Côn Đảo, thiên đường biển xanh

Posted: 30/07/2013 in Minh Nguyễn, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Minh Nguyễn

minh_nguyen

Tháng sáu. Tôi phân vân chưa biết sẽ đi đâu trong mùa hè, may sao gặp Ngữ, người bạn thân thiết thời học chung bậc tiểu học, tư vấn:

– Mình có cô em vợ từ Côn Đảo vào chơi, nếu cậu không cho ngoài ấy chỉ có những nhà tù được coi là “địa ngục trần gian”, thì hãy làm một chuyến khám phá thiên đường mà tạp chí Travel & Leisure hay sách gối đầu giường du lịch Lonely Planet, bình chọn là một trong mười hòn đảo bí ẩn nhất hành tinh; cam đoan không ai qua mặt được tay thổ địa này. Biết đâu, sau chuyến đi bỗng dưng anh chị phải lòng nhau và cậu trở thành cột chèo với mình thì còn gì vui bằng?

Được bạn hiến kế, tôi quyết định thử một lần đi ra Côn Đảo, trải nghiệm thế giới đại dương muôn màu muôn vẻ nơi thiên đường nghỉ dưỡng hoang sơ và kỳ vĩ nhất hành tinh xem sao.

Ngay hôm sau, trên đường đưa tôi về nhà ra mắt cô em vợ, Ngữ không quên bật mí: “Con bé chưa có mối tình vắt vai nào, cậu liệu mà tấn công”. Tưởng gì, có thêm một cô bạn gái không tốt hơn là gây ra thù oán với ai đó hay sao; huống chi, em vợ bạn lại là cô gái miền biển xinh đẹp, thì Chúa ơi quả là một sự may mắn dành cho kẻ phàm phu tục tử này đấy ạ?

Lúc ngồi đối diện với Nụ ở sofa, tôi hỏi cô:

– Mùa này ra Côn Đảo ổn không em?

Nụ cười e thẹn, vân vê những sợi tóc thả bồng bềnh trước ngực, đáp:

– Côn Đảo là một trong 16 đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nếu đi vào tháng 10 cho đến tháng 02 năm sau, ai lỡ mua vé tàu thì nhớ thủ sẳn thật nhiều bao ni-lông.

– Để làm gì hả em?

– Có cái để “chó ăn chè”.

– Vậy, nên ra Côn Đảo thời gian nào?

– Đi vào khoảng tháng 04 cho đến tháng 09 là an toàn, thời gian này biển đẹp lại êm, khỏi sợ bị “cưỡi thú nhún hay phê xì ke” gì đó.

– Vậy, hôm nào trở về nhà, em cho anh tháp tùng với nghe?

– Đừng nói là anh đi tìm tư liệu về viết tạp văn hay ký gì đó nghe.

– Ngữ nói cho em biết về anh rồi hả?

– Không! Em lén đọc cuốn “Lên Mù Sương Xuống Mù Sương” của anh tặng cho vợ chồng anh chị Ngữ rồi.

– Đồng ý nhé?

– Dễ thôi, anh sửa soạn sẵn đi, tới mùa trăng em ới anh một tiếng là lên đường.

– Sao phải đợi tới mùa trăng?

– Anh đi rồi sẽ biết vì sao nhà thơ Lý Bạch đã nhảy tòm xuống nước ôm lấy bóng trăng.

Đúng hẹn, Nụ cùng tôi bắt xe ra Vũng Tàu. Qua cầu Cỏ May, nhìn bên phải quốc lộ 51, thấy có bảng chỉ đường vào cảng Cát Lở. Nụ nhắc bác tài dừng xe cho xuống. Từ quốc lộ vào cảng phải đi qua ngôi chợ tự phát choán gần hết đường xe lưu thông. Qua mươi lăm phút đi bộ, bọn tôi vào đến nhà bán vé cũng là điểm chờ lên tàu. Nụ để tôi ngồi ở căn-tin uống nước, cô đi kiểm tra vé tàu điện tử đã đặt qua mạng trước đó.

Một lúc sau Nụ đã làm xong thủ tục, cô quay trở ra nói:

– Mình đi tàu sắt số 9, dự báo thời tiết tốt, ngủ một giấc tới tầm 6 giờ sáng ra đến cảng Bến Đầm.

