Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến – Thỏ miền Nam & Thế hệ a còng

Posted: 14/04/2017 in Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi, Tưởng Năng Tiến

Tưởng Năng Tiến

Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư… (Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh)

Tôi đọc được câu văn dẫn thượng trong cuốn Đường Xưa Lối Cũ, do Millennium xuất bản vào năm 2009. Bìa sau của tác phẩm này có ghi “đôi dòng về tác giả” như sau:

“Sanh năm 1925 tại Phát Diệm, Ninh Bình, cử nhân Văn Khoa, tốt nghiệp CĐSP (Hà Nội 1954). Từ năm 1950, ông đã dạy nhiều trường tại Hà Nội, Đà Lạt và Sài Gòn …

Trước 1975, ông soạn nhiều sách biên khảo và giáo khoa về văn chương và lịch sử Việt Nam. Ông cũng từng là cựu nghị sĩ, thượng viện VNCH. Hiện ông ở tại miền Nam California, vẫn làm thơ và viết văn.”

Té ra ông anh là dân Bắc Kỳ di cư vào Nam, rồi nhận vùng đất mới làm quê hương (chắc) vì nó quá dễ thương và cũng hơi … dễ dụ: “Bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ, hồn nhiên và vô tư…”

Trời, tưởng gì chớ “hồn nhiên” và “vô tư” thì kể như là hết biết: Ra đường gặp vịt cũng lùa. Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu!

Dân gian đã ghi như vậy từ lâu rồi mà. Sách báo, tài liệu hàn lâm cũng thế. Hổng tin, đọc thử mục lục của giai phẩm Bách Khoa số cuối cùng – phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 1975 – mà coi:

– Trần Văn Khê: Nhạc Việt Xứ Người
– Trần Văn Tích: Đọc Sách Dịch Lãn Ông
– Tạ Tỵ: Nhận Xét Về Triển Lãm Hội Họa Pháp Quốc
– Đỗ Hồng Ngọc: Ông Nguyễn Hiến Lê Và Tôi
– Bách Khoa: Ông Nguyễn Hiến Lê và Tác Phẩm Thứ 100
– Võ Phiến: Nhân Đọc Bản Thảo Cuốn “Nguyễn Hiến Lê” của Châu Hải Kỳ
– Bách Khoa: Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn
– Minh Đức Hoài Trinh: Hỏi Cô Đơn (thơ)

Coi: miền Nam – rõ ràng – mất tới nơi rồi mà qúi vị thức giả của vùng đất này đều bình chân như vại và vẫn chỉ bận tâm đến thơ văn, hội họa, âm nhạc… thôi. Nguyên cả số báo Bách Khoa số cuối – số 426– chỉ có vài trang quan tâm đến giới văn nghệ sĩ (“Ai Còn Ai Mất”) trong cơn binh lửa, và một bài phỏng vấn (“Đàm Thoại Với Hoàng Ngọc Tuấn Về Huế và Ban Mê Thuột”) có liên quan đến thời cuộc nhưng nội dung ghe như một cuộc nhàn đàm.

Hỏi: Giờ đây chúng ta không còn Ban Mê Thuột, anh có cảm tưởng thế nào?

Đáp: Dân ghiền cà phê như tôi lo lắm. Vì chắc chắn cà phê sẽ lên giá khủng khiếp …

Hỏi: Một bài học hay một kinh nghiệm sau cuộc di tản này?

Đáp: Tóm lại, làm người Việt Nam lúc này thật quá khó khăn và khổ sở. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cố vượt qua những chông gai và độc địa cay đắng nhất của chiến tranh, để sớm đến cửa ngõ của hoà bình.

Thiệt đúng (y chang) như nhận xét của Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh là “bà con miền Nam mình thiệt nhẹ dạ, chẳng khác gì con thỏ.” Ngay cả loài thỏ (e) cũng không “vô tư” quá xá như vậy. Làm gì có con thỏ nào ngồi chờ cho chó sói tới trước cửa hang, nhe răng trắng ởn (ngó thấy ghê) mà vẫn còn mơ tưởng đến chuyện sống an bình với … sói!

Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn, nói nào ngay, không phải là người dân Nam Bộ duy nhất ngây thơ đến thế đâu. Trước tháng 4 năm 1975, ở vùng đất này, biết bao người đã cùng Thượng Toạ Thích Nhất Hạnh “Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện”!

Sống trong một đất nước chiến tranh thì hoà bình, tất nhiên, là ước vọng chung của rất nhiều người. Thiên hạ chưa thấy quan tài nên chưa đổ lệ mà!

