Mít Tây du ký

Posted: 17/04/2016 in Khổng thị Thanh-Hương, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Khổng thị Thanh-Hương

france-antibes-old_town

Năm đó, khi đang chuẩn bị bài vở để ra trường, cô em chồng của tôi hỏi có muốn cùng đưa một số học trò trong lớp Pháp văn của cô ta sang thăm trường kết nghĩa bên Antibes, miền Đông Nam nước Pháp.  Được lời như cởi tấm lòng, tôi nhận lời, dù chưa gặp ông “prof” để xin phép.  Đi Pháp để trèo lên tháp chuông nhà thờ Đức Bà, để thấy tận mắt Tour Eiffel và để đứng bên bờ sông lãng mạn của Ngô Thụy Miên là ước mộng chưa thành của tôi.

Khi gặp ông prof để xin nghỉ mười ngày, ông nói tùy bà, bà làm sao thì làm, miễn là ban giám khảo chấp nhận những gì bà trình bày để bà ra trường.  Thế là tôi tạm dẹp bút nghiên để đi Tây.  Chuyện ra trường được hay không thì hậu xét.

Qua bao nhiêu nôn nóng chờ đợi, thầy trò cũng đáp xuống phi trường Côte d’Azur.  Lớp Anh Ngữ của trường trung học Antibes đón chào quan khách rất là … Tây.  Ai nấy sao mà rộng rãi qúa chừng, hôn cả hai bên má chứ không có hà tiện như người Mỹ bên xứ Cờ Hoa.  Sau khi quàng vào cổ khách đến từ phương xa những vòng hoa và trao đổi vài câu chuyện làm qùa, người bên Tây, kẻ bên Mỹ lại ôm nhau hôn chùn chụt lần nữa, trước khi khách phương xa đi về với gia đình học sinh “chủ nhà”.  Đường phố bên Antibes, một thành phố bên bờ Địa Trung Hải có nhiều ngã năm, ngã sáu.  Nhìn cảnh tượng này tôi nhớ Sàigòn nhiều!  Ở Antibes một ngày, tôi lấy máy bay lên Paris chơi.  Một mình.

Tới phi trường Orly, tôi tìm métro để về khách sạn trong khu Montmartre đã được đặt thuê từ trước.  Sau khi lấy chìa khóa phòng và để lại cái vali cho nhẹ gánh, tôi vòng ra métro trở lại để đi tìm quận 13.  Không hiểu tại sao ở bên Cali, tôi thấy người mình hàng tuần, hàng tháng, trong trường học, trong nhà thờ, trong tiệm ăn, nơi phố xá.  Thế mà mới rời xa miền Nam Cali nắng ấm có mấy ngày, tôi đã vội vã đi tìm người Việt!

Tới quận 13, tôi thấy trong lòng vui vui vì thấy các cửa tiệm có ghi bảng hiệu bằng tiếng Việt, một hình ảnh quen thuộc của Tiểu Sàigòn.  Một chợ Á Đông bày bán đủ loại trái cây không thấy bên Cali.  Mùi phở, mùi xào nấu quen thuộc bay trong không gian, từ các nhà hàng Việt Nam, khiến tôi nhớ nhà.  Khi thấy một nhóm người đàn ông đang ngồi hút thuốc lá gần đó, tôi tự giới thiệu là mới từ Cali sang chơi.  Mấy anh giơ tay chào, rồi quay sang một người đàn ông trẻ nhất trong đám, họ nhờ anh ta đưa tôi đi thăm phố phường.  Như là một người em ngoan, anh ấy liền đứng dậy nói “để tôi đưa chị đi thăm chị này, cũng người Công Giáo như chị.”  Không nhớ đã nói gì khiến anh này biết tôi Công Giáo.  Có lẽ anh thấy ảnh Áo tôi đeo trên cổ?

Chúng tôi đi dọc trên những đại lộ có nhiều cửa hàng bán quần áo, đồ điện tử, giầy dép, nước hoa … Dọc đường có trưng nhiều tấm quảng cáo.  Tôi nhận ra hiệu xú-cheng Lou, một hiệu đồ lót mẹ tôi và các bà bác ngày xưa hay mặc.  Đi một quãng thì tới nhà thờ.  Chúng tôi đợi một tí thì chị này đi ra.  Sau khi trao đổi vài câu chuyện, tôi ngỏ lời mời hai anh chị đi dùng cơm chiều với mình.  Chị bạn mới cho biết là ở nhà còn có hai người con, cho nên chị muốn về ăn với “hai đứa nó”.  Thế là thay vì ăn tối tại tiệm gần nhà, tôi đặt vài món mang theo.  Sau khi đi qua ngưỡng cửa của tòa nhà cao năm, sáu tầng, tôi hỏi “Thang máy đâu chị?”  thì cả hai cười ngắc nghẻo.  Chị bạn lấy tay vỗ nhẹ vào đùi tôi rồi nói, “Thang máy đây nè!”