Đúng 17 giờ, còi tàu Côn Đảo 9 hụ ba tiếng trước khi nhổ neo, bắt đầu chuyến hải hành trực chỉ Côn Đảo.

Ổn định xong chỗ nằm dưới khoan tàu, tôi theo Nụ lên căn – tin trên boong ăn uống, ngắm biển, chờ đợi hoàng hôn xuống. May thay, trong đám hành khách có mặt chật cứng ở hai bên hành lang, Nụ cũng tìm được cho tôi và cô chỗ đứng có thể nhìn thấy cảnh bồn xăng dầu, cảng biển, kho tàng, bến bãi containe, kéo dài ra tới khu Bến Đình, nhà cửa lô nhô, đài rada, ngọn hải đăng, núi lớn, núi nhỏ . . . đang lui dần lại phía sau. Cùng lúc, có nhiều tiếng người suýt xoa, khen tặng vẻ đẹp lộng lẫy bên từng đám mây mới vừa thấy trắng như bông, tức thì biến thành sắc màu rực rỡ in trên nền trời, ở ngay sau lưng. Vì mới lần đầu tiên lênh đênh trên biển, tôi lạ lẫm đứng nhìn không chớp mắt cuộc trình diễn ánh sáng vô cùng hoành tráng của hoàng hôn, kéo dài cho tới khi bóng đêm phủ xuống, mang mặt trăng nhô cao dần khỏi mặt nước; đồng thời ném thứ ánh sáng kỳ ảo xuống những con sóng nhấp nhô, trông chẳng khác gì đang có muôn ngàn con cá vàng quẫy đuôi đùa giởn. Tiếc thay, giữa khung cảnh thơ mộng và đầy lãng mạn như thế này, cô gái đứng bên tôi vẫn còn là ẩn số, cho nên tôi chẳng biết làm gì hơn là ngồi bên cô uống nước, ăn mì gói . . . hít hà mùi thịt da con gái quyến rũ ngây ngất trong bóng đêm.

Đang mơ mộng, bất ngờ tôi thấy Nụ quay lại, phát hiện ra ánh mắt của tôi đang nhìn cô say đắm, cô vờ như không biết hỏi:

– Bộ, trên mặt em dính gì hay sao mà anh nhìn em với ánh mắt gian gian thế nào ấy?

Ngay lúc ấy nhờ có anh thanh niên trong thủy thủ đoàn đi ngang, tôi mừng rỡ giữ anh ta lại hỏi thăm về con tàu số 9. Anh vui vẻ cho biết: con tàu dài 30 mét, rộng 7 mét 8, vận tốc trung bình 15 km trên giờ, mỗi chuyến ra khơi ngốn hết gần 8 tấn dầu và chở được khoảng 300 khách, gồm 238 giường nằm hai tầng và một ít ghế ngồi.

Khuya, tôi cùng Nụ rời boong tàu đi ngủ, dành sức để hôm sau còn khám phá Côn Đảo.

Đặt lưng nằm xuống giường khá lâu nhưng tôi không tài nào ngủ được, cứ nhắm mắt để đó, chỉ mong cho trời mau sáng. Tới đầu hôm, tôi thiếp đi trong giấc ngủ lúc nào không hay. Kinh nghiệm tích lũy được trong những lần đi cùng tập thể, giúp tôi ngồi dậy mang bàn chải đánh răng đi ra phía sau đuôi tàu, chiếm lấy bồn vệ sinh lộ thiên rửa mặt đánh răng, trước khi hơn 300 con người cùng túa ra đây cùng một lúc, tới lúc đó e chỉ còn nước đứng chờ dài cả cổ.

