Hồ Đình Nghiêm
30 tháng Tư, trên trang Sáng Tạo, hiển thị bài thơ “Thơ Việt đi về đâu” của Chân Phương, gửi từ Boston. Cuối bài, sau những ngắt đoạn với nhiều dấu hỏi, tác giả kết thúc bằng hàng chữ: “ba mươi chín năm sau ngày thống nhất”.
39 năm. Dài? Ngắn? Nhìn lui, cảnh quang vẵn thuỷ chung ảm đạm, giông bão xác xơ, xám ngoét khung trời mê thiếp chẳng hoen ố chút nắng quái chiều tà. Tác giả vẽ ra một hiện thực mà khi ngó thấy, buộc người đọc băn khoăn: Điều gì đã hãm hại chúng ta, trở nên dửng dưng khi đối mặt với những vấn nạn? Câm lặng bước, chân đi tù túng. Sống chung hoà bình cùng ngược ngạo dù biết đôi khi, phương châm “dĩ hoà vi quý” chẳng hề là lời vàng ngọc.
Martin Luther King từng phát biểu: “Nếu không bay được thì bạn hãy chạy, chạy chẳng xong thì hãy đi, đi hổng nổi thì bò lê bò càng. Dẫu bằng phương cách nào chăng nữa thì bạn cần phải tiến tới trước”. Người Việt hơi bị ù lì? Bất di bất dịch? Trong vạn nỗi bức xúc có vọng lên tiếng than van: Cái dân tộc gì mà khi thua một trận bóng đá thì rồ dại sôi máu tự ái dân tộc đồng thời lại xô đẩy nhau lột truồng ra cho người nước lạ lựa chọn mua về làm vợ, kẻ hầu người hạ hoặc thế cho một món đồ chơi giá rất bèo!
Thơ Việt đi về đâu? “Người về ta chẳng cho về, ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”. Tình huống nọ, muốn đi, e phải cởi áo để lại hiện trường. Hoặc cứ liều mạng bước tới mặc cho xiêm y toe tua bạo lực trấn lột rồi về nhà dối mẹ rằng thì là qua cầu va vấp cùng cơ man gió chướng lộng thổi “trút quần phong nhuỵ cho tà huy bay”. Hú hồn!
Thơ Việt đi về đâu? Không về đâu cả, do bận rộn với chữ hiếu oằn thân. Lu bu cõng mẹ lộn vô đụng phải cột nhà cõng mẹ trở ra. Chỉ vậy thôi, loay hoay đã hết ngày. Và đêm về, lặng lẽ ngồi rình bên bụi môn, chờ cho trăng lặn… để gieo sai vần câu lục bát:
“Thu Ba ca ngợi Thu Bồn
Thu Bồn thích chí sờ vai Thu Ba”.
Thơ Việt đi về đâu? Cõng cái công án siêu nặng ấy thử tìm gặp kỹ sư Đỗ Minh Xuân xem ông ấy giả nhời thế nào. Là ai thế? Tai to mặt lớn nào? Ấy, chả nhẽ đồng chí lại chẳng tường tên tuổi Đỗ Minh Xuân? Người có công trạng nhuận sắc, sửa đổi tác phẩm văn học của tiền nhân, in thành sách dưới nhan đề “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” (NXB Văn Hoá Thông Tin 2012). Ai đó cắc cớ nhẫm tính, rằng “trăm năm trong cõi người ta, đương sự ngứa tay sửa một phần ba” tác phẩm thi ca đồ sộ nọ. Nguyễn Du e chẳng ngậm cười nơi chín suối! Đơn cử một vài:
1. “Lạ gì bỉ sắc tư phong” biến dạng thành “Mỗi người thứ có thứ không”.
2. “Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi-Trương” sửa thành “Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang”.
3. “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương” hoá thân “Chưa xong điều nghĩ đã chào vừng dương”.
4. “Trộm nghe thơm nức hương lân / Buồng đào nơi tạm khoá xuân hai Kiều”. Câu tám dị bản này có người bình: Nghe như hai Kiều là chân dài liên hệ tới đường dây môi giới bán dâm bị công an phát hiện, nhốt tù nhập kho.