Trong một cuộc phỏng vấn, dành cho tạp chí Văn (số ra tháng Ba năm 1972) khi được hỏi “âm thanh của hai chữ hoà bình gợi lên điều gì cho ông,” thi sĩ Viên Linh đã trả lời rằng: “Tiếng máy xình xịch của xe hoả, khói phun trắng xoá đường rầy, để tôi có thể làm như Tản Đà, chán Sài gòn thì nhẩy tầu ra Hà Nội. Chán Hà Nội thì nhẩy tàu vô Nam. Và dừng lại chiếc ga xép nơi tôi đã ra đời, đã chơi đùa với con tầu sắt suốt thời niên thiếu: ga Đồng Văn.”

Tương tự, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã mường tượng đến một viễn ảnh thanh bình vô cùng cảm động, khiến cho thính giả phải say lòng: “Khi đất nước tôi không còn giết nhau. Trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường.”

Hơn bốn thập niên sau, sau khi chiến tranh đã chấm dứt, tuyệt nhiên, vẫn chưa thấy một đứa trẻ Việt Nam nào “đi hát đồng dao” như dự ước. Vỉa hè của xứ sở này – giờ đây – có chăng chỉ là những đứa bé đi bán hàng rong, đi bán vé số, đi ăn xin, hay đi hát dạo kiếm ăn thôi.

Lớp nhi đồng chào đời trước và sau ngày hoà bình/thống nhất cỡ chục năm (với mộng tưởng được hát đồng dao) nay đều đã thành nhân. Họ may mắn lớn lên trong một “thế giới đang bị san phẳng,” và được sở hữu mọi phương tiện truyền thông tân kỳ nên nên dễ dàng nhận ra được sự tha hoá, bất cập (và bất nhân) của chế độ hiện hành.

Những người trẻ được mệnh danh thuộc Thế Hệ A Còng ở Việt Nam, ngày nay, chả ai còn nhẹ dạ, vô tư và hồn nhiên như lớp cha anh – ở miền Nam – ngày trước nữa. Ngược lại, không ít kẻ đang rất bận lòng vì những vấn đề nóng bỏng của quê hương và đang “khóc cười theo vận nước nổi trôi.”

Xin ghi lại tên tuổi của một số bạn mà tôi đã được “nghe danh” qua những bản án (“bỏ túi”) ở Việt Nam:

– Nguyễn Xuân Anh, sinh năm 1982, ra tù ngày 7/ 8/ 2013.
– Nông Hùng Anh, sinh năm 1983, ra tù ngày 5/6 /2014.
– Trần Vũ An Bình, sinh năm 1974, bị bắt tháng 12 năm 2012, đang bị giam giữ.
– Nguyễn Vũ Bình, sinh năm 1968, ra tù ngày 9/6/ 2007.
– Nguyễn Công Chính, sinh năm 1964, bị bắt ngày 28/ 4/ 2011, đang bị giam giữ.
– Đoàn Huy Chương, sinh năm 1985, ra tù lần hai ngày 13/ 2/ 2017.
– Nguyễn Đình Cương, sinh năm 1981, ra tù ngày 24/12/ 2015.
– Đặng Xuân Diệu, sinh năm 1979, ra tù ngày 12 /1/ 2017.
– Nguyễn Hữu Quốc Duy, sinh năm 1985, bị bắt tháng 11 năm 2015, đang bị giam giữ.
– Nguyễn Văn Duyệt, sinh năm 1980, ra tù ngày 30/1/ 2015.
– Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1970, bị bắt lần thứ hai ngày 16 tháng 12 năm 2015, đang bị giam giữ.
– Lê Công Định, sinh năm 1968, ra tù ngày 06/ 2/ 2013.
– Nguyễn Văn Điển, sinh năm 1983, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.
– Lê Thu Hà, sinh năm 1982, bị bắt ngày16/ 12/ 2015, hiện đang bị giam giữ.
– Phan Thanh Hải, sinh năm 1969, ra tù ngày 1/ 9/ 2013.
– Phạm Bá Hải, sinh năm 1968, ra tù ngày 7/ 9 / 2011.
– Đỗ Thị Minh Hạnh, sinh năm 1985, ra tù ngày 26/ 6/ 2014.
– Bùi Thị Minh Hằng, sinh năm 1964, ra tù ngày 11/ 2/ 2017.
– Hồ Đức Hoà, sinh năm 1974, bị bắt ngày 30/ 7/ 2011, đang bị giam giữ
– Lê Anh Hùng, sinh năm 1973, bị đưa vào trại tâm thần hôm 24 tháng 1 năm 2013, và được thả ngày 5 tháng 2 cùng năm.
– Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, sinh năm 1981, bị bắt tháng 02 năm 2010, đang bị giam giữ
– Vũ Hùng, sinh năm 1966, ra tù ngày 19/ 8 / 2011.
– Việt Khang, sinh năm 1978, ra tù ngày 14/ 2/ 2015.
– Hồ Thị Bích Khương, sinh năm 1967, ra tù ngày 15/1/ 2016.
– Lê Thăng Long, sinh năm 1967, ra tù ngày 10/ 6/ 2012.
– Nguyễn Đặng Minh Mẫn, sinh năm 1985, bị bắt ngày 31/ 7/ 2011, đang bị giam giữ.
– Trần Thị Nga, sinh năm 1978, bị bắt ngày 21/ 1/ 2017, đang bị giam giữ.
– Phạm Thị Thanh Nghiên, sinh năm 1977, ra tù ngày 18/ 9/ 2012.
– Lê Thị Công Nhân, sinh năm 1979, ra tù ngày 06/ 3/ 2010.
– Trương Duy Nhất, sinh năm 1964, ra tù ngày 26/ 5/ 2015.
– Nguyễn Văn Oai, sinh năm 1981, ra tù ngày 2/8/ 2015.
– Hồ Văn Oanh, sinh năm 1985, ra tù ngày 16/ 2/ 2014.
– Lê Quốc Quân, sinh năm 1971, ra tù ngày 27/6/ 2015.
– Ngô Quỳnh, sinh năm 1984, ra tù ngày 01/ 07/ 2011.
– Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, sinh năm 1979, bi bắt ngày 10/10/ 2016, đang bị giam giữ.
– Lê Văn Sơn, sinh năm 1985, ra tù ngày 3/ 8/2015.
– Phạm Hồng Sơn, sinh năm 1968, ra tù ngày 30/8/ 2006.
– Tạ Phong Tần, sinh năm 1968, ra tù ngày 19/09/2015.
– Vũ Quang Thuận, sinh năm 1966, bị bắt ngày 3/3/ 2017, đang bị giam giữ.
– Nguyễn Thị Minh Thúy, sinh năm 1980, bị bắt tháng 5 năm 2014, đang bị giam giữ.
– Trần Thị Thúy, sinh năm 1971, bị bắt tháng 8 năm 2010, đang bị giam giữ.
– Trần Huỳnh Duy Thức, sinh năm 1966, bị bắt ngày 24/5/ 2009, đang bị giam giữ.
– Nguyễn Trung Tôn, sinh năm 1972, ra khỏi tù ngày 15/01/2013.
– Lê Thanh Tùng, sinh năm 1968, bị bắt lần thứ hai ngày 24/12/2015, đang bị giam giữ.
– Phạm Văn Trội, sinh năm 1972, ra tù ngày 1/9/2012.
– Nguyễn Bắc Truyển sinh năm 1968 ra tù ngày 17/5/2010.
– Nguyễn Tiến Trung, sinh năm 1983, ra tù ngày 12/4/2014.
– Lê Trí Tuệ, sinh năm 1978, biệt tích từ ngày 17/05/2007.
– Huỳnh Anh Trí, sinh năm 1971, ra tù ngày 29/12/2013, từ trần ngày 5/0/2014.
– Huỳnh Anh Tú, sinh năm 1968, ra tù ngày 29/12/2013.

Tôi vô cùng tiếc vì trí nhớ đã bạc nhược nên đã không ghi chép được tuổi của tất cả các bạn đã (và đang) phải chịu cảnh giam cầm, ở khắp mọi nơi. Đó là chưa kể đến vô số những nhân vật khác, những công dân Việt Nam đang bị bạo quyền quấy nhiễu hay đe doạ đến mạng sống (hàng ngày) chỉ vì bầy tỏ nỗi bận tâm đến sự an nguy của tổ quốc.

Vì sự giới hạn của một bài báo ngắn chúng tôi không thể (và có lẽ cũng không cần thiết) nêu danh của hết thẩy mọi người trong những trang sổ tay bé bỏng này. Chỉ xin được ngỏ lời chân thành cảm ơn các bạn đã giúp chúng tôi, những công dân lão hạng, cảm thấy được an tâm (hơn) khi nghĩ đến tương lai đất nước.

Tưởng Năng Tiến
Nguồn: Tác giả gửi bài và ảnh

Đã đóng bình luận.