Từ khu vệ sinh nhìn ra, tôi thấy một đốm lửa đỏ mọc lên rất nhanh từ dưới mặt biển. Thì ra, tín hiệu ngầm báo một ngày mới đang đến. Tôi chạy vội lên boong tàu, ngắm cái chấm lửa mới đầu chỉ to hơn nửa quả trứng, sau lớn dần bằng quả bóng, trước khi biến thành chiếc mâm rực lửa rọi sáng cả một góc trời biển đông. Ôi! Không phải là tuyệt tác thiên nhiên do tạo hóa ban tặng thì gọi là gì nhỉ? Kịp lúc quay lại, tôi đã thấy con tàu lừng lững tiến vào cửa vịnh được che chắn, bao bọc bởi các dãy núi cùng nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Trước mắt, ngoài vịnh Bến Đầm hiện ra lờ mờ trong làn sương, tôi còn bắt gặp một cảng cá có thể tiếp nhận khoảng 20 tàu có công suất từ 150 đến 600 mã lực, ghé vào tránh bão, mua bán hải sản, đá lạnh, thực phẩm tươi sống, xăng dầu, sửa chữa máy móc, buôn bán ngư cụ, dịch vụ ô tô, dịch vụ xe ôm . . .

Do bận ngắm cái cầu cảng dài sọc như một sàn catwalk, chạy thẳng từ trong đảo ra tới ngoài vịnh Bến Đầm, tôi quên khuấy việc con tàu đã cập cảng từ lâu. Tới chừng, nghe tiếng Nụ gọi í ới dưới bến, tôi chợt nhớ mình là người khách cuối cùng còn đứng trên boong tàu. Quê quá, tôi chỉ còn biết cúi đầu xách  ba lô hướng về chiếc thang dành cho khách đi tàu lên xuống, bước tới. Vừa đi, tôi vừa cố ý né tránh ánh mắt cùng nụ cười soi mói của nhiều người đang nhìn ngó theo tôi.

Dưới bến, các đội quân xe tải, xe ôm xếp hàng trật tự chờ đưa khách vào thị trấn Côn Sơn cách đấy chừng 12 cây số. Nụ khuyên tôi ngồi sau xe ôm cho thoải mái, để được hít thở không khí trong lành biển cả, vừa thưởng ngoạn phong cảnh đẹp như tranh vẽ nơi cung đường chạy dọc ven biển. Đúng như lời cô, con đường tuy không rộng lắm nhưng được cái thoáng đãng sạch sẽ với một bên là vách núi xanh rờn cây cỏ, một bên là đại dương trong vắt màu nước biển xanh ngọc. Cung đường dẫn qua địa danh: đỉnh Tình Yêu, mũi Cá Mập, Bãi Nhát, những khu resort, nhà hàng sang trọng mọc san sát bên nhau, chạy vào tận thị trấn bình yên rợp mát bóng những hàng cây bàng cổ thụ gốc rể sần sùi, tượng trưng cho sức sống mảnh liệt của người dân Côn Đảo, được trồng giữa hai làn đường dắt nhau chạy uốn lượn ven biển, đẹp không thể chê vào đâu qua tiếng sóng vỗ rì rào thay cho lời tình tự.

Được biết, Côn Lôn, Côn Sơn hay Côn Đảo là tên của một trong số 16 hòn đảo lớn nhất tại đây. Mỗi hòn đảo đều mang một đặc thù riêng, thể hiện nơi các ran san hô thân cứng, thân mềm, dạng bàn tay, sừng nai hoặc các loại tảo biển, vích. . . nhưng điểm chung nhất là cùng thừa hưởng một khí hậu trong lành, thích hợp cho những ai muốn đi du lịch sinh thái và nghĩ dưỡng.

Để đỡ phải mang vác vất vả, Nụ rủ tôi ghé nhà cô bỏ mấy thứ không cần thiết, xong quay ra đi dưới bóng mát những cây bàng, qua các con phố đìu hiu bên màu đỏ chói chang từ hàng rào bông giấy nhà ai. Tuy những con đường trên đảo thường không to, không dài nhưng được cái sạch trơn và đều hướng ra phía biển, tạo cảm giác dễ chịu giữa màu nắng hè gay gắt. Bỗng dưng, trong đầu tôi nảy ra ý nghĩ: nếu bạn đã một lần đi giữa đường phố cổ Hội An, nghe lòng mình ấm lại bên những câu chuyện cổ tích một thời thơ dại tuổi thơ thì, đi bên những bờ tường đá rêu phong dài hun hút cùng những mái nhà ngói đỏ xây dựng theo lối kiến trúc thời thuộc địa, khiến bạn liên tưởng tới một Côn Đảo chẳng khác gì vùng nông thôn nào đó ở tận miền Nam nước Pháp xa xôi.

