Đọc Trăng Ngục của Phùng Cung

Posted: 19/07/2017 in Giới Thiệu Sách / Điểm Sách, Trần Triệu Hoàng

Trần Triệu Hoàng

Đây là bài giới thiệu Trăng Ngục của Phùng Cung trong buổi ra mắt sách Truyện và thơ Phùng Cung, do Trung Tâm Dân Chủ Cho Việt Nam ấn hành và tổ chức ra mắt tại Montreal tháng 3 năm 2004. Nội dung bài giới thiệu này dựa trên tập sách xuất bản lần đầu vào năm 2003 có tựa là “Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa hề xuất bản.” vì người giới thiệu khi viết chỉ có quyển sách này. Về phần thơ “Trăng Ngục” ở hai lần xuất bản không có thêm bớt gì, chỉ khác là trong lần tái bản có thêm tập thơ Xem Đêm. TTH)

Dẫn nhập

Trăng Ngục là phần thứ hai của quyển Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa hề xuất bản gồm 35 bài thơ mà Phùng Cung đã sáng tác trong thời gian từ 1961 đến 1972, là thời gian tác giả bị cầm tù trong các trại tù Cộng sản. Ít người biết đến thơ Phùng Cung. người ta chỉ biết ông là một nhà văn có truyện đăng trên Nhân Văn, trong thời “Nhân văn Giai Phẩm”. Truyện ngắn “Con Ngựa Già của Chúa Trịnh” đăng trên Nhân Văn, tháng 10 năm 1956 khiến ông bị Cộng Sản trù dập và bắt tù đầy trên 12 năm. Những sáng tác của ông không có cơ hội đưa ra công chúng. Chỉ truyền nhau trong những bạn bè, người thân. Theo lời Nguyễn Chí Thiện kể thì ở trong tù có người thấy ông ngồi một mình miệng lẩm bẩm, bấm ngón tay như người điên. Đó là lúc ông đang tìm chữ làm thơ và cố đọc, cố nhớ những bài thơ của mình.

Năm 1995, nhờ sự giúp đỡ và khuyến khích của Nguyễn hữu Đang và Phùng Quán, Phùng Cung mới gom những bài thơ đã làm vào nhiều thời điểm khác nhau in thành tập thơ Xem Đêm.

Xem Đêm gồm khoảng 200 bài thơ ngắn. Nhiều bài chỉ có ba câu. Rất xúc tích. Rất đẹp. Như bài Bèo chỉ có 3 câu: (đúng ra là một cặp lục bát)

Lênh đênh muôn dặm nước non
dạt vào ao cạn
vẫn còn lênh đênh.

Toàn tập thơ toát ra một cái thần thái thanh thoát, trầm tĩnh, một tình yêu đằm thắm, sâu đậm của tác giả đối với đất nước, với quê nhà, vớí người, với cầm thú, với thiên nhiên cây cỏ, con sâu, cái kiến… muôn loài. Xem Đêm cũng là cảnh sống và tình tự về quê hương tác giả.

Xin đọc vài bài:

Đò Khuya

Đêm về khuya;
Trăng ngả màu hoa lý
Tiếng gọi đò
Căng chỉ ngang sông.

Mỗi bài chỉ vài câu thôi đã tô đậm nét đặc thù của cảnh sắc. Đêm khuya, ánh trăng trong sáng, được tác giả nhìn ra màu hoa thiên lý. Hoa thiên lý có màu xanh rất nhẹ nhàng, rất trong mát. Và trong khung cảnh yên tịnh đó, vang lên tiếng gọi đò. Tiếng gọi thẳng tắp, không tiếng vang vọng, không tiếng dư âm. Bến đò vắng, không hàng quán, không người tụ tập ồn ào như những bến đò trên các trục lộ giao thông, nhiều xe cộ, người đi tấp nập. Tiếng gọi đò về khuya, khúc sông vắng, không bị nhiễu xạ, như sợi chỉ căng ngang sông.

Vạc

Nắng – đạp cánh đồng xơ xác
Bước liêu xiêu
Cái vạc ăn ngày.

Vạc là giống chim đi kiếm ăn đêm. Trên cánh đồng xơ xác.Trời nắng, con vạc bước liêu xiêu đi kiếm ăn ban ngày. Cái vạc “ăn ngày” cũng như “con cò mà đi ăn đêm” .Đây bóng dáng người thôn quê trong cuộc sống khó khăn. Trong nghịch cảnh.