Có đau đớn lòng, khi đọc phải bản tin này: Việt Nam mất 51 năm mới theo kịp Indonesia, 95 năm để theo kịp Thái Lan, 158 năm tụt hậu so với Singapore. (Theo báo cáo của ngân hàng thế giới tính theo mức thu nhập mỗi đầu người năm 2009).
Ông Winston Churchill nhắn nhủ hậu thế: “Bạn không đời nào nhìn ra đích tới nếu bạn cứ phải dừng lại để ném những hòn đá vào mỗi một tiếng chó sủa”. Hãy thử dừng lại để gợn lòng trong giây phút: Vậy chứ những nàng Kiều tân thời từng sắp hàng cởi áo thách đố số mệnh ấy đã đi về đâu? Chốn đó có mồ Đạm Tiên? Có sông Tiền Đường?
Nàng thì dặm khách xa xăm
bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây
vi lô san sát hơi may
một trời thu để riêng ai một người
dặm khuya ngất tạnh mù khơi
thấy trăng mà thẹn những lời non sông.
Đấy là dăm câu trong truyện Kiều chưa bị cạo sửa. Đọc mà chảy nước mắt! Thơ, cũ, mới, siêu thực, hậu hiện đại, đương đại… nói dại mồm thức ấy, nói chung là khó nuốt. Thơ, tự hồi nào tới giờ là món khó chơi nhất trong thập bát bang võ nghệ, vậy mà kỳ ảo thay, Thi-ca-môn luôn đông đảo nhiệt náo cảnh tử sĩ vác lều chõng vô ra. Rậm rật. Loạn ngôn. Chóng mặt. Gióng lời thề: Không thành danh quyết không về ngồi lại bên giòng sông thơ mộng cũ.
Văn xuôi dễ ăn hơn nhiều vậy mà hàng quán ấy ế ẩm thưa dần khách vãng lai. Những đứa chuyên ghi sổ (nợ đời) lần hồi quỵt nợ. Dài quá, làm biếng viết. Lê thê, người đọc e mỏi mắt, chả mặn mà hứng thú lần theo chương hồi từ râu ông nọ chuyển nhượng sang cằm bà kia. Nói chung là lao động vất vả mà chẳng xơi được cái giải gì. Chán ốm!
Mới đây, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có tâm sự: “… Viết thế thôi, viết nữa bọn trẻ nó thấy mình nó ghét… Tuổi tôi giờ là tuổi vứt đi, 65 rồi, giờ ngồi nhà lo dăm ba việc gia đình và trông cháu, tóm lại là chờ chết!”.
Sau đó không lâu, tới phiên Nguyễn Quang Lập cũng quyết định thôi viết. Nhà văn xứ Quảng Bình vừa tròn 58 tuổi, tự nhận “đã quá già”. Già thì nên buông bỏ để rong chơi, nên lánh xa tập thể để mưu cầu hạnh phúc cá nhân, dẫu nhỏ bé cho thứ tự do ấy.
Nhà thơ hầu như chưa thấy ai rảnh để tìm lấy gương tự soi dung mạo. Ta chưa già, chớ ép uổng ta ăn tiền hưu trí. Cứ còn nước còn tát và xin em nhớ cho thơ thẩn vốn là thứ đầm lầy khó bề khô cạn.
ta về ta tắm ao ta
dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn
Cái ấy không là thơ thì gọi là gì? Hay là chiêu trò khuyến mãi tiếp thị của một tập đoàn quảng cáo du lịch giá rất mềm. Rằng anh có đi bốn phương ta bà, mỏi gối chồn chân anh mới chứng nghiệm ra: Chẳng có nơi nào đẹp khủng bằng quê hương mình!
Quê hương có triệu người vui có triệu người buồn. Có chín chục triệu linh hồn chưa nhìn ra tự do dân chủ. Và quê hương ấy luôn cấy trồng thứ tinh thần lạc quan: Trong đội ngũ đông đảo chúng ta, tất cả mỗi thành viên đều là một nhà thơ. “Thằng ấy tuy nó là nhà thơ, nhưng mà nó tốt!”.
Nay ở trong thơ nên có thép
Là vàng giả nên tôi sợ lửa reo.
Thơ Việt đi về đâu? Tôi lấy tư cách gì để ngộ ra, hử!
Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Tác giả gửi



