Leo lên không biết bao nhiêu bậc thang và khi gần hết hơi tôi mới lên tới căn studio của gia đình chị bạn.   Chao ơi, căn phòng hình chữ nhậtnó nhỏ làm sao.  Phòng không có gì ngăn chia biên giới.  Mọi của cải đồ vật đều được phơi bầy trong cái chu vi hạn hẹp đó.  Căn studio không có bàn ăn.  Chủ nhà trải giấy báo mời khách cùng ngồi ăn dưới sàn nhà.  Sau khi ăn uống và nói chuyện một chốc, tôi xin phép đi về.  Khi nghe nói tôi muốn viếng viện bảo tàng Louvre ngày hôm sau, anh bạn mới tình nguyện sẽ gặp tôi ở phía ngoài cửa Louvre để đưa tôi đi xem “những gì nên coi trước.”

Ngày hôm sau, tôi lấy xe điện lên Quận 1 đi đến Louvre, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng La Joconde.  Hôm trước, anh bạn mới có dặn là sẽ gặp tôi tại một trạm métro, nơi có treo hình người phụ nữ có nụ cười bí hiểm.  Khi bước lên mặt đường, tôi thấy hình nàng Mona Lisa treo trên cao thì yên trí, “Điểm hẹn đây rồi,” và đứng lại tại chỗ để đợi người bạn mới quen.  Đợi mãi, đợi mãi, đợi gần một tiếng đồng hồ mà vẫn không thấy bóng dáng người bạn mới đâu, tôi đành đi vào xếp hàng mua vé coi triển lãm.  Đúng là “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng!”  Đúng vào cái ngày tôi lặn lội ngàn dặm để đến xem dung nhan và nụ cười vô giá của người đẹp thì người ta lại cất nàng đi để tu sửa dung nhan!  Tôi buồn nhiều phút, chứ không buồn năm phút như người ta thường hay nói.  Đi lên, đi xuống cả mấy tiếng đồng hồ trong cái bảo tàng viện khổng lồ cho tới khi rã rời đôi chân, mỏi đôi con mắt, đầu óc biểu tình vì thèm khí trời thì tôi bèn chui ra.  Ngước nhìn lên cao tôi thấy hình Mona Lisa, treo trên một banderole, nhưng không phải ở trạm métro mà tôi đứng đợi, mà lại ở một trạm khác!  Giời ạ!  Hóa ra người ta treo cả chục banderoles quảng cáo người đẹp, mà tôi lại không hỏi kỹ trạm nào.  Hai người đợi hai nơi khác nhau thì tới … Tết Marốc cũng chả bao giờ gặp nhau!

Trên đường ra bến xe métro để trở về khách sạn, tôi gặp một nhóm con gái du mục.  Chúng vừa đi, vừa chạy theo tôi.  Nói rượt thì có vẻ hơi qúa đáng, nhưng tôi có cảm tưởng như bị rượt đuổi bởi mấy đứa con gái mặt mày rất xinh xắn, nhưng nhem nhuốc vô cùng đó.  Tóc tai thì quấn bện như tổ quạ, quần áo thì hình như cả mấy con trăng cũng chưa thấy được cục sà-phòng.  Một đứa lớn nhất tiến tới gần tôi rồi bỗng dưng qùy xập xuống như một thân chuối bị đốn.  Hai tay chắp lại, nó ngước cặp mắt mầu xanh đẹp mê hồn, “Madame, donnez-moi de l’argent.”  Tôi nói tôi không có tiền lẻ.  Nó tỉnh bơ trả lời, “Thì bà cứ cho tôi tiền chẵn.”  Còn có mỗi 20 Euros trong ví, đưa cho nó hết thì tôi không muốn, mà bảo nó thối lại thì hơi kỳ.  Tôi xin lỗi rồi bỏ đi.

