Khi Đạt chào đời được đâu 2 tháng thì Thành phát giác cô vợ vẫn chứng nào tật nấy, Hồng đem cầm cố cả văn tự nhà đất lẫn sổ gia đình. Hai vợ chồng lại gây lộn và quyết định bỏ nhau, Hồng ẵm con út về sống cùng cha mẹ ruột.

Thời gian sau này Báu làm bảo lãnh cho mẹ tôi đi du lịch qua Virgina thăm con, chúng tôi hẹn nhau sẽ qua thăm mẹ. Lúc đầu mẹ tôi vui vẻ lắm, khi thủ tục xong thì mẹ đổi ý không đi. Báu năn nỉ mẹ qua cho tôi có cơ hội gặp, mẹ hờn mát bảo, “Anh ấy là con không về thăm mợ thì thôi, lại còn bắt mợ già yếu phải lặn lội đi thăm anh ấy nữa?”

Qua năm 2007 mẹ mất tôi cũng không về, các em vuốt mắt mẹ khấn rằng, “Anh Trung không về được đâu, mợ đừng trông anh nữa!” Mẹ mất rồi nhưng vẫn giận tôi, cho nên mãi tới tháng 11 năm 2012, mẹ mới về báo mộng cho tôi gặp được một lần, trong khi bố tôi và anh Đức về thăm tôi thường xuyên lắm. Bà ngoại thì lâu lắm rồi tôi không gặp, tôi đoán rằng bà đã đi đầu thai. Còn chị Nhung báo rằng đã đi tu nên không rảnh, hôm bố tôi mất chị có về báo mộng, chị nói, “Chị có ghé thăm cậu. Cậu mạnh và vui”.

Lúc mẹ tôi mất Hồng có về chịu tang. Chắc vì vậy mà vợ chồng Thành có dịp đoàn tụ lại, nghe nói mấy tháng trước vợ chồng Thành lại gây gỗ, Hồng bỏ con lại cho Thành nuôi và về ở với cha mẹ Hồng. Thành bảo đây là lần cuối cùng, Thành quyết không tha thứ nữa!

Cả tháng nay đầu óc tôi rối bời như mớ bòng bong, có điều gì đó lấn cấn khiến tôi không yên trong dạ, tôi có linh cảm như sắp gặp chuyện không lành.

Đêm 04/06 tôi nằm chiêm bao, trong giấc mơ tôi chỉ nghe chứ không thấy, 2 người bạn là Chi và Bộ nói chuyện với nhau rằng: “Tôi nghiệp thằng con trai Bắc kỳ Trung chết trẻ!” Tôi đau đớn ngồi ôm mặt khóc… Lúc tỉnh dậy vẫn còn nấc nghẹn ngào, nhìn đồng hồ mới 3 giờ sáng. Tôi nằm yên chắp đôi tay trước ngực, mắt ngước lên trần nhà khẩn khoản nguyện cầu, “Lạy Trời Phật! Xin cho con được chết thế con con!”

Đêm 05/06 nằm chiêm bao thấy anh Đức, anh Giới, anh Quý, anh Lộc cùng đến nhà chơi. Bốn ông anh này ngày trước chơi thân với nhau lắm. Anh Đức đã mất năm 2007, anh Quý và anh Lộc còn ở London nhưng lâu nay tôi không liên lạc, anh Giới ở Mississauga vẫn liên lạc thường xuyên với tôi qua email. Tôi mời các anh ăn cơm, thức ăn dọn ra linh đình, nhưng tìm chỉ còn có 3 lon bia. Tôi định đem bia mời anh Giới, anh Quý và anh Đức, còn anh Lộc và tôi sẽ uống nước ngọt. Lúc mang nước ra tôi thấy anh Giới, anh Đức và anh Lộc ngồi một đầu bàn, còn anh Quý ngồi một mình đầu bàn kia. Tôi nói, “Mời anh Quý qua đây ngồi chung cho vui”. Anh Quý cười khề khà nói OK rồi đứng dậy dặm bước qua thì tôi tỉnh.

Đêm 06/06 nằm chiêm bao gặp anh em Thành và Oanh, chúng tôi tay bắt mặt mừng, cười đùa vui vẻ, Oanh tung tăng nói cười duyên dáng. Tôi bị ánh mắt và nụ cười của nàng hốt mất hồn, giật mình dậy rồi mà trong lòng vẫn mơ màng lưu luyến (Thành là bạn thân của tôi thời trung học đệ nhị cấp, sau này có chuyện hiểu lầm nên không liên lạc với nhau. Tôi và Oanh yêu nhau nhưng chuyện tình gẫy gánh giữa đường vì một nguyên nhân lãng nhách).