Bài Mồ Hôi Xương viết tặng vợ:

Em vất vả
Tối ngày tất tả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này
Vắt tận trong xương.

Người đàn bà làm việc vất vả, mồ hôi vã ra, thấm vào áo nâu /đen. Lúc khô đi, mồ hôi khô thành vết trắng trên lưng áo. Tác giả thấy nó “vắt tận trong xương” thi quả là đã cảm thông một cách sâu xa nỗi vất vả, tận tụy của vợ. Tài tình quá.

Nhưng tiếc là tập thơ Xem Đêm đã được in một cách hết sức khiêm nhường và không được nói tới nhiều. ít ai biết tới.

(Bài nói chuyện hôm nay, chỉ xin giới thiệu Tập Thơ Trăng Ngục.)

Giới thiệu Trăng Ngục (Tâm tư và niềm bi phẫn của Phùng Cung)

Một số bài thơ Phùng Cung sáng tác trong ngục tù, cũng thấy in trong Xem Đêm, như bài Gãi Đất, Mẹ, Gươm Báu, Tử Thương (trong Xem Đêm thì đổi là Vĩnh Cửu), nhưng một số câu đã bị cắt đi, một vài chữ bị sửa . Đọc trong Trăng Ngục ta thấy có những bài cùng tựa nhưng có nhiều câu thêm vào hoặc thay đổi làm cho nội dung khác đi. Trong hoàn cảnh sống của tác giả, khó phân biệt được bài nào làm trước bài nào sau. Rất có thể nhiều bài đã được sáng tác trước,ít phẫn nộ, gay gắt như trong Xem Đêm Đến khi nhận ra bộ mặt giả dối, tàn ác, phản bội dân tộc của CSVN, ông mới thêm những câu tố cáo tội ác và phản bội đó vào thơ.

Bài Gãi Đất, chẳng hạn, trong Xem Đêm chỉ có tám câu:

Giặc quấy
Làng queo quắt
Tụi trẻ đi…đi hết
Dờ dệt sức già gãi – đất
Ngô phong cờ
Chó chạy hở đuôi
Cái đói – tròn –
Lăn kín bốn mùa.

Trong Trăng Ngục thì dài hơn và ý nghĩa khác hẳn

Ai quấy nhiễu
Xóm làng queo quắt
Biết thì biết
Không dám vạch mặt – chỉ tên
Chính chúng nó
Phường Cộng Sản
Lái buôn binh lửa
Ôi ! binh lửa triền miên
TuổI trẻ gái – trai
Bị lôi đi – đi hết
Dờ dịt sức già – gãi đất
Ngô phong cờ
Chó chạy hở đuôi
Cái đói tròn lăn kín bốn mùa.

Bài trên là cảnh xóm làng vắng vẻ vì giặc quấy nhiễu, tụi trẻ đi hết, chỉ còn những ngườì già, cào đất kiếm sống, đói quanh năm.

Bài dưới khác hẳn. Không phải là giặc quấy nhiễu, không phải là tụi trẻ đi hết, mà là bị lôi đi hết, cả trai cả gái để đưa vào chiến trường miền Nam.. Kẻ khuấy nhiễu xóm làng, lôi bọn trẻ đi hết ,tác giả chỉ đích danh nó là “Phường Cộng sản Lái buôn binh lửa.”

Phùng Cung cũng như nhiều thanh niên thời ông đã theo kháng chiến chống Pháp, đã cả tin theo Cộng sản, coi nó như một lý tưởng chống thực dân. Nhưng rồi sau khi lấy lại độc lập Công Sản vẫn tiếp tục nuôi dưỡng chiến tranh, vẫn mượn chiêu bài cứu nước,lừa gạt nhân dân, lừa gạt tuối trẻ, đem quân đánh miền nam, đưa cả dân tộc vào vòng nội chiến tương tàn mấy mươi năm. Tham vọng của Cộng sản Quốc tế là muốn xích hoá cả Đông nam Á. Phùng Cung, trong nhiều bài thơ của ông, tố giác Cộng Sản VN gây chiến là “thừa sai áo đỏ