Ngày hôm sau, tôi lên quận 7 để đi thăm tháp Eiffel.  Trước khi xếp hàng, tôi mua vài tá thiệp postale để gửi về cho thân nhân, bạn hữu.  Đến lúc lên tới đỉnh tháp thì tôi cũng viết xong chồng thiệp để kịp đóng dấu bưu điện của ngọn tháp nổi tiếng.

Trong lúc đứng xếp hàng, thấy có một người đứng sau lưng cũng đi một mình, tôi bèn hỏi ông ta có nói được tiếng Anh?  Ông ta gật đầu.  Tôi hỏi ông có ngại đi chung với tôi cho có bạn?  “Vì tôi lười nói tiếng Pháp qúa rồi!”  Vốn liếng tiếng Tây rỉ sét của tôi chỉ vỏn vẹn vừa đủ để đọc lịch trình xe búyt hay xe điện, coi bản đồ, đọc menu, hỏi thăm đường khi bị lạc và nói vài câu xã giao.  Trong những dịp khác, tôi chỉ mong có ai nói tiếng Anh với mình để khỏi phải … tìm chữ!  Khi biết ông ta đồng ý đi theo “cho có bạn” tôi vui qúa chừng, vì hy vọng có người đi theo nói chuyện.  Ai ngờ, ông này ít nói thì thôi.  Cậy miệng cũng không nhả ra hơn ba chữ!  Tuy vậy, tôi không lấy làm phiền, vì có người chụp hình cho là qúa tốt rồi (lúc đó chưa có selfie như bây giờ.)

Lên tới đỉnh Eiffel và sau khi nhìn xuống dòng xe cộ nối đuôi nhau chạy vòng quanh những đại lộ như trong một đoạn phim câm, người đàn ông ít nói và tôi chụp cho nhau vài tấm hình làm bằng chứng đã có mặt ở Kinh Thành Ánh Sáng, rồi lại trực chỉ thang máy đi xuống.  Tôi hỏi ông bạn đồng hành có muốn cùng tôi lấy một chuyến tầu Ruồi, xem những nơi nổi tiếng của Paris từ mặt sông Seine.  Ông trả lời đúng một chữ “OK”.  Sau khi chiêm nguỡng Tháp Eiffel và các thắng cảnh từ tầu Ruồi, ông hà tiện lời nói và tôi chia tay.

Ao ước muốn đi thăm Notre Dame, tôi hỏi đường đi đến đó.  Khi tới ngôi thánh đường nổi tiếng có chàng gù đu giây giải cứu người đẹp Esméralda, tôi trả tiền mua vé, hì hục trèo mấy trăm bậc thang để lên tới đỉnh tháp chuông, nhe răng trợn mắt trộ mấy con gargoyles, rồi lại phì phèo trèo xuống.  Hôm đó có Thánh Lễ cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II.  Trong mấy ngày tôi ở bên Tây, cách nhau có bốn hôm, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và ông Hoàng Rainier Đệ Tam của Monaco, người trước kẻ sau, rời bỏ cõi trần.

Đó là ngày thứ ba.

Mỗi tối, trước khi đi ngủ, tôi giở bản đồ thành phố ra coi để quyết định chương trình đi chơi cho ngày hôm sau.  Trước khi bay sang đây, một cô em có nói là nếu tôi đi thăm Sorbonne thì nhớ chuyển lời chào tới một sinh viên học ở đó.  Nhớ lời em dặn, tôi đi Sorbonne, vì ngày mai sẽ rời thành phố có biệt hiệu “Paname”, không biết bao giờ trở lại.

Mặc dù đã biết sơ đường tới bến métro nhưng không rõ là sẽ rẽ phải hay trái cho nên khi thấy một thanh niên đi ngược chiều, tôi hỏi thăm thằng bé xem hướng nào đi Sorbonne.  Nó trả lời là nó cũng sẽ lên trường bây giờ, nhưng phải về thay quần áo, vì mới đi làm ra.  Rồi nó đề nghị, “Nếu bà muốn thì theo tôi.  Đợi tôi một chút rồi mình cùng đi.”  Không ngần ngừ, tôi đi theo nó.  Đi chừng một quãng thì tới một tòa nhà cũ kỹ có nhiều tầng.  Nó chỉ lên tầng lầu thứ tư, “Tôi ở trên đó.”  Rồi ra dấu đi theo.  Trong lòng tôi nghĩ là hôm qua mình đã leo lên tầng chót vót để ăn cơm chiều với chị bạn mới, thì hôm nay trèo lên lầu bốn đợi thằng bé này thì có gì mà ngại.