Thấy tôi có vẻ suy nghĩ, Nụ mỉm cười hỏi:

– Anh có thấy chán với cái thị trấn vắng vẻ buồn hiu này chưa?

Tôi trả lời:

– Buồn thế nào được. Em không thấy mấy chàng thanh niên đang nhìn anh phát ghen lên hay sao?

Nụ cười đỏ mặt nói:

– Em tưởng nhà văn các anh chỉ giỏi viết lách, không dè tán tỉnh bọn con gái cũng ra trò.

Vừa đi, Nụ vừa chỉ tay về phía có cái quán cà phê lộ thiên, nằm dưới bóng của những cây bàng. Ngoài việc kinh doanh cà phê ra, ở đây còn bán cả thức ăn nhẹ, kiêm luôn việc cho thuê xe máy. Ngồi ăn sáng, Nụ hỏi thuê luôn xe máy với giá một trăm hai mươi ngàn đồng một ngày, hào hứng kể:

– Vào những đêm trăng tròn, ngồi ở ngoài sân kia vừa  thưởng thức cà phê vừa ngắm thủy triều mang nước rút ra xa bờ, làm lộ ra những con cá, con mực lấp lánh dưới ánh trăng đẹp đến mê hồn.

Tôi không bỏ lở dịp may rủ rê cô:

– Đêm nay cũng sáng trăng, vậy tối nay mình lại ra đây ngồi uống cà phê, lội xuống biển bắt cá, chờ đến 12 giờ khuya đi ra nghĩa trang Hàng Dương xem người ta đi viếng mộ cô Sáu luôn thể?

– Ồ! Đêm nay em phải có mặt ở nhà, nếu cần anh cứ thuê xe ôm đến đó xem người ta thắp nhang cầu xin những điều tốt lành nơi cô Sáu. Ngày mai, em hứa sẽ đưa anh ghé đến miếu bà Phi Yến, cũng là một trong hai điểm du lịch tâm linh được nhiều người biết đến.

Nụ kể tới đây, tôi nhác thấy bóng người chủ quán bước đến báo cho cô biết thủ tục thuê xe đã làm xong. Nghe vậy, tôi đứng lên đi lại quày tiếp tân ký giấy nhận xe. Tại đây, cô nhân viên vui vẻ cho biết: “Ở Côn Đảo chỉ có độc nhất mỗi cây xăng và chỉ làm việc trong giờ hành chánh”. Khỉ thật, tôi vội nhận chìa khóa xe, chạy bay ra cây xăng đổ một bình thật đầy. Yên chí, kể từ giờ trở đi tôi có thể chở Nụ đi khắp nơi mà không phải lo lắng.

Rời cây xăng, tôi chở Nụ vòng ra con đường cặp biển, nơi được xem đẹp nhất Côn Đảo, ghé Cầu tàu 914, thấy trên bia di tích ghi 914 con người đã bỏ mạng trong lao dịch khổ sai để xây dựng nên cây cầu dài 107 mét, chạy thẳng từ mép đường ra đến ngoài vịnh Côn Sơn.  Đây cũng là nơi tiếp nhận những người tù đầu tiên bị đày ra đây. Có điều, con số 914 nghe đâu chưa thật chính xác?

Chụp vội mấy bức ảnh, tôi cùng Nụ quay sang dinh Chúa đảo ở ngay sau lưng. Vượt qua cái cổng chào đồ sộ bên đường, bọn tôi đứng trước cổng dinh có tấm biển nhỏ ghi “Bảo Tàng Lịch Sử Côn Đảo”. Nơi làm việc, sinh sống của 53 đời Chúa đảo trải qua 113 năm, nay trở thành nơi giới thiệu khái quát hình ảnh nơi giam giữ, hiện vật tra tấn tù nhân yêu nước ba miền như: Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cẩn, Võ Thị Sáu . . . riêng bài thơ Đập Đá của cụ Phan, người đứng đầu trong “Côn Lôn Quốc Sự Tù”, được khắc trên đá hoa cương treo trước cổng khu khai thác đá: “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/ Lừng lẫy làm cho lở núi non/ Xách búa đánh tan năm bảy đống/ Ra tay đập vỡ mấy trăm hòn/ Tháng ngày bao quản thân sành sỏi/ Mưa nắng chi sờn dạ sắt son/ Những kẻ vá trời khi lỡ bước/ Gian nan chi kể chuyện con con”.

