Nguyễn Mạnh Trinh, nhà văn hay nhà thơ

Posted: 03/08/2016 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Trần Văn Nam
Thẻ:

Trần Văn Nam

nguyen_manh_trinh
Nguyễn Mạnh Trinh, tác giả “Tạp Ghi văn Nghệ”,
sách dầy 622 trang, Người Việt xb. năm 2007

Nguyễn Mạnh Trinh là người viết nhiều bài báo về văn chương, và trước đây thơ ông cũng thường xuất hiện trên các diễn đàn văn học hải ngoại. Nhưng chưa thấy ông cho đăng một truyện ngắn nào, không như một số người vừa sáng tác thơ vừa sáng tác truyện. Hỏi ra ông cũng đã từng viết một truyện dài bốn trăm trang, gần như là một tự truyện kể lại từ ngày ông mất dịp ra đi bằng máy bay khu trục phản lực năm 1975 (nhờ mất dịp ra đi dù đã lên máy bay mà tự ý leo xuống để nhường cho một người khác cần rời khỏi VN hơn, do đó mà ông thoát chết, vì máy bay phản lực khu trục này đã gặp nạn không ai sống sót khi đáp xuống Thái Lan); và tự truyện cho đến khi coi như ông đã có một đời sống ổn định nghề nghiệp nơi xứ người. Câu chuyện kết thúc bằng những trang viết về cảm nghĩ buồn xa xôi một đời người tuy đã lên tới đỉnh bình yên: định cư nơi đất tốt, đời sống sung túc, vậy mà vẫn thấy khao khát một ước nguyện nào đó chưa thành, nên muốn lao xuống hay rời khỏi đỉnh bình yên. Ta liên-hệ mơ hồ giữa hai sự kiện: rời xuống máy bay để nhường cho bạn và rời xuống đời bình yên để bận tâm việc viết lách văn học. Ðại ý tương tự “Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời” của nhà văn Mai Thảo, nhưng ước nguyện lao xuống vực của Mai Thảo do động lực siêu hình bí ẩn, còn ước nguyện vượt xa hơn đỉnh của Nguyễn Mạnh Trinh tiềm ẩn ước nguyện hoàn thành một sự nghiệp văn học mà ông coi như chưa đạt tới. Truyện dài này đã viết xong, nhưng ông không thấy hứng xem xét lại để cho đăng tải hoặc xuất bản; ngoài ra Nguyễn Mạnh Trinh chưa từng viết một truyện ngắn nào, vậy kể như ông không mặn mòi với sáng tác bằng văn xuôi.

Không mặn mòi sáng tác văn xuôi, nhưng Nguyễn Mạnh Trinh viết bài cho báo rất thường xuyên, nguồn lực viết sung mãn, vẫn đang giữ mục “Tạp ghi văn nghệ” hàng tuần trên nhật báo Người Việt ở Quận Cam, California. Ði tìm nguồn lực viết sung mãn này, tạm thấy có bốn động cơ khiến Nguyễn Mạnh Trinh gắn bó với nhiệm vụ viết báo: Nhu cầu của Nhật báo cần có một người viết khả năng và yêu văn học nhiệt tình như Nguyễn Mạnh Trinh – Muốn là người cập nhật hóa những xuất bản văn chương hải ngoại – Từ những bài báo mà bày tỏ thái độ chính trị – Từ những bài báo mà đồng cảm những rung động thi ca kể cả trong truyện và thơ.

Nguyễn Mạnh Trinh thiết tha với văn học. Ai là người từng lui tới Quận Cam và có ít nhiều liên hệ tới sinh hoạt văn chương, mỗi cuối tuần thường thấy ông lai vãng ở những nhà sách Việt, ở những tiệm bán sách cũ của người Mỹ, ở một vài quán cà phê lui tới của giới thích bàn chuyện văn chương. Và nguyện vọng cho đời mình có được những thành tựu văn học đã bày tỏ trong tập tự truyện 400 trang đã nói ở trên, đôi lần nhắc lại ước nguyện đó như trong một bài thơ rất sâu lắng nỗi buồn: “Mưa buổi sáng trên xa lộ phía Nam”. Vì vậy, ông đã bám sát để hiểu biết những sinh hoạt văn chương hải ngoại. Cho nên ông rất thích hợp giữ vai trò thẩm thấu văn chương để viết thành những tạp ghi văn nghệ; thẩm thấu mà viết ra, không phải chỉ ghi chép kê khai những sinh hoạt xuất bản văn chương. Và viết báo vì lòng đam mê, bên cạnh nghề chuyên môn để sinh sống mà ông đã có. Hàng tuần viết một bài văn chương đáng tin cậy cho tờ nhật báo lớn, không phải ai cũng làm được như Nguyển Mạnh Trinh.