Cầu thang hẹp bằng sắt, hình trôn ốc.  Trèo lên tới nơi, nó mở cửa mời tôi vào.  Bên trong cũng chật hẹp như căn studio của mẹ con chị kia, có điều bừa bộn hơn nhiều.  Tôi đứng gần cửa ra vào, đợi nó thay quần áo.  Đứng một lúc tôi cứ thấy nó đi qua, rồi đi lại.  Chập sau nó mới cởi cái áo thun ra.  Rồi lại đi qua, rồi đi lại, như là đang tìm kiếm cái gì.  Tôi nóng ruột nói, “Mi thay quần áo thì thay lẹ đi.  Sao cứ đi qua đi lại hoài vậy?”  Lúc đó nó mới hỏi tôi, “Bà có muốn uống gì trong khi đợi tôi sửa soạn không?”  Tôi khua tay, “Ta không muốn uống gì hết, mi nhanh nhanh lên.”  Nó phớt lờ, mở tủ lạnh, rót một ly nước cam rồi đưa cho tôi.  “Tiền chủ, hậu khách”, tôi ngồi tạm xuống chiếc ghế sofa ngổn ngang quần áo sách vở rồi uống hết ly nước cam.  Uống cạn ly nước cam rồi mà vẫn chưa thấy nó mặc áo vô!  Tôi chưa kịp thúc hối thì bỗng nhiên nó tiến lại gần, quàng tay qua vai tôi rồi nói, “Let’s make sex!”  Chỉ mới thấy hành động của nó, dù chưa nghe ba chữ như súng liên thanh nổ ngang tai, tôi rụng rời cả tay chân, hồn xiêu phách lạc!  Ra vẻ bình tĩnh, tôi lách người ra khỏi bàn tay lông lá của nó, “Mi tưởng chồng ta cho phép chuyện này sao?  Hơn nữa mi nhỏ tuổi hơn con trai ta mà sao dám ăn nói tầm bậy tầm bạ như vậy?”  Kỳ diệu thay, nó buông thõng đôi tay, “Chồng bà làm sao biết được, nếu bà không cho ổng biết.  Hơn nữa, bà coi trẻ qúa, làm sao có con lớn hơn tôi?”  Tôi không trả lời, phóng nhanh ra cửa, tự rủa mình ghê gớm.  Đã mang tội nói dối để … thị oai mà cũng không xong (vì lúc đó chàng và tôi chưa chính thức hoá.)

Nhanh như cắt, chỉ hơn ba bước, tôi đã bay tới cánh cửa đang đóng kín.   Tôi chụp vội cái nắm cửa để mở mà sao nó vẫn vững như đồng!  Nhìn kỹ thì tôi mới khám phá ra là cái cửa của căn phòng bé tí bé teo này sao mà gắn qúa nhiều khóa.  Khóa trên, khóa dưới, khoá loạn cào cào!  Hình thù thì cũng giống như những khóa tôi thường hay thấy, có khác gì đâu.  Thế mà, vì cuống cuồng, tôi không biết mở cái nào trước để thoát thân.  Phước đức ông bà để lại, tôi nhắm mắt nhắm mũi úm ba la, kéo đại cái cần của một cái khóa sang một bên.  Hú hồn hú vía.  Cánh cửa mở ra!  Có lẽ Thiên thần bản mệnh của tôi đã làm việc ô-vờ-thai sáng hôm đó cho nên đã xui khiến cho thằng nhỏ chỉ gài một khoá, thay vì khóa hết tất cả ba, bốn khóa, và lại là chính cái khóa tôi mới kéo ra được.  Nếu nó khóa hết lô khóa ấy thì có lẽ cuộc đời tôi đã … rẽ về bến khác rồi!  Thấy tôi đã mở được cửa, nó chưa bỏ cuộc, còn cố đánh lừa, “Bà làm gì vậy, bà lại khóa cửa vô rồi!”  Vừa sợ, vừa tức, tôi gắt, “Kệ mi, bà phải đi ra khỏi nơi đây ngay lập tức,” và ba chân bốn cẳng tôi chạy ra.

Thằng nhỏ cũng chưa chịu thua, nó chạy theo, “Bà phải trở vô, bà có biết là bà đang đánh thức hàng xóm của tôi không?”  Bực nó thì ít mà tức mình thì nhiều, nhưng tôi cố giữ bình tĩnh, mặc dù bụng thì đánh lô tô, “Ta không cần biết, tao đợi mi ở dưới kia,” và bắt đầu chạy xuống.