Từ nhà bảo tàng bước ra, tôi thấy mây đen ùn ùn kéo đến từ phía biển. Đoán sớm muộn gì trời cũng mưa, tôi cố chạy thật nhanh tìm chỗ trú chân. Biết tôi lo lắng, Nụ trấn an bằng câu:

– Anh yên tâm đi, trên đảo mưa không dai lắm đâu.

Chợt nhìn thấy trên vỉa hè phía trước có cái quán bày bán hàng đặc sản Côn Đảo, tôi chở Nụ chạy bay đến đó. Thấy khách ghé vào, chị bán hàng thân thiện kéo ghế mời chúng tôi ngồi, giới thiệu:

– Anh chị mua mứt bàng đi. Ai đã ra đến đảo, trước khi trở về đất liền, đều mua nó về làm quà cho người thân.

Trong lúc tôi cầm lọ mứt lên xem, Nụ chỉ tay về những quả dứa dại có màu đỏ, hỏi:

– Anh biết quả này tên gì không?

Tôi còn lạ gì những quả dứa dại này, vì đã có lần bị choáng ngộp trước màu sắc sặc sỡ của nó, bày bán ở biển Cổ Thạch, Mũi Nai, hay mới đây trên đường lên mũi Điện – Tuy Hòa.

– Quả dứa gai chứ gì. Tôi đáp.

Mưa bắt đầu rơi như thể “năng lưu khách”. Trong lúc chờ cơn mưa đi qua, tôi chọn mua vài lọ mứt tặng Nụ, còn bao nhiêu mang về gửi lên Tây Bắc cho Mây và Nhã nếm thử đặc sản Côn Đảo, ngon, ngọt, mằn mặn hòa lẫn trong vị bùi béo tan trên đầu lưỡi nghe lạ lẫm. Kế đó, tôi không quên hỏi thăm chị bán hàng cách thức làm mứt bàng. Chị vui vẻ kể “Cây bàng ở Côn Đảo thuộc loại cây rừng nên cho lá và quả rất to. Thường vào tháng 7 tháng 8 bàng chín vàng trên cây, lúc đó dơi từ các nơi bay về ăn trái chín rất đông, cộng thêm việc trời chuyển gió thổi mạnh làm những quả bàng rơi đầy xuống mặt đường. Ai rảnh việc, đi nhặt của trời cho mang về phơi khô, dùng dao bén tách quả làm đôi, cậy lấy nhân bên trong rang chín đổ riêng ra một cái thau. Sau đó, cho đường hoặc muối đun trên lửa liu riu cùng với một ít nước, chờ sệt lại đổ bàng đã rang trước đó vào chung một chảo, dùng xạng đảo đều tay để đường hay muối thấm vào từng hạt bàng, cho tới khi tất cả ngã sang màu nâu là được”.

Mưa một loáng đã tạnh, Nụ hối tôi chạy về phía phi trường Cỏ Ống, ở cách xa thị trấn khoảng 15 cây số, khám phá bãi tắm được đánh giá hoang sơ và đẹp nhất Đầm Trầu. Con đường chạy dọc ven biển thật thơ mộng, dẫn qua khu rừng dương sào sạt tiếng gió, bãi tắm Lò Vôi lãng mạn, đến những đoạn quanh co gấp khúc đầy nguy hiểm; đổi lại, tôi được chứng kiến cảnh rừng nguyên sơ với vô số cây rừng như bằng lăng tím, cây họ đậu trổ bông giống hoa anh đào, khu nghỉ dưỡng Six Senses (từng được tạp chí Travel &Leisure bầu chọn là khách sạn thứ 19 trong 52 khách sạn tốt nhât thế giới vào năm 2011, với 50 biệt thự bằng gỗ, hồ bơi riêng; đặc biệt với sự có mặt của đôi diễn viên điện ảnh Brad Pitt – Angelina Jolie) . . . tới ngã rẽ bên đường, thấy tấm bảng chỉ vào miếu Cậu và bãi Đầm Trầu cách xa phi trường non cây số.

