Ngày về chạnh nỗi bùi ngùi

Posted: 03/11/2015 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Đặng Châu Long

Đặng Châu Long

tu_cai_tao_lam_ray

Tháng mười lạnh lẽo những cơn mưa dầm dề. Quanh đồng lúa, ruộng rẫy phả một màu xám buồn ẩm ướt. Thạch Thành những ngày đầu tháng mười 1981 lại là những ngày mong chờ. Chúng tôi vừa kết thúc ngày lao động trồng chuối dọc theo hai bên đường vào trại, để gọi là lưu niệm. Tiếng lưu niệm thật mỹ miều dễ thương làm sao, nhưng chẳng ai trong tôi lưu luyến gì nơi này dù đã trài qua gần bốn năm buồn cùng nó, vui cùng bạn và ngày ngày cuốc rựa đi khắp mấy trăm hectare ruộng rẫy cuốc cày đạp sình lầy bàu sen, hoặc lên núi chặt cây đốn củi vác về. Được cho về, lòng chẳng buồn chẳng vui vì trước mắt như một màn u tối. Ở để hy vọng về, nghe về lại lo nghĩ, rồi sẽ thế nào ngày tháng tới. Một mông lung mù mịt.

Tháng trước, chúng tôi chia tay các anh Hùng, Lai, Tường, họ là những anh em thân thiết từ nhiều đội. Chỉ buổi chiều chúng tôi mới lại quây quần cùng nhau bên lon guigoz nước trà, nước tóc tiên, hay rau má khô, lá ngón vàng, hay bất kỳ thứ gì chúng tôi hái được trên đường đi làm hàng ngày. Cứ thế qua đi ngày tháng tận.

Ngày ở đây rất dài đêm rất ngắn
Mưa bất thường nắng cũng u minh
Anh tính tháng ngày đo theo râu tóc
Nhưng tháng ngày rồi cũng nhớ cũng quên

(Nguyễn Vô Cùng)

Anh Nguyễn Thế Hùng là người anh nhiều tuổi nhất trong nhóm. Nguyễn Hữu Ninh và tôi suýt soát tuổi nhau, Chiến là em út. Trước ngày các anh về, tôi cẩn thận dán bản nhạc Hoa ngõ Hạnh vào trong thùng đàn guitar của anh Hùng, với lời nhắn anh ghé nhà, gặp gia đình tôi và hát cho họ nghe bài thơ tôi viết, phổ lại nhạc từ anh Nguyên K. Anh đã thực hiện lời hứa chẳng những tôi, mà còn ghé lại tất cả nhà của anh em trong nhóm, ca lại những bài quen thuộc của chúng tôi cho từng nhà nghe. Con út tôi, cháu Vinh, ngày tôi ra đi cháu chỉ vừa ba tháng tuổi, khi gặp anh Hùng cứ ôm lấy và gọi “Ba, ba”. Tôi nghe kể lại mà buồn nẫu ruột.

Và bây giờ chúng tôi về. Tất cả anh em tôi về. Chúng tôi bỏ lại tất cả hành trang cho các anh em còn ở lại. Riêng tôi giữ cho mình chiếc áo vá “bách nạp” như để răn mình chớ quên những tháng năm qua.

Lãnh giấy ra, nhận tiền tàu xe, ra khỏi cổng, chúng tôi rảo bước như tránh một sự xui rủi bất tường nào đó phải quay vào trại vì một lý do vu vơ. Một số còn tránh đường chính, băng đồng ruộng mà đi. Ôi con chim đã biết sợ cành cong.

Chúng tôi, mười mấy đứa bước qua cây cầu gỗ cuối cùng của trại, băng qua đường Thạch Thành làm chút ân tình lần cuối, ghé nhà bạn Tịnh vừa ra trại tháng qua, thăm lần chót trước khi trở lại đời riêng. Chỉ một tách trà sao nghe đủ vị bùi ngùi pha trọn kỷ niệm buồn vui lận đận thế gian. “Bao năm tù ngục cũng là vui/Tóc xanh nay đã chớm bạc rồi…”, nhớ chăng.