Trời đất uy nghi
Xanh vĩnh cửu
Chim bay hình thánh giá
Muôn phương
Bọn đỏ đê hèn
Xúi xiểm – mưu toan

Cung tên tạo hình thánh giá
Bắn con chim bay
Hình: thánh giá tử thương.
(Tử Thương)

Hoặc

Chuyên gia “xô- chiệc” (Xô là người Nga; Chiệc là người Trung Hoa)
Mưu toan tung bả
Gươm cùn đao rỉ
Thả sức băm nhau
Những vết thương còn chưa liền dấu
Đờm dãi giáo điều
Công Sản thừa sai
Nhắm mắt thét gào
Kẻ thù trước mặt!
Não lòng thay !
Mảnh đất bán khai
Tình nguyện tiền đồn
Đăng cai binh lửa.
(Trận Cuối Cùng)

Cuộc chiến tranh tự hủy diệt đã thí biết bao sinh mạng dân ta, cả nam lẫn bắc. Tuổi thanh niên không đủ đưa vào lò lửa, nhà cầm quyền Công Sản còn bắt cả thiếu niên chưa tới tuổi: “Con vừa mười sáu tuổi đời,

Nửa đêm vay tuổi lấy người chiến tranh
để lại những bà mẹ
“Vắng con nhớ đến bạc đầu cô đơn” .
(Vay Tuổi)

Đây là thảm trạng tuổi trẻ bị Cộng Sản đưa vào chỗ chết, để nuôi dưỡng chiến tranh, trải thảm cho tham vọng Nga,Tầu. Cuộc chiến gây ra biết bao tang tóc. Tàn phá quê hương, đưa dân tộc vào cảnh đói khổ, nghèo nàn. Để lại biết bao nhiêu cô nhi, quả phụ. Đọc thơ “Trăng Ngục ” ta thấy tác giả có trái tim nồng nàn yêu thương. Thương những bà mẹ già cô đơn nhớ con ngoài trận tuyến. Cảm thông với người quả phụ khóc chồng.

Tôi biết em khóc nhiều
Vì chồng em tử trận
Em khóc lúc hừng Đông,
Nước mắt củ hành.
. . . .
Em khóc lúc hoàng hôn
thì quanh em
lộng gió cô đơn

và tác giả hỏi trời:

Có phải nước mắt con người
Đằm đằm dội xuống
Mà trên thiên cầu
Bao vì sao xao xuyến đổi ngôi.
(Nước mắt)

hoặc:

Hòng hõng đợi người chồng tử trận
mấy chục năm rồi
Đã mỏi xanh.
Nước mắt hoa râm
Câm trôi duyên phận
(Mỏi xanh)

Không phải chỉ chiến tranh làm tan nát quê hương, mà chính chế độ chuyên chế vô sản, với chủ nghĩa duy vật giáo điều, với tuyên truyền dối trá, với căm thù giai cấp tàn nhẫn, đã tàn phá quê hương, đọa đầy dân tộc, phá hoại tất cả thuần phong mỹ tục, tất cả các giá trị tâm linh thiêng liêng.. Một đoạn trong bài Xuống Đường, dưới đây đã tả rõ điều đó

Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
“Kiến tạo địa đàng – hạnh phúc “
Khốn nạn thay !
Chân đất đầu trần chót chìa tay
Đã lỡ !
Thảm họa triền miên
Ôi tay chúng cầm lê
Đâm người dấu mặt
Lau vội tay – vu cáo- gây thù
Cha con nghi ngờ
Vợ chồng cảnh giác
Già trẻ xóm giềng
Nhìn nhau len lén
. . .
Nhịp bước thiên triều
Giầy xéo thuần phong mỹ tục
Lăng nhục miếu đền
Sừng sững dựng khải hoàn môn máu
Thò lò muôn mặt Lê Mác- Mác Lê
Lầm than buộc bụng vác cờ
Tung hô bỏng họng
Thiên triêu tiếp sức
Õng ẹo điệu ương ca
Mạ màu mao ít
Ma thuật ngoan tay
Tạt độc dược vào tâm vào não.
. . . . .

