Hai anh thương yêu

Posted: 28/03/2014 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Đặng Châu Long

Đặng Châu Long

linh_vnch_khieng_xac_dong_doi

Chỉ còn 7 ngày nữa là đúng 44 năm, ngày anh Điệp vĩnh viễn ra đi và giỗ anh Sơn chỉ sau anh Điệp 21 ngày. Nhớ lại những tháng ngày cũ, có lẽ hai anh có chẳng nhiều thời gian bên chúng em, nhưng bấy nhiêu cũng đủ đọng trong em một ký ức sâu sắc về anh.

Năm anh Điệp ra đời, 1940 ba má vẫn còn ở ga Bình Triệu, có lẽ lúc đó ba má mừng lắm, vì anh là con đầu mà. Khi nhìn những bức ảnh anh lúc nhỏ, em vẫn nhận ra những nét suy tư hằn trên khuôn mặt tròn đầy của anh.

Ba má về Thủ Đức thì anh Sơn cũng ra đời. Sau này hai anh là hai mảnh đời trái ngược nhau. Anh Sơn năng động bao nhiêu thì anh trầm lắng bấy nhiêu. Dường như anh đang sống riêng trong thế giới của chính mình.

Lúc hai anh vào douxieme (lớp 5) của La Salle Mossard, em chưa ra đời, nhưng cũng kịp ghi nhớ hai anh qua từng bức ảnh thời đó, năm anh Điệp học lớp dixieme chụp chung với bạn Henri Hưởng trên ngọn đồi bên trường, lúc đó anh đội mũ beret đen mang huy hiệu hội đoàn Coeurs Vaillants mà sau nay trường em gọi là Hùng Tâm Dũng Chí. Trông anh oai lắm, nhưng xa xôi lắm, như đang suy tư một điều gì. Ai biết anh mới chỉ lớp Ba.

Anh Điệp mười tuổi, em mới ra đời, 19 năm tiếp đó anh em mình cùng theo ba má rong ruỗi khắp nơi. Anh cũng hay đưa tụi em đi chơi, nhưng bao giờ cũng như ông cụ non, trầm ngâm, ít nói.

Khi Ba về Sài gòn, có một sự kiện ngộ nghĩnh làm em không thể quên, hai anh chuyển trường từ La Salle Mossard về trường Notre Dame de Missions (Dòng Đức Bà Truyền Giáo) ở Chợ Lớn. Điểm đặc biệt trường này là trường nữ, chẳng hiểu sao hai anh lại được đưa vào. Hay có lẽ tại cái tên Đặng Ngọc Điệp, Đặng Hồng Sơn của hai anh có vẻ dịu dàng quá chăng. Đến bây giờ em cũng chưa chọn được lời giải thích hợp lý.

Ngày tựu trường, khi phát hiện là đực rựa thì chuyện đã rồi, có muốn gì cũng phải chờ niên khóa sau. Thế là hai anh vùng vẫy trong rừng hoa năm ấy, cũng học tập, thêu thùa, may vá như một nữ sinh chính hiệu. Thời gian này những tấm rèm cửa thêu brodée trong nhà đều là thành quả trong học tập của hai anh. Các soeurs cũng quí hai anh lắm. Có lẽ là hàng độc cũng nên. Có một lần anh Sơn được má giao đi chợ, dọc đường anh thấy một bích chương keo dán phần trên đã long ra, lật úp lại. Tò mò, anh đưa tay dở bích chương lên xem nội dung, bất ngờ có một ông cảnh sát cho là anh xé bích chương nhà nước, bắt về bót. Báo hại ngày đó cả nhà nháo nhào lên đi tìm. Trong trường các soeurs tụ tập toàn trường cầu nguyện cho anh. Có lẽ Chúa cũng nghe và thương xót nên sau đó một ngày, anh Sơn được thả ra.

Noel năm 1957 hai anh dẫn tôi đi lang thang qua các nhà thờ trong thành phố: Nhà thờ Cha Tam, Nhà thờ Ngã Sáu…nơi nào hai anh cũng cung kính bên hang đá trầm ngâm cầu nguyện như một giáo dân toàn tòng, chẳng gì cũng dân trường dòng mà. Về đến nhà cũng đã hơn hai giờ sáng. Không khí linh thánh của đêm đó bao giờ tôi cũng nhớ

Năm sau trường cho hai anh chuyển. Bắt đầu lại dưới mái trường Nguyễn Trãi Bình Dương.