Việc làm khá công phu, nhờ ông có theo dõi sinh hoạt văn chương để sự hiểu biết tương đối đầy đủ mà viết ra. Và viết ra, xin lặp lại, không có tính cách kê khai. Ông muốn cập nhật hóa những giá trị cũng như những bất đạt của nền văn chương hải ngoại, điều này cũng đã từng biểu hiện trước đây trong một số cuộc phỏng vấn các nhà văn nhà thơ đang có mặt ở xứ người. Ông là khuôn mặt quen thuộc trong báo giới hải ngoại, nên không cần phải leo lên để cầu nổi bật qua các bài phỏng vấn các nhà văn nhà thơ lớn, nói rõ là phỏng vấn cốt để khám phá vài chân dung văn học đã từng có tác phẩm để đời: “Phỏng vấn là phương cách sáng tạo chứ không phải như những người nông cạn cho rằng đó là một phương cách núp bóng cổ thụ của những cây tầm gửi.” (Tạp Ghi Văn Nghệ trang 590, trong bài Ðọc Người Tình, Nghĩ Về Marguerite Duras.)

Ðể ý cũng thường thấy Nguyễn Mạnh Trinh đề cập đến các tác giả và tác phẩm liên hệ đến chính trị, qua đó ông bày tỏ lập trường không thân với chính quyền cộng sản ở trong nước. Vậy viết tạp ghi văn nghệ cũng là những dịp chống đối chế độ, bày tỏ mối bất bình với các nhà văn thơ tiền chiến ủng hộ Xã Hội Chủ Nghĩa và bày tỏ mối cảm tình với những nhà văn nhà thơ gặp khó khăn từ biến cố Nhân Văn Giai Phẩm. Là sĩ quan trực thuộc ngành kỹ thuật không quân thời Việt Nam Cộng Hòa, từng đi tù cải tạo và đi vùng kinh tế mới sau 1975, đó chỉ mới là một nguyên nhân khiến ông không ưa chế độ. Nguyên nhân chính có lẽ là Chủ Nghĩa Cộng Sản đã làm cho gia đình tổ phụ của ông khốn đốn vì thuộc thành phần mà Chủ Nghĩa Cộng Sản không ưa từ hồi còn ở ngoài Bắc, trước khi di cư vào Nam năm 1954. Ta có thể đoán được điều này qua một đoạn kể về gia thế của tổ phụ ông đã lâu đời ở bên dòng Sông Ðuống: “Quê nội tôi là một làng nhỏ ven bờ sông Ðuống… Tôi thường hay nghe cha mẹ tôi nhắc đến ngôi nhà thờ có những bậc thềm cao đầy những hoành phi câu đối của một thời hưng vượng. Những cây nhãn, cây bưởi mà tuổi tác cũng ngang với những đứa trẻ trong họ bây giờ đã sống tán lạc ra mấy phương trời… Rặng tường hoa dọc theo bờ ao, những mảnh sứ cẩn lóng lánh mầu nắng. Hai cổng gạch và cánh cửa sắt như tượng trưng cho oai phong của dòng tộc…” (Tạp Ghi Văn Nghệ, trang 313- 314, trong bài Hoàng Cầm, Bên Kia Sông Ðuống).