Trong bài Vay Nóng, Phùng Cung tố cáo kẻ cầm quyền bất tài vô học, xâm phạm nhân quyền

Đất nước tôi
triền miên bất hạnh
Tụi mặt dầy tay bẩn
tim rắn – lời cừu
văn hoá lớp hai
điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
khỏi nát ngọc nhân quyền.

Và ông nhân danh nạn nhân kêu gọi:

Khẩn xin những quốc gia
Văn minh – từ thiện
Cho dân Việt Nam tôi
Vay nóng chút nhân quyền.

Lời kêu gọi cho “vay nóng chút nhân quyền” bộc lộ một nỗi bi thương, tuyệt vọng trong cảnh con người bị trà đạp, mất hết quyền làm người. Từ “vay nóng” cho thấy tâm trạng bi quan tuyệt vọng dưới ách vô sản chuyên chính. Không hy vọng quyền người được tôn trọng chính thức và lâu bền. “Vay nóng chút nhân quyền” nghe cay đắng và bi thiết quá.

Tuy nhiên không phải lúc nào cũng bi thương, nhà thơ cũng có lúc hào hùng đứng lên biểu dương lòng bất khuất, quyết diệt trừ loài rắn đỏ:

Linh hồn bất khuất
Trên đầu là thượng đế
Dưới chân là mặt đất hiếu sinh
Bức xúc lương tri
Ta phải xuống đường
PhảI xuống đường
Tìm sinh trong tử
Nước mắt mài gươm
Gươm bén dân lành
Ta chắp tay – ngửa mặt
Cầu xin các đấng linh thần
Cho ta sức mạnh phi trần
Đủ tung hoành; xông xáo
Tận cùng hang ổ
Băm xả vào đầu con rắn đỏ.
(Xuống Đưòng)

Có khi, trong tình cảnh thê lương của quê hưong đất nước hiện tại, nhà thơ mơ ước về một quê hương thanh bình, thơ mộng thời xưa.

Chim hãy vì ta
Gọi cành xanh ngóc dậy
Để một lần
Quê hưong thấy lại quê hương.
. . . .
Ôi trong trắng ngày xưa
Tiếng võng nhẹ đưa
Tiếng chị nhẹ ru
Hồn xuân mộng lướt chênh chênh
Khoảng trời xanh cò lả
Nhiễu đế kinh ai gửi làm quà.
(Quê Hương)

Phùng Cung từ trẻ đã từng tham gia kháng chiến chống pháp, đã từng gia nhập đảng Cộng sản. Nhưng từ khi nhìn ra cái độc của chủ nghĩa Mac lê thì ông dứt khoát, quyết liệt bỏ đảng. Có lần Nguyễn Chí Thiện hỏi:

– Anh có hối hận vì đã theo đảng kháng chiến chống Pháp không?

Phùng Cung trả lờI ngay:

– Theo đảng thì hối hận. Kháng chiến chống Pháp thì không.

Trong một bài thơ rất tình, rất lãng mạn là “Đẹp” ông cũng bầy tỏ lập trường đứt khoát này

Sáng nay may mắn ra đường
Đi một quãng
Gặp toàn người đẹp
Tôi sung sướng trào nưóc mắt
Muốn đưa lưng
Làm thảm trải lốI đi
Quyết khước từ bước chân cộng sản
lội máu dân lành
hàng thế kỷ chưa ngơi.

Trăng Ngục là tâm sự của Phùng Cung trong cảnh tù đầy, nghiệt ngã. Nhưng thơ nói về cảnh tù thì ít. Một vài bài, đây đó vài câu. Ở trong tù ông nghĩ đến tình cảnh quê hương đất nước, nghĩ đến những người mê muội bị từ hoa mỹ lừa phỉnh, nghĩ đến những kẻ bị lừa gạt đọa đầy , như cuộc đời một Bé Gái mời chưa đầy 12 tuổi, bố bị tử nạn vì phải đi làm dân công hoả tuyến, mẹ lấy chồng khác, em phải lang thang kiếm sống “bằng nghề dấu diếm”, rồi bị bắt đưa vào “giáo dưỡng” , bị lạm dụng tình dục và cuối cùng chết bên cạnh hố phân. Bài thơ “Em Quỳnh “tác giả đã kể chuyện về cuộc đời em bé đó và tố cáo những con người giả nhân nghĩa mà tàn nhẫn của chế độ. Những “mỹ từ dối trá” lừa gạt trẻ thơ, người lớn, lúc nào cũng oang oang trên đài phát thanh Bắc Việt..Xin quỳ vị tìm đọc bài thơ này.