Ông Hiệu Trưởng Nguyễn Tiên Sanh giỏi lắm, ông học và nhớ những chi tiết nhỏ nhặt. Ai đó hỏi ông về một từ Pháp ngữ, ông có thể đọc giải thích thuộc lòng như trong quyển Petit Larousse đã ghi. Sau này tôi cũng có dịp học vài tháng ở trường này trong thời gian chờ di chuyển ra Tuy Hòa. Thời gian không nhiều nhưng cũng kịp kiểm chứng tính xác thực của huyền thoại đó.

Anh Sơn vui tính và “à la mode” lắm. Anh quảng giao, văn nghệ nên bạn bè thường ghé chơi, hát hò. Trong đó có Martial, con thày Hiệu trưởng là thân anh nhất, vả lại từ trường đến nhà số 1 Huyện Quờn chỉ khoảng 50m, Anh Điệp thì hiền, ít nói, các thày bạn thương anh lắm. Ngày Trung Thu thi lồng đèn. Trường đưa cho riêng anh khung lồng đèn ngôi sao cao cỡ gần 2m. Anh Điệp chỉ có công dán, xong hai anh khệ nệ mang vào trường. Trường trịnh trọng treo trên cao giữa bảng Trường. Anh được giải nhì nhờ….công dán.

Thú vui của anh Điệp là giao du với những người lớn, làm thơ và chùa chiền, những năm ở Bình Dương anh cũng thường sinh hoạt ở trong Gia Đình Phật tử.

Anh Điệp yếu đuối, lại có bệnh phổi nên trưng bình hàng năm thường đươc cấp cho thẻ Phụ Dịch, nghĩa là anh được hoãn theo định kỳ hàng năm

Năm 1960 cả gia đình ra Tuy Hòa, chỉ mình anh Sơn ở lại học tiếp và sau đó vào làm Ủy viên Thanh Niên Xã Tương Bình Hiệp Bình Dương thay vì đi lính. Anh Điệp theo gia đình ra Tuy Hòa. Anh tiếp tục giao du với người lớn tuổi, làm huynh trưởng ở Chùa Cát Tuy Hòa, và làm thơ lấy bút danh Thanh Lâm Trúc. Tôi cũng chỉ nhớ lõm bõm vài câu thơ của anh vì chiến nạn 1975 đã làm mất mát chẳng những quyển thơ anh:

Đời tôi ai ghét là thương
Ai vui là giận, ai hờn là căm
…………..
Thoát ly là giấc mộng vàng
Ra đi để lánh xa ngàn khổ đau

Anh Sơn thì khác, anh không làm thơ, nhưng thích chép thơ nhạc, nhưng là những thơ nhạc mạnh mẽ, yêu đời :

Hãy dừng lại những cung đàn ủy mị
Những lời ca thống thiết của lòng anh
Những vần thơ than cuộc sống mong manh
Nguồn cảm hứng dạt dào trong nước mắt
Anh thấy không kìa chân trời bát ngát
Sóng dạt dào hòa nhịp khúc hùng ca…

Hai quan niệm sống, nhưng hai anh vẫn sóng đôi trên trường đời. Năm 1964, sau vụ đảo chính ông Diệm, anh tôi vào lính, vì không còn được hoãn dịch nữa. Địa chỉ mới của anh là Trung Đoàn 41, Sư Đoàn 22 Bộ Binh.

Vắng anh Điệp nhà như mất một phần sinh khí. Con ngựa lùn ngộ nghĩnh của anh Quang Từ, bạn anh Sơn ở Trung Đoàn 47 cho, cũng đã được đem cho người khác. Má tôi dường như buồn hơn và bịnh nhiều hơn. Nhiều lúc nhìn không gian cô tịch của nhà, tôi chỉ muốn đi đâu cho khuây khỏa. Tuy Hòa thưở đó mênh mông đất trời, cư dân thưa thớt. Đi đâu một chút cũng chẳng vơi lòng, lại quay về với nỗi cô đơn của mình trong góc hẹp. Lâu lâu anh Sơn về, lại có dịp thao thức đến hai ba giờ sáng chờ tàu về để đón anh, cả nhà quay quần chuyện trò tới sáng, chừng như chúng tôi đang đón nhận món quà hậu hỉ của cuộc đời vốn chỉ mang đến nỗi chán chường.

Năm 1966, hay tin anh Sơn bị mất vì mìn trong lần dự lễ khánh thành trừơng Tiểu học Bưng Cầu tại xã Tương Bình Hiệp, Bình Dương. Gia đình tôi ở Nha trang không kịp về đưa tiễn anh lần cuối. Lẽ ra chúng tôi đã kịp dự đám cưới của anh vào tháng tới, vậy mà…

Sao anh xui tận mạng vậy anh Sơn. Ngày anh mất cũng chính là ngày sinh nhật lằn thứ 25 của anh, sinh và mất năm Ngọ, 24 tháng ba. Đám tang anh có 25 vòng hoa tươi, đúng con số mà anh ao ước trong một lần nói đến cái chết với Dì Tám trứơc đó không lâu. Anh thỏa nguyện rồi đó.