Nỗi sợ hãi như một cơn sóng thần ập vào tâm khảm khiến toàn thân tôi run lẩy bẩy, buồng phổi tưởng chừng như tắc nghẽn.  Cố điều khiển hai đầu gối bỗng dưng mềm như hai sợi bún vì tất cả các ốc vít dường như long hết, tôi dùng hết sức bình sinh trèo từng bậc thang sắt đi xuống.  Lảo đảo như người trúng phải gió, một tay vịn vào thành cầu thang, một tay kia ôm ngực, tôi không còn nghe hơi thở hổn hển của mình nữa mà chỉ nghe tiếng đập thình thịch, thình thịch của qủa tim như sắp nổ tung của mình.

Sau cùng tôi cũng xuống tới nơi.  Biết mình đã thoát nạn, tôi vẫn chưa hết hoàn hồn.  Ngước mắt nhìn trời và thấy thấp thoáng xa xa một tháp chuông nhà thờ, tôi thầm cảm tạ Thiên Chúa đã cho tôi được bình an vô sự.

Thế mà vì giữ lời, tôi cũng đứng đợi thằng bé.  Thật lâu nó mới xuống tới nơi và cùng tôi cuốc bộ đi đến bến xe điện ngầm đi Sorbonne.  Vừa đi nó vừa phụng phịu, “Không biết tại sao bà đã đồng ý lên chỗ tôi ở mà không chịu làm “chuyện đó.”  Tôi giải thích cho nó là vì tôi thấy nó nhỏ hơn con tôi, cho nên mới tin mà lên trên đó đợi nó.  Tôi nghĩ bụng, “Nếu biết mi có mưu mô ghê ghớm này thì cho vàng bà cũng không dám dẫn xác vào hang cọp!

Khi tới Sorbonne, đưa thẻ sinh viên cho tôi, nó nói “Bà cầm thẻ này đưa cho người gác cổng để vào coi trường, nhưng đừng để họ thấy hình tôi.  Từ sau biến cố 11 tháng 9, trường không cho du khách vào thăm nữa.”  Tôi nói cám ơn, tôi không muốn đùa giỡn với luật lệ.  Rồi chợt nhớ tới lời cô em gái gửi lời chào một sinh viên Sorbonne, tôi lập lại dùm em.  Nó nói nó cũng chào cô em tôi.  Sau bao nhiêu gian nan vất vả và một tí nữa là đã không toàn thây, chỉ để đến tới cổng của ngôi trường đại học nổi tiếng, tôi nhờ nó chụp cho một tấm hình đứng trước cổng trường làm kỹ nghệ rồi Adieu!

Chiều hôm đó, khi viếng Đức Mẹ Ban Ơn Lành tại Rue du Bac, tôi tạ ơn Mẹ đã cứu tôi thoát hiểm.  Lạ thật, lúc ở nhà, tôi luôn từ khước lời mời vào coi vườn sau của ông hàng xóm, mặc dù mỗi khi nghe tôi khen cái vườn đằng trước, bao giờ ông ta cũng mời vào coi vườn đằng sau.  Vậy mà tôi đã ngang nhiên, như một kẻ điếc không sợ súng, đã vào nhà những người lạ tại một thành phố lạ, một nơi chốn lạ, một quốc gia lạ?  Có phải vì khi đi du lịch, tôi đã qúa lạc quan?

Buổi tối cuối cùng ở Paris, tôi đi tìm nhà hàng để ăn tối.  Ngần ấy nhà hàng ở khu Montmartre, biết tiệm nào mà chọn?  Tôi nhủ thầm nếu nơi nào chơi bài “La Vie En Rose” thì tôi vào.  Lạ làm sao, đi mới có vài chục bước tôi nghe tiếng hát có một không hai của Edith Piaf vọng ra từ một tiệm ăn.  Không chần chừ, tôi bước vào nhà hàng, tuy bé, nhưng trưng bầy đơn giản và ấm cúng.  Món đặc biệt tối đó là cá hồi nướng và xà lách cũng với … cá hồi.  Tôi gọi món này kèm theo một ly rượu trắng.  Nhìn đôi giầy Bata dưới chân và ba-lô trên vai, ông bà chủ hỏi tôi người gì và từ đâu đến.  Tôi nói tôi người Việt, từ Cali sang chơi.  Khi biết tôi người Việt cả hai cùng nói là họ rất mến người Việt.  Tôi cảm động khi biết được trong thành phố du lịch nổi tiếng này có người thích người mình.  Vui miệng, tôi đố họ có biết tại sao tôi chọn nhà hàng này?  Họ lắc đầu chịu thua.  Sau khi biết được chi tiết lý thú, cả hai nhìn nhau cười.

