Hồ Đình Nghiêm
Theo khảo sát của giới y khoa, trung bình phải tới 10 tuổi, các em nhỏ mới ý thức về cái chết. Không có nghĩa rằng vào độ tuổi đó các em sẽ đánh mất dần sự hồn nhiên. Tính trong sáng của tuổi mới lớn sẽ đoạn lìa chừng nào các em biết yêu đương, bị dằn vặt bởi tình cảm lứa đôi, biết dối gạt đặt điều, phần nhiều rơi vào hạng tuổi 16 đầy đa đoan lắm sự. Tuổi chưa được phép mua rượu, chưa cho mua súng, chưa được quyền đi bầu.
Vậy thì, cứ cho là 15 tuổi trở xuống, tâm hồn các em vẫn là trang giấy trắng chưa bị đời sống tác hại, bôi bẩn. Qua lượng định của nhà danh hoạ Pablo Picasso (1881-1973): “Tất cả những đứa bé đều là nghệ sĩ. Vấn đề là liệu khi lớn lên chúng còn giữ được sự biệt đãi ấy không”. Cái nhìn của nhà văn Mark Twain (1835-1910) thì xác đáng dễ thuyết phục hơn: “Những nguồn tin phát ra từ miệng trẻ con luôn thú vị ở chỗ, chúng nói tới những gì chúng biết, xong thì ngậm miệng lại”.
Dân gian ta cũng có câu: Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Chúng không đặt điều đâu, hãy an tâm, chúng thật thà như đếm. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu than: “Dân hai lăm triệu ai người lớn, nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”. Trẻ con của cụ Tản Đà mang thứ nội hàm khác: Ngu ngơ, dễ bị gạt gẫm, dễ bị dụ dỗ để kẻ xấu nắm tay lôi đi vào mê lộ. Chuyện này đôi lúc người lớn cũng bị mắc phải chứ nào riêng bọn nhỏ ngây thơ.
Lên trung học, lớp đệ thất (còn hồn nhiên- em nào có biết gì!) vào giờ Văn được cô dạy về bài thơ “Miếu vợ chàng Trương” của vua Lê Thánh Tông:
“Nghi ngút đầu ghềnh toả khói hương
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương
Bóng đèn dầu nhẫn đừng nghe trẻ
Cung nước chi cho luỵ đến nàng
Chứng quả đã đôi vầng nhật nguyệt
Giải oan chăng lọ mấy đàng tràng
Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.
Cô giải thích điển tích về bài thơ: Trương làm lính thú, vợ ở nhà nuôi con mọn. Mỗi tối thắp đèn lên, để khuây nỗi nhớ, người vợ ôm con và chỉ cái bóng in lên vách mà nói: Đó là cha con. Tàn cuộc binh đao, Trương được trở về nhà nhưng bất ngờ là đứa con không nhìn mặt, nó bảo là cha tôi mỗi tối mới về bên hai mẹ con. Trương nghe, nghĩ ngay rằng người vợ đã lợi dụng thời gian mình vắng mặt đã hư đốn đi ngoại tình. Không tìm ra cách để minh oan, người vợ quẫn trí đi tới bến sông mà trầm mình tự tử. Đến tối, khi thắp đèn lên, đứa con chỉ vào bóng hắt vào vách để lập lại câu nói quen thuộc: Cha kìa, cha trở về kìa. Trương tỉnh ngộ, hiểu ra thì đã muộn, thất thểu ra bên sông lập nên đàn chay suốt ba ngày đêm mong giải oan cho vợ. Người đời sau lập miếu thờ vợ của Trương, chuyện đến tai Vua, làm ra bài thơ cho khắc vào bia đá. “Khá trách chàng Trương khéo phủ phàng”. Vua Lê Thánh Tông nhân từ quá, lẽ ra phải mắng: Trương nọ sao quá trẻ con, vợ của nhà ngươi cũng trẻ con không kém. Nước bốn ngàn năm mà vợ chồng ngươi không chịu lớn cho!
Trẻ con “đương đại” năm 2016 ở xứ “Bạch Tuyết thì hiếm mà lố nhố tới mấy triệu chú lùn” vào giờ tập làm văn, cô ra đề: Tả bố em. Thằng Nhất viết: “Bố em có một hàm răng vàng, hàm răng vàng luôn chỉ bảo em những điều hay lẽ phải”. Con Nhị viết: “Bố có hình dáng còl và cao. Bố em rất hay đánh giấm, cứ mỗi khi em xem phim lại thấy bố đánh giấm hai ba lần”. Tả ông nội. Thằng Nhất viết: “Khi em được sinh ra thì bố mẹ em đã làm ma cho ông nội em rồi”. Con Nhị viết: “Nhà em có nuôi một ông nội, ông nội suốt ngày chẳng làm gì cả chỉ trùm chăn ngủ, đến bữa ăn ông ló đầu ra hỏi: Cơm chín chưa bây?”. Ôi, Nhất và Nhị, rõ là bài làm của hai em “luôn thú vị” và “nghệ sĩ”.
Tả mùa xuân: “Mùa xuân ở quê em mở rất nhiều hội. Những ngày ấy trên đường có rất nhiều các ông các bà tay cầm ô đen ô đỏ đứng nói chuyện râm ran như bầy chim líu lo gọi mẹ”.
Tả người thầy em yêu quý: “Thấm thoắt đã ba mùa hoa ban nở, thầy giáo phải tạm biệt chúng em để về xuôi. Cả làng cả bản đứng tiễn thầy vô cùng ngậm ngùi. Riêng em đứng nhìn theo thầy cho đến khi thầy xa dần, xa dần, đến khi nhỏ bằng con chó em mới quay lại bản”.