Quẹo theo bảng chỉ dẫn còn in vết xe trên con đường đất, tôi lái xe xuyên rừng tới xưởng cưa xẻ đá bị bỏ hoang phế, chạy tiếp thêm một đoạn ngắn ghé vào thắp nhang ở miếu Cậu, nơi thờ hoàng tử Cải, con trai chúa Nguyễn Ánh với bà thứ phi Phi Yến, bị cha ném xuống biển vì khóc xin đòi cho mẹ được cùng chạy trốn, khi nghe tin quân Tây Sơn đang truy đuổi đến gần. Buồn, nghe qua câu chuyện quá tàn nhẫn, ai nấy đều bị xúc động mạnh; riêng tôi và Nụ lẵng lặng lấy xe chạy tiếp lên quá 300 mét, leo lên một tảng đá có hình thù giống đôi bạn đang chụm đầu vào nhau, nhìn xuống bãi cát mịn màng trải một màu vàng ươm bên bờ biển, nghe tiêng gió thổi rì rào bên rừng phi lao như đang nhỏ to kể chuyện nàng Trầu xinh đẹp, kết thúc cuộc đời bất hạnh của mình trước mối tình oan nghiệt với người anh cùng cha khác mẹ. Để cảm thương cho mối tình nghiệt ngã của nàng Trầu, người dân làng Cỏ Ống chọn nơi nàng quyên sinh đặt tên cho bãi Đầm Trầu. Bãi biển sạch, nước trong veo, sóng gợn lăn tăn, uốn lượn hình cánh cung nhờ hai đầu có hai bãi đá cùng với rừng nguyên sinh nhô ra tận biển chắn gió.

Thay vì nằm ngã lưng xuống ghế bố, tận hưởng chút không khí trong lành của biển, tôi lôi Nụ xuống mép nước, đi dạo trên cát, nhặt từng chiếc vỏ ốc, từng viên đá có hình thù ngộ nghĩnh mang về chưng ở kệ sách; kể cả việc xông vào khu rừng nguyên sinh trên bờ, khám phá động thực vật trước khi trở xuống lặn ngụp dưới làn nước biễn trong vắt màu xanh ngọc.

Vui đùa chán chê, bọn tôi lại lên xe rời bãi Đầm Trầu, chạy về hướng núi Chúa. Bỏ qua nhánh thứ nhất đường vào nghĩa trang Hàng Dương; bỏ qua nhánh thứ 2 chạy ngang khu sở tiêu; tôi chạy xuyên rừng Quốc Gia tới di tích Ma Thiên Lảnh (*). Đây là cây cầu do thực dân Pháp bắt tù nhân mở đường, nhằm nối 2 mỏm núi tới sở Ông Câu để dễ bề kiểm soát những tù nhân vượt ngục. Do địa thế hiểm trở, lao động lại nặng nhọc, cây cầu làm chưa đến đâu đã có 356 tù nhân phải bỏ mạng (đến tháng 8 năm 45 việc xây cầu bị ngưng luôn) và ngày nay chỉ còn nhìn thấy 2 cái mố cầu bị bỏ hoang phế. Để đi tiếp xuyên qua rừng Ông Đụng, tôi buột phải để xe tại chỗ, vì con đường mỗi lúc một nhỏ rất khó đi do cây cỏ mọc um tùm; ngược lại, tôi có cơ hội ngắm nhìn thảm thực vật nơi rừng nguyên sinh với đủ loại hoa, bướm có màu sắc sặc sỡ bay lượn cùng tiếng chim hót nghe lạ tai. Kia rồi, bãi Ông Đụng hiện ra với nhiều cây bàng lớn, gốc rể sần sùi đứng nhiêng mình soi bóng bên bãi cát có hàng ngàn viên đá cuội tròn nhẳn và khu rừng ngập mặn. Vui quá, Nụ xắn ống quần lên lội nước, đuổi theo đám cua núi màu vàng chạy trốn sau lớp lá mục khi nhác thấy bóng người, trong khi tôi hoay hoay gở từng con ốc bám chặt vào đá. Ốc Vú nàng? Tôi chợt nhớ lời dặn của bạn bè, khi ra bãi Ông Đụng nhớ hỏi con gì đó mà chỉ Ông Đụng mới biết. Tôi buột miệng đọc: “Ai qua đất thắm Bãi Bàng/ Hỏi thăm Ông Đụng vú nàng lớn chưa”. Vú Nàng. Nụ ngạc nhiên nhìn nét mặt “giả nai” đầy tà ý nơi tôi, đỏ mặt giải thích: “Vú nàng là loại ốc biển bám vào đá, có lớp vỏ màu ngăm nâu, hình dáng khum khum giống như nhủ hoa phụ nữ. Ốc vú nàng khi tách ra thấy thịt bên trong màu hồng, mùi tanh, vị ngọt, ăn nghe sừng sực trong miệng”. Ồ! Thì ra chuyện vú vê nơi trần tục đâu còn có liên quan gì tới Ông Đụng, bởi từ ngày bị đày ra Côn Đảo, ông đã rũ áo giang hồ ở ẩn không màng tới chuyện trai gái, hỏi chuyện vú nàng với ông làm gì cho rách chuyện?