Nguyễn Mạnh Trinh có nhiều thơ đăng trên nhiều Tạp chí Văn học hải ngoại, xuất hiện rất sớm trong nền thi ca ngoài nước, chỉ vài năm sau 1975. Về văn xuôi, ông cũng có nhiều bài viết thấm đượm chất thơ. Trong sách Tạp Ghi Văn Nghệ mới xuất bản, riêng các bài bàn về thơ và các nhà thơ đã chiếm số lượng gần ba mươi bài trong tổng số bảy mươi bài của cuốn sách. Có nhiều bài liên hệ đến thi ca như vậy là vì ông là người yêu thơ. Viết tạp ghi văn nghệ để đồng cảm với thơ của người khác; hoặc bất đồng cảm với thơ của vài thi sĩ hữu danh thời tiền chiến nhưng nay thì đã ngã về thơ Hiện Thực Xã Hội Chủ Nghĩa như Xuân Diệu, Nguyễn Ðình Thi. Riêng Huy Cận thì Nguyễn Mạnh Trinh tỏ lòng ngưỡng mộ sự trung thực với tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn không dời đổi ở nơi ông. Cảm thơ của người khác, đặc biệt thấm đẫm khi Nguyễn Mạnh Trinh có liên hệ đồng cảnh với những mô tả trong thơ của người khác. Ðồng cảm từ đồng cảnh, như ông đã từng ở Pleiku trong thời Chiến Tranh Việt Nam, nên đã rung động sâu sắc thơ của Vũ Hữu Ðịnh nói về đời lính khao khát có được một người tình khi đang ở nơi tiền đồn heo hút, chẳng vậy mà ông nhắc thơ Vũ Hữu Ðịnh đến hai lần với những cảm nghĩ viết ra rất thơ; ý tưởng gần như là giống nhau giữa hai bài, một trong sách Tạp Ghi Văn Nghệ vừa mới xuất bản (trang 59) và một trong bài “Kim Tuấn, nhà thơ vừa ra đi”: “Thành phố đó thì buồn nhưng xa thì lại nhớ, không biết vì sao. Mưa thì lê thê và đất đỏ sình lầy, những con phố ngắn, những rạp cinema quê mùa chiếu những phim cổ lỗ, những buổi khuya buồn thiu lạnh buốt trở về trại trong phi trường Cù Hanh, có gì hấp dẫn mà sao khi nhắc lại vẫn thấy bồi hồi… Ở nơi này có nhiều nhà văn nhà thơ thành danh từ những dòng chữ viết đầu tiên. Vũ Hữu Ðịnh của “phố núi cao phố núi đầy sương, phố núi không xa nên phố núi tình thân”, bây giờ cũng thành người thiên cổ. Và, bây giờ, Kim Tuấn, cũng ra đi. (Nhật báo Người Việt, số ra ngày 21 tháng 9 năm 2003.)

Với bốn động cơ thúc đẩy Nguyễn Mạnh Trinh viết Tạp Ghi Văn Nghệ (một nhan đề sách khá khiêm tốn), trong đó ba động cơ có thể kể thuộc hẳn lãnh vực văn xuôi. Xin được lặp lại; một do nhu cầu của nhật báo cần người viết ghi nhận bằng cảm nghĩ văn chương về những sinh hoạt văn học hải ngoại; hai do chính tác giả muốn cập nhật hóa những giá trị văn chương hải ngoại mà ông tự thấy có bổn phận phải làm việc ấy, trước đây đã từng manh nha trong các bài phỏng vấn; ba là qua ghi nhận văn nghệ mà bày tỏ lập trường chính trị do những hệ lụy thời thế có một phần nào riêng tư đối với bản thân gia thế tổ phụ của ông. Chỉ còn một động cơ có thể liệt vào lãnh vực thi ca, đó là qua thơ người khác bày tỏ sự đồng cảm bằng một tâm hồn thơ. Ngoài ra, văn viết của Nguyễn Mạnh Trinh cũng đôi khi nghiêng về thơ nên đọc thấy gợi cảm. Viết càng đượm vẻ thi tính khi ông đề cập những tác phẩm văn xuôi trong đó có mối đồng cảnh gợi lại kỷ niệm nơi cư trú của một thời niên thiếu. Chẳng hạn khi đề cập đến tập sách nhỏ “Những bước lang thang của gã Bình Nguyên Lộc”, Nguyễn Mạnh Trinh đã viết những trang đẹp có nhiều chất thơ do cảm xúc đồng cảnh trong thời gian đầu khi di cư vào Nam năm 1954: “Tôi sống và lớn lên từ một xóm lao động bên con rạch Tàu Hủ nên khi đọc những trang sách của Bình Nguyên Lộc lại thấy gờn gợn trong lòng những cảm xúc. Những cây cầu Cây Gõ, Bình Tây,Nhị Thiên Ðường, Xóm Củi với dốc cao vời vợi nhìn theo những tà áo trắng. Những con đường Hàng Bàng, Mễ Cốc ven con kinh buổi chiều đi học về lộng gió. Ở đó là một phần tuổi trẻ”. (Nhật báo Người Việt, số ra ngày 13 tháng 5 năm 2007.)

Nguyễn Mạnh Trinh đã xuất bản một thi phẩm từ rất lâu, gần 20 năm rồi. Thơ của ông cũng đã hiện diện từ rất lâu trong các tuyển tập và trên các diễn đàn văn chương hải ngoại. Ông cũng có nhiều bài văn xuôi viết bằng tâm hồn thơ, song hành đồng cảm thơ của các tác giả ông bàn tới. Nhưng Nguyễn Mạnh Trinh cũng chủ tâm về cấu trúc hành văn và nhuần nhuyễn viết văn xuôi với nguồn sung lực. Và bây giờ là cuốn sách văn học khá đồ sộ. Mặc dù không mặn mòi với sáng tác truyện, nhưng với những thành tựu gần như cân bằng ấy, ta có thể kết luận ông vừa nhà văn vừa là nhà thơ.

Trần Văn Nam
City of Walnut, California
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.