Một chiếc xe lam cũ kỹ đưa chúng tôi về Tuy Hòa giữa trưa. Xe chạy qua cầu Đà Rằng. Hai chiếc cầu sắt và ciment dài nằm vắt qua con sông giòng lơ lững làm tôi nhớ những bận rong chơi tắm sông, đùa vui trên những cồn cát nhỏ trên sông, lang thang qua cầu ông Chừ nghêu ngao hò hát. Cảnh cũ còn đây, người xưa tơi tả bụi nhân gian, phải đâu Từ Thức trở về. Xe qua rạp Diên Hồng, Nhạn Tháp, thả chúng tôi trên bến đường Bùi Nguyên Ngãi cũ. Nơi đây quá gần với nhà cũ thời thơ ấu tôi. Ngôi nhà thờ chính tòa gần cạnh nhà tôi vẫn thấp thoáng đâu đó gác chuông khi xe lướt vào thành phố. Lại vui. Nhà Hùng con, người bạn nhỏ cùng cảnh ở A 30 có nhà nơi đây, thôi thì chào nhau lần cuối, ngồi quanh lần cuối, vui một đêm chờ sáng, chờ xếp hàng mua vé về lại nhà xưa. Hùng con bây giờ đã định cư bên Mỹ, theo đuổi nghiệp văn chương, nhỏ máu lệ thơ phú cuồng ngông cho hết đoạn trừơng, nhớ chăng?

Cả nhóm ngồi uống nứơc kề cà chuyện kể trước nhà, phía ngoài là bến xe rộng trống thênh thang. Thời bao cấp nơi nào cũng đìu hiu đơn điệu. Chỉ khi gần tới giờ mới thấy lác đác xe vô. Những chuyến xe renault cũ kỹ càng cũ thêm khi “cải tiến” cho phù hợp cái thời cải lùi. Một ống sắt to cao hàn sau xe để đốt than thay nhiên liệu xăng đang khan hiếm. Nó có một tiện dụng là khi ta đi rẫy giấc tinh mơ, đứng sau xe thật ấm áp do nhiệt tỏa ra từ cái lò đứng bập bùng ấy, Thỉnh thoảng, thích một hơi thuốc đầu ngày, chỉ cần rút thuốc mồi vào đóm than hực sáng là xong. Còn có “cải tiến” khác như nối hai chiếc xe lại thông qua một cây láp giữa. Một đẩy, một kéo tiết kiệm nhiên liệu được phân nửa, cứ thế mà nối kéo nhau tiến tới thiên đường.

Chúng tôi vẫn ngồi đó, mặt mày ráo hoảnh. Ngày chót, giờ chót từ nơi chốn hắt hiu định mệnh này nào ai nỡ lòng rời bạn phí hoài những giây cuối nhìn nhau. Chùng tôi tập trung hết các lệnh tha, chia phiên nhau chuẩn bị xếp hàng trước ô bán vé. Trời vẫn nhờ nhợ giữa đêm. Phòng vé vẫn âm u không ánh đèn, trước chúng tôi có mơi vài người đứng chờ, chờ một chuyến xe không có ai là thượng đế, chỉ có sự ban phát và năn nỉ. Chờ và thay nhau chờ với chúng tôi bây giờ chỉ là đứng lên lặng im hay ngồi xuống hàn huyên, tất cả như một lập trình không cần bận tâm, dẫu gì sáng sớm mai này chúng tôi cũng được rời xa nơi giấu che mọi nỗi niềm chia xa mấy năm trời chưa hết bàng hoàng vận số nào, cơn hồng thủy nào là gã bán tơ.

“Rồi cũng sẽ tới giờ em mong đợi, có con đường nào không tới mặc dù xa, có nỗi khổ đau nào kéo dài mãi mãi…” giờ qua giờ, cuối cùng ô cửa có người ngồi, bắt đầu bán vé. Mãi rồi cũng tới phiên, Mai Xuân Thi đưa một xấp lệnh tha vào, nghe tiếng lạnh lùng phán, “chỉ bán từng vé, không bán tập thể để tránh con phe”. Chúng tôi xúm lại giải thích vừa mới ra trại, có ai rảnh rỗi để làm con buôn. Họ vẫn lạnh lùng, cứng nhắc, không lay chuyển: “Muốn mua phải xếp hàng thứ tự từng người”. Nhìn ngao ngán ra dòng người xếp hàng dày đặc, tôi nói với em Thi: “Thôi em lấy một vé cho em về trước đi, tụi anh tính sau”. Thi bước ra khỏi hàng, cương quyết nói: “Em đi cùng các anh”. Phí hoài một đêm mòn mõi.