Từ bãi ông Đụng trở ra, tiện đường Nụ đưa tôi đi tìm cảm giá mạnh trên con đường dốc cao gần như thẳng đứng lên đỉnh Thánh Giá. Cung đường núi nghe nói cao nhất ở Côn Đảo, luôn có mây mù bao phủ, trông thơ mộng lãng mạn không thua gì Đà Lạt hay Sapa, nhưng sự nguy hiểm được sánh ngang bằng những khúc cua tay áo trên vùng Đông -Tây – Bắc mà tôi từng đặt chân đến. Đặc biệt, khi đứng trên “nóc nhà Côn Đảo”, bạn có thể quan sát toàn cảnh vịnh Côn Sơn, thảm thực vật nguyên sinh rừng nhiệt đới, cùng các hoạt động tàu thuyền di chuyển trên biển cũng như toàn bộ thị trấn Côn Đảo và cảng Bến Đầm bên dưới.

Chiều đến, trên đường trở về thị trấn ăn uống, nghỉ ngơi để sáng hôm sau ra thăm hòn Bảy Cạnh, nhưng khi vừa chạy đến chân núi Một, Nụ bảo dừng xe ghé miếu bà Phi Yến hay còn gọi là An Sơn miếu (nơi thờ bà thứ phi chúa Nguyễn Phúc Ánh, tục danh Lê thị Răm) thắp cho người phụ nữ có lòng yêu dân, thương nước một nén nhang. Tương truyền, cuối thu năm 1873 bà đã cùng chúa Nguyễn Ánh bôn đào ra Côn Đảo, tránh đi sự theo dõi của nhà Tây Sơn, thì cũng vào thời gian này nhà vua lại có ý định đưa hoàng tử Cảnh tháp tùng Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin để xin cầu viện. Bà Phi Yến đã khuyên vua không nên “Cõng rắn cắn gà nhà” nên bị nghi ngờ thông đồng với giặc và bị xử tội chết, may nhờ các quan can gián nên bà chỉ bị giam cầm trên một hoang đảo. Năm 1785, nhân làng An Hải có trai đàn, vài vị bô lão được cử sang làng Cỏ Ông, thỉnh Bà sang dự. Thuở ấy Bà mới 25 tuổi, nhan sắc đẹp tuyệt trần nên bị tên Biện Thi làng An Hải không cầm lòng được, lợi dụng lúc Bà ngủ say quyết tâm lợi dụng thân thể Bà, nhưng khi hắn vừa chạm đến tay, tức thì Bà giật mình thức giấc tri hô lên để dân làng kịp thời bắt hắn. Để giữ tròn phẩm tiết, Bà đã tự chặt đứt cánh tay, rồi thừa lúc mọi người sơ ý đã quyên sinh. Trước sự việc ấy, người dân làng An Hải đã phải lập đền thờ Bà để tạ tội và sau đó chọn hòn đảo nơi bà bị giam cầm, đặt tên là hòn Bà. Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng 10 âm lịch, người dân Côn Đảo tề tựu về làng Cỏ Ống cúng giỗ và tiếc thương cho cuộc đời đầy nghiệt ngã của hai mẹ con bà thứ phi qua câu hát để đời: “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu nhiều đắng cay”.

