Nước tìm chỗ thấp

Posted: 25/03/2016 in Thơ, Trần Yên Thảo

Trần Yên Thảo

vung_nuoc

TRĨU LÒNG.

Đối nhân lời lẽ chưa cùng
hoang mang cái thị ngại ngùng cái phi
nghi ngờ đến cả lương tri
khiến cho tâm sự thường khi nặng nề.

CHỐN NƯƠNG THÂN.

Đúc từ sông núi khí thiêng
mà thân thế chỉ hạp duyên phàm trần
ham chi bạt chúng siêu quần
thà chen chúc giữa bầy đàn lập thân.

HÌNH BÓNG CŨ.

Trăng xưa chợt ghé qua nhà
hồ đồ chẳng biết đâu là thực hư
đêm dài khắc khoải tâm tư
cuộc tình mấy kiếp ngỡ như tình đầu.

GIẤC MƠ PHÁ NGHIỆP.

Ngủ vùi trong giấc phù hư
lề quê mất gốc cổ thư rách bìa
sương gieo cỏ nội đầm đìa
tằm đương kéo kén đoạn lìa mối tơ.

THÔNG ĐIỆP CỦA NÚI.

Đường lên non rất hiểm nghèo
ai không ngại khốn thì trèo với non
bạt ngàn đá dựng rêu trơn
chậm lê bước một còn hơn chờ thời.

BỂ DÂU VÀ KÝ ỨC.

Lụy đò từ thuở chơi rong
đến khi tóc trắng còn mong lụy đò
bến xưa bờ bãi khó dò
con sông bồi lấp con đò biệt tăm.

SAU KIẾP NẠN.

Hoảng kinh một bận đắm thuyền
hú hồn ngoảnh lại, lời nguyền trôi sông
cõi người giăng mắc gai chông
muốn quay về tổ, hư không mịt mờ.

NGỮ ÂM CỦA ĐẤT.

Dãi dầu bất kể xuân thu
đất câm lặng khiến kẻ ngu được lừng
một khi thiên địa trùng phùng
chớ khinh hòn đất chưa từng nói năng.

GIỮ PHÁCH THAY HỒN.

Hình như ánh mắt có thần
cảnh đời oan nghiệt đã dần dần trôi
tôi vừa hấp hối trong tôi
tim thay nhịp gõ đón tôi chào đời.

KIẾP RÊU RONG.

Đời đời sống bám bên non
hóa thân đen bạc khó toan hình hài
đêm đêm đá núi thở dài
ngùi thương số kiếp của loài rong rêu.

BƯỚC CHÂN KHÔNG DẤU VẾT.

Lê la khắp nẻo phàm trần
đâu còn rỗi rảnh luận bàn thấp cao
cần gì góp nhặt công lao
sắc thân vô niệm từ bao chặng đời.

TỰ SỰ CỦA NƯỚC.

Đến từ thăm thẳm tầng cao
đường vô ngại biết nói sao cạn lời
phất tay biệt cả núi đồi
tìm về chỗ thấp vui đời bể dâu.

HÁI HOA TRÊN GIẤY.

Thái sơn rồi cũng lạc loài
ích gì mơ tưởng đến nòi trâm anh
tìm người tri kỷ trong tranh
khác đâu thế tục đuổi thanh tìm hình.

TỬ SINH ĐỀU NHỊP GÕ.

Thuận đường về lại chốn xưa
bến chưa kịp đón đò chưa kịp mời
lòng mong rôm rả với đời
đất xưa dù đã vắng người ngàn xưa.

VỀ KHÔNG PHẢI LÚC.

Hóa ra về chẳng phùng thời
sinh cơ lỡ hội lòng người đa đoan
ngại đời lem luốc dung nhan
ta bôi bùn đất tự trang điểm mình.

CÕI ẤY CÒN XA.

Hồng trần chẳng chịu buông tha
bến bờ vô ngã còn xa ngàn trùng
hà sa thế giới chưa cùng
long môn khó vượt hang hùm ngại chui.

CHÂN DUNG ĐÁNH MẤT.

Lênh đênh lời nổi ý chìm
khuất mờ nhân diện càng tìm càng xa
dấu người lạnh ngắt tha ma
khổ bao năm, tạc chưa ra hình hài.

TRÁI TIM NGƯỜI BỘ LẠC.

Ta từ bản nhỏ không tên
đem bông hoa dại trồng lên đất người
tới đây góp một làm mười
trải lòng mua lấy nụ cười miền xuôi.

PHÚT LÂM HÀNH.

Trần duyên rồi cũng mãn mùa
cuộc vui như thể gió lùa hơi sương
lâm hành để dấu qua truông
mai kia mốt nọ còn nương dấu về.

VỌNG MÙA KHÔNG ĐẾN.

Én vờn gợi chút âm xưa
gieo trong tâm tưởng giọt mưa đầu mùa
sớm ra đối kính thẹn thùa
cạo râu chải tóc chờ mùa xuân xưa.

TÂM VÀ CẢNH.

Thuyền qua tả ngạn lâu rồi
ở đây còn nuối tiếc thời chưa xa
đường thì vắng khách lại qua
chợ mai từ đó hóa ra chợ chiều.

THEO DÒNG.

Mở lòng góp với gần xa
thuận theo dòng chảy, bôn ba ích gì
thịnh suy có thuở có thì
càng ham bứt phá càng trì trệ thêm.

VẬT VÀ NGƯỜI.

Ngọn heo may sớm thổi về
cỏ cây phăng phắc chưa hề động thân
chẳng bù với chốn quần nhân
hình chưa lộ bóng thân tâm quay cuồng.

GƯƠNG KHÔNG PHẢN ẢNH.

Tội tình hạt bụi ngàn thu
lấm lem cõi sống, vụng tu cõi thiền
chưa hay phúc họa đi liền
còn đem cảnh ngộ oán tiền kiếp xưa.

VÌ SAO LẠC.

Giữa khuya thanh tịnh núi rừng
nghe sương trên lá điểm từng giọt rơi
có vì sao nhỏ lạc ngôi
điềm trời hiển thị cái tôi lạc loài.

Trần Yên Thảo
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.