Từ năm 1967, trong bài thơ “Dòng Sông ” ông đã nêu lên cái sứ mạng của nhà văn, nhà thơ là phải “Nhóm lửa yêu thương. Tin lại con người”

Manh áo cho con,
Tấm khăn biếu mẹ,
Ôi những mong muốn nhỏ ,
Hợp thành ước mơ vĩ đại,
Nhóm lửa yêu thương,
Tin lại con người,
Nhà thơ bỗng thấy mình bé lại,
Sứ mệnh thơ ơi !
Trong sáng tuyệt vời !

Ông lên án những nhà thơ, nhà văn bồi bút:

Úp mặt – – hôn mê- liếm lộc ,
Ngóc đầu thóa mạ tâm linh,
Cưỡng bức ngữ ngôn.
Ngợi ca tội ác.
Tình nguyện trọn kiếp bút nô..

Qua thơ ta thấy Phùng Cung là người yêu quê hưong tha thiết. Trong Xem Đêm, tinh yêu của ông chan hoà trong thiên nhiên, trên cảnh sắc quê hưong. Trong Trăng Ngục thì với tình yêu đó trước cái cảnh lầm than, nghiệt ngã cuả đất nước, nhà thơ trở thành bi thương, phẫn nộ. Có lúc ông đã phải kêu lên:

Đất nước ơi
Tôi mến người
như khi nhìn em bé ngủ
Tôi thương người
như thương mẹ ốm.
Vì đâu
Người khoác manh áo đỏ
Thừa sai – cũn cỡn
Tủi nhục tháng ngày
Long đong chiều sớm
Ôi ! có bao giờ
Người đau đớn như thế này không
(Đất nưóc)

Đó là tiếng kêu thống thiết cuả nhà thơ, trước thảm trạng quê hương. Đó là “một tiếng đoạn trường,” tiếng kêu đứt ruột mà đến bây giờ nghe vẫn còn đau.

Về nghệ thuật

Phải nói ngay thơ Phùng Cung khó đọc. Nếu chỉ đọc lướt một lần thì sẽ thấy thơ khó hiểu. Bởi vì thơ của ông rất xúc tích, cô đọng. Nhận xét về nghệ thuật dùng từ trong thơ của Phùng Cung, Nguyễn Hữu Đang vìết “Do tự nhiên hay lực chọn, Phùng Cung đã tìm cho thói quen tằn tiện lời nói của mình một địa hạt đắc dụng là địa hạt thơ.”

Có bài thì câu trơn nhu lời nói thường, có bài trúc trắc khó đọc. Như bài “Bước vô định ” đọc rất trúc trắc.

Còi giám thi
Nửa đêm đập dậy
Loẻng xoẻng xích xiềng
Quát lệnh – đi !
Bước vô định
Vừa mưa vừa tối
Càng đi
Càng tối
Càng mưa
Chớp xoét !
Phếch chân trời cáo trạng.

Bài “Tổ Quốc” thì lời trôi như lời nói thường mà ý thơ vô cùng cảm động

Tổ quốc kính yêu ơi !
Văn hiến – thuần phong – mỹ tục
Phút chốc bàn tay cộng sản dập vùi
Định nghiã – tên người
Tôi khônng nói được
Nếu bị dồn hỏi
Tôi chỉ có thể trả lời
bằng hai hàng nước mắt

Cách dùng từ của ông rất đặc biệt. Thơ giầu hình ảnh, cụ thể. Chữ dùng độc đáo , sắc nét, nhanh, đột ngột. Có khi chỉ một chữ, một câu thôi khiên cho ý thơ trở nên thâm trầm phong phú.

Bài Mẹ có câu:

Con làm sao quên được
Mồ hôi mẹ
Tháng ngày đăm đăm nhỏ giọt.
Con níu giọt mồ hôi
đứng dậy làm người.