Thế là, sau một đêm ngủ đẩy giấc, sáng sớm tôi cùng Nụ thuê thuyền ở bến tàu du lịch ra thăm Hòn Bảy Cạnh, hòn đảo lớn thứ 2 sau Côn Sơn. Ngồi trên thuyền, ngắm trời xanh biển lặng với núi non lô nhô vây quanh, tôi cảm thấy như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh. Bất ngờ, nghe tiếng của Nụ mừng rở kêu lên khi cô phát hiện ra đám cá có màu sắc sặc sỡ, bơi lượn lờ bên những rạn san hô.

– Đây rồi, san hô, rong biển, nấm biển đang ở ngay dưới nước, cách mặt biển chưa đầy nửa sải tay, tội gì mình phải mặc áo phao, đeo kính lặn, mang ống thở Norkelling chui xuống biển làm chi cho mệt ra.

Xuống thuyền ở bãi Cát Lớn, bọn tôi bỏ qua đường lên ngọn hải đăng, lội trên thảm san hô chết ở rừng ngập mặn, bắt hải sâm ngay dưới chân lên quan sát rồi thả chúng về chỗ cũ hoặc đuổi theo loài cua “xe tăng” chỉ thấy có ở Côn Đảo. Loài cua với hai chiếc càng to-nhỏ mất cân đối, trốn chạy rất nhanh khi nghe thấy tiếng khua động từ dưới nước. Riêng, con cầu gai với những cái gai độc mọc tua tủa, có hại cho môi trường và nhất là đối với những rạn san hô, thì dùng cây phạt hết gai mang về nấu cháo hoặc nướng trên bếp lửa, múc thịt bên trong ăn rất ngon.

Sau hơn một giờ lội đi, tránh né những chiếc rể cắm phập xuống mặt nước nơi rừng đước, bọn tôi đã đến đứng trước trạm kiểm lâm giữa rừng. Không dè, ở đây lại có một ngôi nhà sàn xinh xắn với những chiếc chân cao loi ngoi trên doi đất, quay mặt nhìn ra biển. Ngồi nghỉ mệt, ăn uống, trò chuyện với các bạn ở trung tâm bảo tồn rừng và sinh vật biển, tôi nghe các anh nói cho biết “muốn xem vích đào lổ đẻ trứng phải chờ tới tháng 8 tháng 9 mới là mùa sinh sản của chúng.

Tiếc thật, thôi đành phải đi câu cá, lặn ngắm san hô rồi trở về Côn Đảo, đợi dịp khác trở ra đây.

Chập tối, lúc tôi và Nụ ngồi ở quán cà phê cạnh biển, có người đến trao cho tôi tấm vé máy bay đã nhờ mua.

Nụ ngạc nhiên hỏi:

– Anh không về bằng đường biển nữa sao?

Tôi buột lòng nói dối:

– Ở nhà gọi điện thoại ra báo phải về gấp.

Vậy là sáng hôm sau, tôi từ giã Nụ ra phi trường Cỏ Ống, leo lên máy bay ATR chào tạm biệt Thiên Đường Biển Xanh Côn Đảo, một nơi chốn giờ đây không chỉ còn là những nhà tù khổ sai ám ảnh tâm trí mọi người nữa, mà trở thành thiên đường du lịch nghỉ dưỡng sinh thái dành cho bất kỳ ai muốn khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn đầy nét hoang sơ vào loại bậc nhất hành tinh vậy./.

Minh Nguyễn

(*) Cầu Ma Thiên Lãnh :  Đặt theo tên một ngọn núi ở Triều Tiên, phỏng theo truyện “Tiết Nhơn Quí chinh Đông”.

Nguồn: Tác giả gửi tùy bút và ảnh

Đã đóng bình luận.