Kiệt Tấn, con người chịu chơi

Posted: 30/09/2014 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Đặng Châu Long
Thẻ:

Đặng Châu Long

kiet_tan
Nhà văn Kiệt Tấn

“Thiên đàng là cõi tột cùng nghiêm chỉnh nên… cấm cười. Buồn chết luôn! Buồn thúi ruột! Buồn tàn canh gió lạnh. Buồn mút mùa … lệ thuỷ. Mặc cho bất cứ thằng nào nó có cù đến mỏi cả tay cũng… chả chịu cười! Nhất định quạu đeo và nghiêm chỉnh dài dài, dài dài… Bất tận”. (Kiệt Tấn, Sự đời, nghĩ lai rai 19)

Gặp gỡ anh Kiệt Tấn và nghe anh tâm sự cùng mọi người thật đơn sơ. Việc đời dường đến với anh như một cơn gió thoảng, hiu hiu cho mát một chút và không cần e dè. Chỉ một câu chuyện nhỏ thuở học làm thơ cùng cô giáo đã thấy cái hóm hỉnh của anh. “Bận nọ trong lớp học, để dạy cho học trò mình làm thơ, cô giáo đương cử ra một thí dụ: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Chữ veo với chữ teo đều thuộc vần eo. Làm thơ cốt nhứt là phải có vần, các em hiểu chưa?” “Dạ hiểu!” Thực tập. Trò thứ nhứt, cũng cảm đề từ cái ao: “Trong một cái ao cóc / Em thấy bơi lội một bầy cá lóc”. Cũng được. Trò thứ hai, cũng lại cái ao: “Trong một cái ao ếch / Em ngó hoài hổng thấy gì hết”. Không hay lắm, nhưng mà có vần, thôi cũng được. Trò thứ ba, cũng vẫn cái ao: “Trong một cái ao nhái / Em bước xuống nước lên tới…” Tới đây em nhỏ bỗng nhợn, bèn nhỏ bước ngập ngừng: “lên tới…, lên tới…” Cô giáo sốt ruột lên tiếng thúc giục: “Nước lên tới đâu em?” “Dạ… dạ… Trong một cái ao nhái / Em bước xuống nước lên tới… đầu gối” Cô tức quá đập thước cây xuống bàn: “Bộ em không thể nào rán thêm một chút nữa cho nó có vần hay sao?” “Dạ thưa cô… thưa cô… em cũng rán lắm, nhưng mà ngặt vì ao nước nó cạn quá!” Và không biết sau đó cô giáo đã hiểu thấu câu thơ “ý tại ngôn ngoại” của anh chưa.

Cách nói chuyện như không của anh làm tôi mường tượng đến công án của những thiền sư đắc đạo. Những câu trả lời luôn là một bất ngờ choáng váng cho người hỏi. Những chủ trương, định kiến của thế gian luôn bị gác bỏ ngoài lề.

“Khi viết về miền Nam ruộng đồng mút mắt, sông nước tư bề, khi viết về những người bình dân sống nơi miền đất này mà không có hò hát, không có ca dao, tôi nghĩ là một thiếu sót lớn. Hò hát và ca dao tạo được bầu không khí quê mùa cho truyện viết, cũng hợp tình hợp cảnh lắm chớ. Nên lắm! Ngoài ra, khi còn đi học, đôi khi tôi còn dùng ca dao để chim gái, như dụ dỗ cô Hoa trong “Bến đò trao thơ” khiến cho cô xiêu lòng mà trao duyên cùng tướng cướp: “Hãy thề với anh hết miễu qua chùa, Ai cho anh uống thuốc bùa anh mê?” Rụng rún chưa em Hai?” (Phỏng vấn Kiệt Tấn, Phan Thị Trọng Tuyến, Đặng Mai Lan thực hiện)

Cái làm tôi rụng rún với anh Kiệt Tấn là tính u mặc trong từng câu chuyện nhỏ cùa anh. Khi anh ngồi cùng trò chuyện thân mật với nhóm Quán Văn, tôi hỏi thăm anh về tuổi tác, anh cười và nói “mười hai con giáp tôi không giống con nào, mang tiếng tuổi mèo nhưng mặt lại giống chó”. Thảo nào anh độc lập quá, cứ thanh thản quan sát đời, yêu ghét rạch ròi, chẳng ai tác động được anh.

Cái làm tôi rụng rún với anh Kiệt Tấn là sự quá nhạy cảm của anh với những mảng đời bất hạnh. Mỗi lần nhắc tới những cụ già đi nhặt bao nylon, những bà già đi bán đậu phọng là “nước mắt anh chảy dài, anh ôm mặt khóc dù trước mặt anh là những người cùng viết văn như anh hoặc khi anh kể lại cho các bạn nghe cảnh con gấu lăn lộn, đau đớn, rống lên những tiếng thảm thiết khi bị loài người lấy mật, anh nghẹn ngào xuống giọng: Con người sao ác quá! Anh khóc ngon lành. Chị Ánh phải vỗ về anh, như đã từng làm thế”. (Nguyên Minh, Sông Seine và tôi). Tấm lòng hòa điệu cùng đời của anh mới chơn chất làm sao.