Ít có dịp anh Điệp về phép, nhưng mỗi lần về anh chỉ quanh quẩn ra vào nhà với má và chúng tôi, có lẽ anh cũng chỉ là người lữ hành cô độc ở đất Nha trang. Không bạn bè, không ký ức, tất cả những kỷ niệm của anh đang nằm nơi vùng đất khác.

Cuối tháng 3 năm 1969, lần cuối tôi gặp anh, Lúc đó là thời gian bận rộn nhất của tôi, liên tục thức ngày đêm để chuẩn bị Trại Họp Bạn Thanh Niên Hồng Thập Tự Toàn Quốc ở Đồi Lasan trong khuôn viên của Sơ Tập Viện Dòng LaSalle. Những cuộc chạy đua ngày đêm này làm tôi mất sức, gục ngã. Anh Điệp lăn xăn cạo gió, nặn chanh vào miệng vì cứ nghĩ là tôi trúng gió, Những ngày sau đó anh còn nhiều lần phải chăm sóc tôi, đó là lần sau cùng tôi gần gũi anh. Cuối năm đó, đến lượt tôi cũng tập tành làm người lính như anh: “học máy bay đổ bộ, học bắn phá núi rừng, học đánh giày nhổ cỏ, làm tên lính Việt nam….” (Phạm Thế Mỹ, Hỡi hồn mẹ Việt Nam). Hơn bốn tháng sau khi còn trong giai đoạn Tân khóa sinh trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi hay tin anh mất, trong một lần bị phục kích đoàn xe tại Đèo Nhông Phù Mỹ Bình Định, ngày 8 tháng 4 năm 1970, thâm niên quân ngũ 5 năm 5 tháng 5 ngày. Nơi anh nằm là Nghĩa Trang Ghềnh Ráng, gần nơi an nghỉ của thi sĩ Hàn Mặc Tử, chắc anh cũng an ủi được một phần.

Qua cơn biến loạn, gia đình bềnh bồng theo mệnh nước, cố gắng bương chải để tồn sinh, có nhớ đến anh cũng chỉ tắc lưỡi, ngậm ngùi vì thời gian đó cải táng anh là một điều xa xỉ chưa thể mơ tới được. Xa trên 650km chắc anh cũng cố cảm thông với tụi em…

35 năm sau ngày anh mất, Tuyết Đông có nhờ anh bà con bên chồng là Võ Hồng Sơn tìm giúp. Anh Võ Hồng Sơn là người sau này chúng tôi phải mang ơn anh rất nhiều trong việc tìm lại mộ anh Điệp để quy hồi cô hương.

Anh Võ Hồng Sơn đến nghĩa trang Ghềnh Ráng, một nghĩa trang Quân Đội chỉ còn trên danh nghĩa, thật tế nó đang biến thành rừng giữa những ngôi mộ hoang phế điêu tàn. Hai ngày lang thang trong Nghĩa trang, anh Sơn đành thúc thủ, không thể tìm thấy mộ anh Điệp giữa đám rừng tràm đó. Mọi dự tính của gia đình phải dừng lại chờ dịp khác

Lại hai năm trôi đi, Tuyết Đông hay tin Nghĩa trang Ghềnh Ráng chuẩn bị giải tỏa, vội báo cả nhà. Lại phải nhờ anh Võ Hồng Sơn cố gắng thêm một lần nữa, lần này không thể trễ hơn nữa. Chúng tôi hỏi thăm thủ tục, chuẩn bị mọi thứ cần thiết và chờ tin Sơn.

Trưa hôm ấy Sơn gọi điện về báo đã tìm ra mộ anh Điệp. Chúng tôi vui mừng khôn xiết và xem như đó là lần anh linh ứng đầu tiên sau 37 năm lưu lạc. Anh Sơn kể anh đi vòng quanh khu nghĩa trang 3 lần, lần nào cũng ngồi nghỉ dưới tàng một cây râm mát. Lần thứ 3 anh khấn thầm trong mệt mõi : “Chú có linh thiêng cho nhà biết nơi an nghỉ để về xum họp với gia đình”. Nói xong Sơn nhìn phía trước mặt, thấy thấp thoáng một tấm bia đã nghiêng sát mặt đất, nếu đứng nhìn chưa chắc thấy nó. Sơn bước tới hú họa lật xem. Bia đề tên ĐẶNG NGỌC ĐIỆP SQ 60/104555 TĐ1/41 SĐ 22BB. Chẳng những vậy, có đến hai tấm bia của anh. Sau này tôi mới biết Ba và chị Hà có làm thêm cho anh 1 tấm bia vì tấm bia của quân đội khi chôn cất chưa dựng kịp, nên lúc Ba và chị Hà ra thấy vậy mới đặt làm bia cho anh. Anh Sơn lạnh cả người, vội báo ngay tin mừng cho Đông. Chúng tôi quyết định đi ngay sáng hôm sau ra Qui Nhơn