Ôi chao, thật trong sáng, hồn nhiên và mang nặng tính sáng tạo! Có lẽ mai này em sẽ là một nhà thơ in nhiều đầu sách, bởi còn bé thế kia khi gặp phải đầu đề: Đặt câu cho có vần, em đã trả lời một mạch: “Muốn học chóng thành, em phải thái hành. Có con trâu, bị ruồi bâu. Có con chim, bị vỡ tim”. Thầy cô chớ bảo: Nhỏ như con thỏ chán như con gián mà chúng em cười cho, nhé!
Các em khi học môn văn đôi lúc phải nương nhờ vào cuốn “Tự điển tiếng Việt” (Nhà xuất bản Bách Khoa Hà Nội) để tra cứu. Sách ấy giảng nghĩa như sau:
Ả đào: Đào hát trong các hộp đêm.
Con ranh: Con đẻ ra thì chết.
Niết bàn: Nát bàn.
Nhà xác: Nhà vĩnh biệt.
Nữ thi hào: Thi hào đàn bà.
Nữ thi nhân: Nữ thi hào.
Yếu hèn: Hèn yếu.
Ghi nhớ: Ghi và nhớ lấy.
Nhà tu hành: Người tu hành.
Nắn bóp: Nắn và bóp.
Thơ ngây: Ngây thơ.
Bia: Rượu giải khát.
Nhà trường: Trường học.
Lâu đài: Lầu và đền đài.
Cuốn sách dày ngàn trang kia còn chứa đựng lắm cách giải nghĩa ngô nghê khác nhằm giữ tính trong sạch cho tiếng Việt khỏi bị mai một, hoặc bị thế lực thù nghịch đan tâm soán đoạt đổi thay. Vì sự bất đồng giữa hai vùng miền, các em cũng bỏ công thu thập cái khác biệt nọ kia:
Bắc bảo kỳ, Nam kêu cọ
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi
Bắc quở gầy, Nam than ốm
Bắc cáo ốm, Nam khai bệnh
Bắc đến muộn, Nam la trễ
Nam mần sơ sơ, Bắc làm lấy lệ
Bắc ùn tắc Nam dồn cục
Bắc bảo ban Nam dạy dỗ
Bắc bố mẹ Nam tía má
Nam đù má Bắc đéo mẹ.
Dần dà thơ ngây bỏ đi một lèo chẳng quay đầu. Thú vị và chất nghệ sĩ nương náu trong em cũng đoạn tuyệt khi các em chạm mặt với bao hung hiểm mà cuộc đời mãi hào phóng trao tay. Nghi kỵ, bạc ác, tráo trở ập đến. Tuổi 17 không thể bẻ gãy sừng trâu, nhưng có thể làm ra bài thơ tương tự như của tác giả Nguyễn Phương đăng tải trên Facebook. Bài mang tên dài “Thế là anh bộ đội được nhập băng của Bác”:
Đêm nay Bác không ngủ- thì kệ mẹ Bác đi.
Anh đội viên thức dậy
thấy ba lô mất rồi
mà sao Bác vẫn ngồi
anh nghi ngờ Bác lấy
Bác ơi Bác có thấy
ba lô của cháu không?
Chú làm mất của công
phải trình lên đảng uỷ
nhưng nghĩ tình đồng chí
anh bày chú cách này
nội ngay trong đêm nay
chôm ba lô thằng khác
Anh đội viên nhìn Bác
Bác nhìn ánh lửa hồng
lòng sung sướng mênh mông
anh nhập băng của Bác.
Không còn thầy cô đứng bên lưng uốn nắn. Nhưng gạch đá của trường đời đã ném tới tấp thằng “nhà thơ”phản động kia. Nào lạ gì khi tác giả đang sống trong một quốc gia có hơn 240 vị phó chủ tịch Tỉnh, 122 Thứ trưởng, không dưới 35.000 Tiến sĩ và một bộ phận không nhỏ thủ đắc thứ đầu óc nhiều chất xám siêu khủng. Hắn bị nguyền rủa nhưng phước cho hắn, đất nước xây nhà tù nhiều hơn trường học này vẫn lần khân chưa vui chân đến bắt hắn nhập kho.
Được voi đòi hai bà Trưng, hắn sẽ loan tin việc học viện Phật giáo Larung Gar đang bị Trung quốc phá huỷ để giảm dân số từ 50.000 xuống còn 5.000. Hắn sẽ giật tít: “Bây Chừ Tây Tạng, Mai Này Việt Nam”. Không quên viết bài luận “tả con ong”: Chẳng ai để tâm tới một con ong, nhưng khi cả triệu con ong hợp lại, ngay đến cả cái được gọi là dũng cảm cũng phải trốn chạy trong sợ hãi. Chính quyền chỉ sợ một điều, đó là ngày mà chúng ta cùng đứng lên.
Điều đó thật thú vị. Hắn có trẻ con không? Hắn có nghệ sĩ không? Cầu mong cho hắn đừng như con trâu bị ruồi bâu. Đừng như con chim bị vỡ tim. Lỗi lầm ngày ấy đã qua rồi, “thép đã tôi thế đấy”. Hy vọng hắn đang làm “người lớn” theo cách hiểu của cụ Tản Đà.
Hồ Đình Nghiêm
Nguồn: Tác giả gửi



