Ở đoạn trên ta đã thấy Phùng Cung nói về những giọt mồ hôi khô thành vết trắng trên áo vợ là “vắt tận trong xương”, bày tỏ sự cảm thông và chia sẻ sự cực nhọc với vợ. Trong bài này, ông nói đến những giọt mồ hôi của mẹ. Người mẹ cũng làm ăn vất vả cực khổ nuôi ông nên người. Ông đã mô tả tình tự, hành động bằng hình ảnh cụ thể rất đẹp: Con níu giọt mồ hôi của mẹ để đứng dậy làm người. Nó cho ta thấy người mẹ không chỉ làm lụng cực khổ nuôi con về thể chất mà còn giáo đục con nên người. Hai câu cuối này nói lên được lòng biết ơn mẹ và ca tụng mẹ.

Trong bài Chim Chích Choè

Tổ tan
Trứng mất
Có trời biết vì sao
Bỏ hót
chỉ kêu
Mỏ run run rớm máu.

Chúng ta đang có hình ảnh con chim chic choè đau khổ. Chúng ta thương nó, Tác giả cũng thưong nó:

Thương con chich choè
Làm tổ vội
Trên cành gài bẫy

Nhưng lại biết rằng nó đau đớn khốn khổ, tổ tan trứng mất, chỉ vì cả tin nhẹ dạ, làm tổ trên cành có gài bẫy. Chỉ có hai từ “gài bẫy “ở cuối bài thơ, làm sáng tỏ biết bao nhiêu điều, hàm biết bao nhiêu ý. Không phải chỉ con chim chích choè bị gài bẫy đâu, Phùng Cung bị gài bẫy, Các nhà văn nhà thơ Nhân Văn Giai Phẩm , cả dân tộc VN bị gài bẫy đó. Chữ dùng ở đây thật là đột ngột, độc đáo.

Bài thơ Trăng Ngục là bài thơ được nhiều người khen là bài thơ tuyệt tác vì hình ảnh đẹp trong thơ:

Trăng qua song sắt
Trăng thăm ngục
Bỗng ta chợt tỉnh – sững sờ
Trên vai áo tù
Trăng vá lụa.
Ngày xưa ơi
Xa mãi đến bao giờ.

Cả bài thơ mỗi chữ, môi câu đều rất đắt, không thừa không thiếu. Trăng thăm ngục, người sững sờ, thật là sống động. Trăng vá lụa trên vai áo tù là hình ảnh tuyệt đẹp. Rồi buông xuống hai câu kết như một tiếng thở dài, hàm chứa biết bao nhiêu tình tự.

Trong tập Trăng Ngục không phải chỉ có thơ không vần. Tôi thấy có hai bài lục bát. Là bài Bài Vay Tuổi và Thu Xa. Bài Thu Xa phảng phất hình ảnh người thiêu phụ quay tơ, hình ảnh của người chinh phụ. Lời thơ nhẹ nhàng cổ kính. Tuy nhiên cũng vẫn có những chữ dùng rất mạnh , ở câu:

Rừng thu tắm máu
Máu thu gội chiều.

Từ máu dùng ở đây, lập lại hai lần, làm cho khung cảnh mùa thu trở nên dữ dội, chứ không thơ mộng. Nó là hình của chết chóc nơi chiến trường. Mang tính cách thời đại của nó.

Tôi nghĩ là đã phải kết thúc bài nói chuyện hôm nay. Tôi xin chấm dứt bằng cách mời quý vị nghe bài Thu Xa, một bài thơ song thất lục bát biến thể nhẹ nhàng trữ tình, lãng mạng, để thấy cái đa dạng trong thơ Phùng Cung.

Thu Xa

Gió vàng đếm lá vàng rơi
Mười hai bến nưóc
Em ngồi quay xa
Xa quay gấp
Lán tơ vôi đứt
Em nhủ lòng
tơ đứt vì xa
Tơ vương vó ngựa quan hà
Xa in dấu ngựa
Canh gà gọi thu.
Quan hà lộng gió chinh phu
Rừng thu tắm máu
Máu thu gội chiều
Tơ vàng nhỏ giọt lệ điều
Đăm đăm tay vẫn chiều chiều quay xa
Xa quay nhẹ
Làn tơ vẫn đứt
Em hỏi lòng
Tơ đứt vì đâu
Sông Ngân lỡ bắc nhịp cầu.
Mà người trần thế
Mang sầu thiên cung.

Trần Triệu Hoàng
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.