Chúng tôi quyết định đi về ga xe lửa Tuy Hòa để may ra có thể tìm mua những tấm vé đủ cho mọi người. Đường đến ga không xa. Hành lý không có, chúng tôi thong dong đi như những kẻ nhàn du nhìn lại những con đường xuống lên để nhớ hoài ngày định mệnh chớ quên. Trường cũ tôi đây, trường Đặng Đức Tuấn lặng lẽ trong buổi sáng không thấy tiếng reo vui, Bước qua bên đường. ga vẫn chẳng có gì thay đổi dù tôi đã đi xa mười mấy năm trời. Đống gạch đổ vỡ hoang tàn của ga thời chiến tranh vẫn phô ra những phế tích một thời. Cái ga dựng tạm bằng tôle ngày cũ vẫn còn y, tôi có thể mường tượng lại ngày tháng của năm xưa, năm 1964, khi cả nhà tôi thảng thốt chạy ra sân ga chờ tin ba tôi trên chuyến tàu bị gài mìn năm ấy. Trái mìn nổ ngay goong restaurant nơi ba tôi ngồi cùng hai người đồng nghiệp. Tuy một người chết, một người bị thương nặng, ba tôi chỉ bị nám đen do hơi mìn, bình an trở về. Chiến tranh là vậy đó, ai cũng được chia phần thương đau.

Buổi sáng sân ga không tấp nập do thiếu những con tàu. Chúng tôi tới hàng một chị bán bánh mì. Thật sự chỉ là một thúng đựng bánh với ít thịt rau trên cái dừng che. Vừa hỏi mua, chúng tôi vừa hỏi thăm giờ tàu, nghe chị nói khoảng hai giờ chiều mới có chuyến tàu chợ về Nhatrang. Lòng hơi thất vọng vì lại phải chờ, nhưng biết sao. Chị bán chè ngồi sát bên nghe chúng tôi hỏi liền nói: “Các anh ở đây chờ một chút, tui kêu thằng con ra hỏi chiếc autorail sắp về lại Nhatrang thử coi”. Cậu bé trạc 14 tuổi nhanh nhẩu chạy đi, trong khi chị múc chè mời chúng tôi dùng: “Các anh đừng ngại, ông xã tôi cũng như các anh thôi, nạn nước mà, biết đâu mà tránh, cầu mong anh nhà tôi cũng được mọi người giúp đỡ”. Một lát sau cậu bé vui vẻ chạy vào thông báo đã xin quá giang được, nửa tiếng nữa ra lên tàu về Nhatrang. Thật bất ngờ tình người. Dù sao, chẳng còn tiếc nuối chuyện không vui buổi sáng.

Chiếc autorail trống trơn, chỉ chở thêm vài nhân viên công vụ và không chở khách. Khi chúng tôi ngồi hết vào tàu, có một thanh niên bước tới thu tiền, thu được vài người thì anh ngồi gần tài xế thấy, quay lại cằn nhằn: “Trả tiền lại mấy ảnh đi, người ta mới ra được tù, mình giúp không hết, sao lại thu tiền”. Lòng cảm thấy ấm lại, không phải vì mấy đồng tiền trao lại, nhưng đâu đó trên cõi sống đa đoan này vẫn còn những người tử tế.

Buổi sáng cuối cùng như mát hơn, không khí như trong lành hơn và lòng chúng tôi cảm nhận một ủi an từ những con người. Khi bước ra khỏi trại, chúng tôi dặn lòng như một lần cuối cùng Tuy Hòa, nhưng những tấm lòng đã làm chúng tôi bùi ngùi trước cảm thông vô vị lợi của những con người bình thường, nơi chốn xưa kia đã từng lưu giữ một phần ký ức tuổi thơ tôi.

Tôi đã về, đã về, sau những đành đoạn tàn phai. Nơi quê xưa sẽ có những bóng dáng thân yêu cũng háo hức như tôi, cũng đợi như tôi một trùng lai bất ngờ dù chưa phải bình yên cuối.

Anh vẫn sống như là anh đã sống
Bởi giản đơn anh là một con người

(Nguyễn Vô Cùng)

Nhưng đời có dung nạp cho cuộc làm người của chúng tôi chăng?

Đặng Châu Long
31-10-2015
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.