Cái làm tôi rụng rún với anh Kiệt Tấn về cách hành văn của anh như múa gậy vườn không, chạm vào những chuyện thân xác như nói tới mây bay gió thoảng thường tình thế sự: “Cái gì anh cũng ngó, cũng mó, cũng sờ, cũng nếm tuốt tuột. Ừ, dê dễ sợ: anh cầm cái bông bưởi, anh hửi cái bông hồng, anh bồng cái bông cúc, anh hít cái bông mai, anh liếm luôn bông lys… Chẳng còn chi là đoá hoa thành thị/ núi rừng/vương giả! Chẳng lẽ với đàn bà anh luôn “phàm tục” như vậy sao? Chuyện tình của anh chóng vánh đi đến… đỉnh cao xác thịt, phải chăng anh cố ý bỏ quên phần… trái tim? Trái tim thì rất khó sờ mó! Bởi cách một lớp thịt mỡ)”. (KT, Đưa hai tay lên trời

Anh như cánh chim chon von trên đỉnh tuyệt mù buông mình thả rơi tự do giữa trời lồng lộng gió để đột ngột lao mình lên đâm vỡ tầng mây cao vút – một mình – cánh chim tự biết xoay sở mình giữa muôn chiều gió lộng

Những ngôn từ đơn giản trong văn anh pha trộn những phương ngữ đã từ mấy mươi năm không còn gặp lại: Mẹ rượt, bú tí, nâng bi, mút mùa lệ thủy, trật đường rầy, chằn ăn trăn quấn, tưới hột sen, nhằm nhò gì đâu ba cái lẻ tẻ, cù lần….

Trong truyện ngắn Tết dồi, tả lồ lên coi chơi đã kéo ta ngược về ký ức tuổi thơ, mê mẫn xem sơn đông mãi võ ở khu đất trống nào đó cạnh chợ đông. Những tay quảng cáo vừa bán thuốc, vừa ba hoa đủ thứ chuyện đời, thỉnh thoảng nhắc nhở “tả lồ lên”, tiếng phèng, tiếng trống lại dồn dập rộ lên kích thích trí tò mò của khách qua đường gần xa. Câu chuyện xưa nay vẫn cứ đan xen như một niềm nhớ không rời kèm theo những hóm hỉnh sẵn có trong anh: “ở đất Bắc còn cày bằng trâu. Con trâu kéo cày quanh quẩn trong khăn mu xoa, đi dăm phút đã về chốn cũ. Thấy tôi mỉm cười, Tùng hỏi tôi trong Nam có trâu cày không chú. Tôi đáp trong Nam con trâu chỉ chắp tay sau đít đi tới đi lui trên bờ đê ngó chừng ông chủ đẩy cày máy và cho điểm ghi công. Khi nào trời nắng gắt quá, thanh tra lao động bèn lui vào lùm tre nằm nhơi cỏ hoặc đánh giấc bên đồi dạ lan. Cụ nằm cụ nghỉ cụ xơi.. thuốc lào. Khỏe re! Nhẹ nhàng, hân hoan, thơ thới. Ai dám bảo “chăn trâu là khổ”? ( Kiệt Tấn, Tết dồi! Tả lồ lên coi chơi!)

Những mẫu chuyện khóc, cười, hí lộng cùng đời của anh Kiệt Tấn phơi bày ra ngập tràn từng tác phẩm, nhưng có vẻ tất cả nỗi lòng anh chỉ trải hết trong Thơ điên cùng Sự đời. Những câu văn viết ngắn như từng chiêm nghiệm hàng ngày, những câu thơ viết ra khi muốn cô đọng nỗi niềm, có một Kiệt Tấn như vậy khi lắng đọng cùng đời:

lận lưng ồ sót chiếc nem
nhớ ra mình đã gặp em chợ chiều
lá chùm ruột nem lái thiêu
tặng ta ta tưởng em yêu thằng khùng
làm thơ lục bát ngũ cung
đáp tình em đã thủy chung bất ngờ
ngó sen dài mút cọng tơ
giăng lên lục bát thành thơ ái tình
uống say ta uống một mình
trong tim chợt nở thình lình đóa sen
ngày mai ghé chợ biếu em
thương ta em hãy sen đem cúng chùa