Đêm 07/06 nằm chiêm bao đi ăn đám cưới Christine (cô bạn Canadian nhỏ tuổi đang làm chung shift) cùng Tốt và Tín (Tốt và Tín là bạn học thời trung học đệ nhị cấp. Tốt còn ở VN, Tín bị xe bộ đội đụng chết dưới chân cầu Bình Triệu từ lâu rồi). Ba đứa chúng tôi đang ngồi ngoài hiên nói chuyện thì Yến (người yêu của tôi một dạo) mang quà tới mừng. Đợi Yến bước vô nhà xong tôi đứng dậy lủi trốn. Tín la lớn, “Kệ mẹ nó, việc gì mày phải trốn”. Một lát sau Yến chặn đầu tôi nơi hành lang nói chuyện, Yến bảo, “Tội nghiệp, cả hai vợ chồng Christine đều bị khiếm thị!” Tôi còn đang phân vân không tin lời Yến nói thì tỉnh giấc.

Đêm 08/06 cũng nằm chiêm bao, tôi thấy mình đang ngồi ở băng sau xe đậu gần cánh đồng, tay mở cái lunch box trên đùi kiểm soát cho chắc rằng xâu chìa khóa còn nằm trong đấy, thì bị 2 tên cướp ở 2 bên cầm dao bảo đưa chìa khóa cho chúng. Tôi nói, “Hai anh muốn đi đâu để tôi lái chở đi!” Họ bằng lòng, người đứng bên trái có vẻ là thủ lãnh, hắn mở cửa xe trước và sau kêu tôi lên ngồi lái. Vừa chui ra khỏi cửa sau tôi ôm lunch box quay ngược chạy, trong bụng yên tâm vì chìa khóa xe còn giữ trong người, hai tên cướp vừa đuổi theo vừa toác miệng chửi và hăm dọa đủ điều. Tôi chạy băng qua cánh đồng tới khu đồi núi, từ xa xa khuất trong thung lũng khi ẩn khi hiện, tôi thấy thấp thoáng Báu (ở Virgina) đang trải quần áo ra dây phơi, miệng tôi hét vang, “Help! Help!” mong Báu nghe và tìm cách cứu. Nhưng Báu không nghe thấy, rồi bóng dáng Báu khuất hẳn không trông thấy nữa. Tôi tiếp tục chạy và 2 thằng cướp tiếp tục đuổi theo cho đến lúc tỉnh dậy, mồ hôi vã ra như tắm, trong thâm tâm tôi vừa sợ vừa lo.

Những giấc mơ không ăn nhập gì nhau xảy ra cùng giờ giấc, liên tục trong suốt 5 đêm liền, đã làm tôi hoang mang không ít. Tôi biết đó là điềm báo trước một chuyện gì sắp đến, nhưng không đủ thông minh để kết hợp thông tin.

Đúng 2 tuần sau, vào sáng thứ Bẩy ngày 22 tháng 06 năm 2013, tôi nhận được email từ Báu báo hung tin: “Thành đã chết hồi tối!”

Báu kể, “Thành leo lên mái nhà sửa điện thì bị giựt mà nhà lại không có người lớn. 2 đứa con út nhìn lên thấy bố nó nằm trên mái mới phone gọi anh nó. Chí về thấy vậy mới phone cho Long (con trai Hà) chở Ngọc chạy lên. Ngọc thấy người Thành còn mềm mới chở vô nhà thương nhờ bác sĩ vô máu, vì trên người Thành máu ở mũi và miệng chảy ra và tay thì bị cháy. Vài tiếng sau bác sĩ bảo mang về nhà đi không cứu được nữa. Bây giờ bên nhà đang làm đám tang cho Thành. Em báo cho anh biết là tình hình bên đó như vậy, để chiều em biết thêm gì em sẽ mail lại cho anh biết thêm”.

Tôi không về Việt Nam nên có ý định sponsor cho Thành qua Canada chơi ít tháng để anh em có dịp gặp nhau, chuyện chưa kịp bàn thì Thành đã ra đi vĩnh viển. Tôi ra chợ mua một ít trái cây bày cúng và mời Thành về hưởng (tuần nào đi chợ mua trái cây bánh ngọt tôi cũng cúng mời cha mẹ trước). Tôi khấn nhờ bố mẹ dắt Thành đến thăm tôi.

Mấy ngày nay người tôi bần thần khó chịu, tôi không muốn làm bất cứ một chuyện gì, ngồi đâu cũng thẫn thờ nghĩ tới Thành mà thương mà nhớ. Tối ngủ, tôi có linh cảm như bố mẹ và/hoặc Thành về thăm tôi đấy. Những cảm giác là lạ giữa người dương kẻ âm ngờ ngợ khó diễn tả bằng lời. Tôi thắp lên đây nén nhang lòng, khắc ghi một “tay gàn bát sách” tên Phạm Khắc Thành, có biệt danh là “thằng chú” trong trái tim tôi.

Phạm Khắc Trung
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.