Bốn ngày đóng vai du khách tại Kinh Thành Ánh Sáng, tôi tạm biệt Paris và đón xe lửa tốc hành đi Lộ Đức.  Tới Thánh Địa, vì chỉ có vài tiếng đồng hồ trước khi lấy chuyến tầu đêm trở về Antibes, tôi kéo chiếc vali, lọc cọc trên con đường lót đá dẫn vào hang đá, nơi Bông Hồng Thiên Quốc hiện ra với Thánh Bernadette.  Tới nơi tôi thắp một cây nến để tri ân Mẹ đã cho tai qua nạn khỏi; ngừng lại tại những hồ nước nơi rất nhiều bệnh nhân đã được Đức Mẹ chữa lành; uống vài ngụm nước phép từ dòng suối thiêng để xin ơn cho mình; mua một thùng chứa được nửa galông nước phép đem về làm qùa cho thân nhân và bạn hữu.

Cũng trên con đường lót sỏi đá đó, tôi và chiếc vali lọc cọc đi ra bến xe lửa để trở về Antibes.  Lúc tìm được toa, tôi sửng sờ.  Khi mua vé, tôi có nói rõ với nhân viên AAA là tôi chỉ ở chung toa xe lửa với đàn bà trẻ con trong chuyến tầu đêm.  Thế mà khi mở cửa toa, tôi thấy ba người đàn ông đã ở trong đó, kẻ đứng, người nằm.  Ba chân bốn cẳng tôi chạy đi tìm ông conducteur, “Monsieur, j’ai un problème, un gros problème!”  Tôi giải thích với ông này là tôi không thể ở chung toa với ba người đàn ông trong cuộc hành trình, từ Lộ Đức về Antibes.  Ông conducteur trấn an, “Bà an tâm, tôi sẽ giải quyết việc này cho bà ngay lập tức.”  Tôi đứng ngoài hành lang đợi.  Vài phút sau ông ta hớn hở trở lại, khoe là đã tìm được chỗ mới, chỉ có một bà Sơ và cô cháu.  Rồi ông ta hỏi tôi là tôi có vừa lòng không?  Tôi mừng qúa đỗi, cám ơn ông ta hết lời.

Không ngủ ngon vì lạ giường lạ chỗ, tôi thức giấc từ lâu mà không dám động đậy, sợ đánh thức bà sơ và con bé cháu.  Nằm im mãi cho tới khi thấy trời đã sáng và bà sơ và đứa cháu cũng đã dậy, tôi mới bò ra khỏi giường.  Lúc đó mới biết chỉ còn có 3 phút nữa là tới trạm Antibes!

Trong những ngày còn lại ở Antibes, Béatrice đưa thầy trò chúng tôi lấy phà sang đảo Sainte Marguerite để thăm chốn giam cầm của Người Đàn Ông Đeo Mặt Sắt hồi thế kỷ 17; ghé St. Tropez coi người ta tắm nắng, nhưng vì vào đầu tháng Tư trời còn lạnh cho nên không thấy hậu duệ của BéBé đâu; tạt qua Grass cho đám nhóc mua nước hoa về tặng mẹ, chị em gái hay người yêu; đi thăm vườn bách thảo ở Cannes và lấy xe lửa đi chợ trời ở miền Bắc nước Ý.

So với những gì xẩy ra hay xuýt xẩy ra trên Paris, những ngày ở dưới miền Tây Nam nước Pháp không có gì đáng lo và cũng không có gì đáng nói.  Phải chăng mọi hào hứng, hiểm nguy đã dồn hết vào bốn ngày tôi ở trên Paris một mình?  Trong Tây Du Ký, thày trò Đường Tăng phải đối đầu với vô số thử thách khi đi thỉnh Kinh.  Chuyến Tây Du của tôi, đặc biệt là những gì xẩy ra trong buổi sáng cuối cùng ở Paris, đã cho tôi một bài học nhớ đời, vì đã lon ton đi vào tử địa mà không hay!

Khổng thị Thanh-Hương
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.