(Kiệt Tấn, Lục bát điên, khúc 103)

về đây chiều lắng buông rơi
về đây ngơ ngác chim trời khuất mây
về đây đâu phút sum vầy
về đây sông nhỏ ngất ngây lặng lờ
về đây bụi loãng bơ vơ
về đường đất bây giờ đá xanh
về đây chân bước không đành
về đây hiền hậu một vành trăng xưa
về đây kẽo kẹt tre đưa
về đây rào khép ngọn dừa quạnh hiu
về đây dạ lý tiêu điều
về đây đâu nữa yêu kiều áo bay
về đây ta lại về đây
về đây mây trắng trôi hoài ngàn năm
về đây hoàng hạc mất tăm
về đây lặng đứng âm thầm chốn xưa

(Kiệt Tấn, Lục bát điên, khúc 82)

yết yết yết đế ba la
sang bờ bên ấy gọi là tới chưa
bát nhã ngóng đợi đò đưa
bờ này bờ nọ trời mưa xóa nhòa
như lai thiền trụ một tòa
ngó hào quang tỏa chóa lòa thấy chi
chấp tay mà niệm mâu ni
cái thân giả tướng có gì được chăng

(Kiệt Tấn, Lục bát điên, khúc 68)

Những câu chuyện của Sự đời của anh tổng hợp hết những thất tình lục dục của cõi sống, như một cái kho tạp nham thế sự. Khi ta đọc qua, có thể sẽ chuyển từ trạng thái cười qua trạng thái ngậm ngùi. Cũng chẳng sao, Trời đất vô cùng một cuộc say và ta có thể tung tăng dõi theo anh qua từng trạng thái:

“Từ hồi xưa tới giờ bần tăng chưa hề được đọc một quyển sách ngoại ngữ nào hết (!) Vì vậy, để giảm bớt được phần nào cái tình trạng lạc hậu kinh niên, bần tăng bèn lấy quyết định “đổi mới tư duy”, và đồng thời “cách tân” ngòi bút của mình ngõ hầu theo kịp nhịp đập của con tim văn chương quốc tế. Ông Proust viết Đi tìm thời gian đã mất thì bần tăng viết “Đi kiếm không gian vẫn còn”. Ông Hemingway viết Ngư ông và biển cả thì bần tăng viết “Ngư bà và cái ao rất cạn”. Ông Faulkner viết Âm thanh và cuồng nộ thì bần tăng viết “Im lặng là vàng” (quyển 1) và “Nín khe mà nằm vùng” (quyển 2). Ông Gide viết Khung cửa hẹp thì bần tăng viết “Cửa sổ rộng”. Ông Steinbeck viết Của chuột và người thì bần tăng viết “ Của mèo và khỉ đột”. Người ta viết dâm thư “Funny hill” thì bần tăng viết “Phanh neo heo”. Và còn hứa hẹn nhiều sáng tác tân kỳ, tình dục “táo bạo trâng tráo” khác nữa trong một tương lai gần xịt, ngõ hầu giảm bớt được phần nào cái tệ trạng lạc hậu kinh niên của mình.” (Kiệt Tấn, Sự đời, 8)

Anh nghĩ lai rai: “Từ chỗ thấp hèn nhứt cho tới chỗ cao cả nhứt, từ chỗ phàm tục nhứt cho tới chỗ thiêng liêng nhứt, con người lúc nào cũng chạy theo những hoang tưởng không dứt”. nhưng cái lai rai của anh chẳng thể cười. Sự đời vốn dĩ là vậy, những mặt nạ vẫn được quá nhiều người ưa chuộng, những sắc màu ta thấy được chẳng phải là sự thật vốn dĩ nó tồn tại :

“Một điều hiển nhiên: bộ mặt đạo đức giả bao giờ cũng phết lên mình một lớp sơn nghiêm chỉnh. Ai không đồng ý điểm này xin hãy thay bộ đồ lớn, thắt cà vạt đen, giơ cao tay lên và đứng dậy bước lên bục gỗ lớn tiếng phản đối… một cách nghiêm chỉnh! Một cách nghiêm chỉnh, please! S’il vous plaît! Yakitori! Phần tôi, tôi xin được phép bận xà lỏn rằn, ngồi tại chỗ, giơ cao tay lên và đứng dậy… dết toa lô, dô toa lết. Sorry! Désolé! Hara kiri! ” (Phỏng vấn Kiệt Tấn, Phan Thị Trọng Tuyến, Đặng Mai Lan thực hiện)

75 tuổi đời, Kiệt Tấn vẫn còn lai rai phương ngoại, vẫn còn hí lộng cùng trời cuối đất, thật đáng mừng cho anh. Cuộc chơi đang còn dài và Kiệt Tấn vẫn còn dư sức cười ruồi cùng mọi hỉ nộ ái ố vẫn đang diễn bên tấn tuồng đời :

“túc lên một tiếng tù và
gọi hồn kiệt trụ gọi ma xứ hời
về đây sấp ngửa cuộc chơi
ta ôm núi đá một đời quàng xiêng”

(Kiệt Tấn, Hổng giống ai)

Đặng Châu Long
31-08-2014
Nguồn: Tác giả gửi bài và ảnh

Đã đóng bình luận.