Ngoài chị Hà phải ở nhà săn sóc Má, Chị Phượng, Anh Lộc, Oanh, Được, Đông, tôi và Hạnh đều có mặt trong chuyến đi này.

Khi ra đến Qui Nhơn trời cũng vừa tối. Anh Sơn đón chúng tôi, đưa đi ăn, sau đó cùng ra Ghềnh Ráng ngay, đêm đó chúng tôi ngủ tại nhà nghỉ cách nghĩa trang mươi cây số. Anh Lộc, Được và tôi một phòng. Nhóm các bà một phòng. Hai phòng đối diện nhau qua một hàng lang khoảng 10m.

Bên phòng tôi chẳng ai ngủ được. Nửa đêm nghe tiếng nước mở trong toilet, vào chẳng thấy ai, tắt nước đi nằm tiếp tục chờ sáng.

Sáng tinh sương mở cửa qua phòng mấy bà mới hay chuyện đêm qua:

Giữa đêm bỗng có tiếng chuông cửa reng một hồi rộn ràng. Tuyết Đông ngỡ phòng bên chúng tôi goi chuẩn bị đi nên nói to: “Dạ, có em”, bật dậy mở cửa phòng. Nhìn ra tối om om, ngó dưới reception cũng tối lặng như tờ. Lòng hơi sợ, vào đóng cửa phòng, trong phòng cũng chưa ai ngủ cả. Một lát sau lại một hồi chuông dài. Lần này Đông khấn thầm: “Anh Điệp đừng chọc út Đông nữa để tụi em nghỉ mai còn ra đưa anh về nhà nữa. Anh từ giã bạn bè đi rồi mai về với tụi em.” Một lúc không lâu một tiếng chuông nhỏ, ngắn ngủn rồi im bặt tới sáng.

Rạng sáng 19-5-2007 sau khi ăn sáng qua loa, chúng tôi lên đường theo sự hướng dẫn của anh Võ Hồng Sơn. Tháp tùng là hai người dáng trung niên do anh Sơn giới thiệu để phụ việc bốc dở mộ. Xe vừa ra đường mưa lất phất nhẹ rơi. Tháng này chẳng phải mùa mưa.

Chỉ khoảng hơn mười phút sau chúng tôi đến Ghềnh Ráng. Đứng trên đèo nhìn vào Ghềnh Ráng thật hữu tình, Một bên rừng núi, một bên biển rộng, giữa là thung lũng thơ mộng. Chẳng trách gì Hàn Mặc Tử chọn làm nơi gởi thân để tha hồ đùa vui với trăng thanh gió mát sóng biển dạt dào. Cũng chẳng trách gì người đời nay thèm muốn quy hoạch nó, chỉ mong bứng cái nghĩa trang quân đội hoang phế đến tội nghiệp kia, thay vào là khu du lịch ăn chơi hoành tráng. Rồi đây sẽ có ca nhạc du dương, ly cụng thâu đêm, tiếng cười rộn rã bên những hồn oan vất vưỡng lang thang giữa đại ngàn mê ly đó.

Chỉ cần qua khỏi cái cổng chào Khu Phố ‘văn hóa’ Ghềnh Ráng một chút thôi, khoảng 300m chúng tôi bắt đầu lạc vào mê cung của mộ địa và cây cối um tùm, Nghĩa trang đây sao, chữ nghĩa nghe sao thấy tội nghiệp, đó đây một vài lỗ huyệt trống của những người lính may mắn có thân nhân tìm đến bốc mang đi cải táng, nhưng đó chỉ là số ít. Phần lớn vẫn tiếp tục nép mình hiu quạnh dưới những tàng cây um tùm chuẩn bị nuốt chững những hồn oan cô quạnh đó. Tôi lang thang thắp nhang các ngôi mồ hiu hắt, mộ sĩ quan xen lẫn binh sĩ, tôi đọc từng bia mộ với sự bùi ngùi. Tôi bỗng thương cho anh Điệp hẩm hiu 37 năm không chút khói nhang.

Vào sâu trong khu dân cư hỏi thăm, người ta nói nghĩa trang này không có quản lý, ai muốn bốc thì tự làm thôi. Nghe thật đơn giản nhưng ngẫm cũng xót xa. Dù sao cũng cùng một kiếp người….

Được Độc Lập Tự Lo thì cũng mừng thôi, chẳng sợ ai quấy rầy. Đến nơi an nghỉ của anh dọn dẹp phát quang ra, bốn đường viền bằng ciment còn nguyên vẹn, duy mộ đã bằng phẳng theo thời gian. Tôi đào chân bia kéo lại thẳng thớm, thầm nói với anh “Đừng trách tụi em nghe, những năm qua tụi em cũng không vui sướng gì hơn anh đâu.” Thắp hương vái anh mà lòng rưng rưng nghĩ đến cả cuộc đời anh, chỉ là nỗi cô độc thôi. Một vài tháng nữa giải ngũ rồi mà anh cũng không níu kéo được với dây định mệnh oan nghiệt. Thôi, dù sao lát nữa anh em mình cũng về cùng nhau thăm má.

Chúng tôi chờ. Chờ anh hiện ra sau 37 năm dưới lòng đất lạnh. Đất cát pha nên công việc bốc mộ cũng thuận lợi. Đào khoảng hơn 1 mét lác đác vài mảnh gỗ quan đã nát, thêm sâu một chút nữa bắt đầu lộ poncho trộn lẫn rễ cây cắm tua tủa vào mảnh nhựa. Chỉ thấy những màu mờ đen có lẽ từ thịt da anh, lọc dần ra được một số mảnh xương đầu, hai xương ống cũng không toàn vẹn, mỗi thứ một chút. Tôi cố tìm tấm thẻ bài của anh, nhưng hoài công, có lẽ sức công phá của mìn đã mang đi rồi. Thật hoài công để nhìn lại anh, chỉ có thể nhìn rõ chiến tranh tàn nhẫn như thế nào mà thôi.

Cốt còn lại ít ỏi của anh, chúng tôi thiêu tại chỗ bằng những dụng cụ mang theo. Tất cả chất vào chưa đầy một hủ cốt.

Việc đầu tiên trước khi quay về là ghé Tây Sơn thăm gia đình anh Sơn, cũng để nhớ những sự giúp đỡ nhiệt tình của anh và gia đình suốt thời gian qua. Gia đình Sơn thật đáng mến. Ba của Sơn tu tại gia, trong bộ nâu sòng ông dẫn chúng tôi ra sau nhà thăm nơi ông tưởng niệm vợ ông. Thật ngạc nhiên, như một lăng tẩm thu nhỏ. Ông đã bỏ công sức tự tạc tượng người vợ thân yêu với dáng vẻ thật dịu dàng, những trang trí cũng thật đặc biệt. Đáng nói là ông chưa từng có kinh nghiệm nào trong lãnh vực đó. Người chân tình như vậy chẳng trách những người con cũng tuyệt vời như thế. Cám ơn gia đình và anh nghe anh Sơn, anh Võ Hồng Sơn.

Chúng tôi cùng anh về lại Nhatrang ngay chiều hôm đó. Nghỉ đêm ở nhà tôi, tất cả cũng mệt mỏi cả rồi. Trên đường anh đi cờ hoa rực đường phố. Nhớ lại hôm nay ngày 19-5, ngày anh lính cựu về lại quê nhà.

Ngày hôm sau về nhà ba má ở Thủ Đức, 5 giờ chiều chúng tôi về đến. Trời đang nắng bỗng lại một cơn mưa nhè nhẹ, bước vào sân đặt cốt lên bàn, trời lại nắng ran. Mừng nhau một chút đó mà. Chị Hà đã chuẩn bị sẳn bàn ngoài hiên cùng nhang đèn, phẩm vật, các cháu cũng đã về trước đó. Má tôi ngồi cạnh bàn thờ mắt dõi xa xăm. Chắc má cũng mừng lắm nhưng nước mắt tuổi già kiếm đâu ra để khóc mừng ngày trùng phùng này.

Anh ở với má một đêm, sáng hôm sau Được, chồng của em Hồng Oanh, lo thủ tục cho anh về nhập Tháp ở Nghĩa Trang Hội Đồng Hương, chùa Quảng Bình, Gò Dưa, Bình Dương. Nơi đây cũng là nơi an nghỉ của ba tôi, và sau này là Má và anh Sơn. Hôm nay là ngày Phật Đản 08-4, mong anh được siêu thoát.

Đặng Châu Long
26-03-2014
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.