Thu Nương

Posted: 01/11/2017 in Phan Ni Tấn, Truyện Ngắn

Phan Ni Tấn

Ông Tạng di cư vào Nam năm 1954, cư ngụ tại khu Rau Xanh, cách Ban Mê Thuột khoảng 15 km về hướng Tây dẫy Trường Sơn. Ông Tạng vốn là người đa năng, tháo vác và có kiến thức nên chẳng bao lâu lên làm thôn trưởng. Tôi quen biết ông trong một dịp tôi theo phái đoàn thông tấn xã TT từ Sài Gòn lên Ban Mê Thuột, vô các làng xã tìm hiểu đời sống cư dân miền Bắc sinh sống tại Châu Sơn, Hòa Bình, Duy Hòa, Kim Châu Phát và khu Rau Xanh. Khi phái đoàn ra về, bất ngờ ông Tạng hẹn tôi ngày mai trở lại sẽ kể riêng cho tôi nghe câu chuyện mà ông hứa hẹn là một đề tài hấp dẫn.

Hôm sau tôi mượn chiếc xe đạp của người bà con lộc cộc đạp trở vô khu Rau Xanh. Tại nhà ông Tạng tôi được ông đãi một bữa ăn gồm toàn những đặc sản Cao Bằng, quê ông, mà tôi chưa từng thưởng thức. Các món ăn lạ mắt lạ tai như phở chua, bò gác bếp (thế bằng thịt nai), xôi trái trâm, bánh trứng kiến (làm từ bột nếp, trứng kiến đen và lá vã) và bánh khảo tráng miệng. Đặc biệt, rượu ngô thơm ngon đậm đà tăng thêm phần hứng khởi cho bữa tiệc.

Sau vài tuần rượu, thôn trưởng Tạng nhập đề:

“Tôi là Vũ Văn Tạng sanh tại Cao Bằng, Bắc Việt. Cha tôi người Tày làm ruộng ở Bắc Kạn, mẹ người Tuyên Quang. Khi trở thành gia thất, bố mẹ tôi lên Cao Bằng lập nghiệp, hai năm sau mới sanh ra tôi. Năm 1954, tôi 20 tuổi, theo bố mẹ di cư vào Nam, chọn khu Rau Xanh, như anh đã biết, làm đất sống. Hàng ngày Tạng tôi phụ giúp bố mẹ trồng tỉa các loại hoa mầu, tới mùa thu hoạch bán các rau quả tươi cho mối lái chở ra chợ bán, làm kế sinh nhai.

Không bao lâu, bố mẹ lần lượt qua đời, Tạng tôi trơ trọi một mình, không vợ con, xoay qua làm nghề gõ đầu trẻ tại gia. Thời mới nhập cư khu Rau Xanh chưa có điện, phải thắp đèn dầu. Mỗi tối chấm bài vở xong tôi thường ngồi đọc sách, viết lách bên cạnh cửa sổ chắn song thưa”.

Mời tôi cạn thêm chung rượu, gắp miếng bò gác bếp đưa cay, giọng trầm trầm ông Tạng từ tốn rào đón:

“Tôi xin nói trước với anh ký giả là chuyện tôi kể ra đây không dính líu gì tới chuyện ma quái của ông Bồ Tùng Linh bên Tàu cả. Mặc dù tôi chưa từng đọc truyện của ông Bồ nhưng người ta nói Liêu Trai Chí Dị là truyện hư cấu; còn tôi, cam đoan với anh ký giả là chuyện của tôi có thật một trăm phần trăm.”

Ngừng một chút ông Tạng nói tiếp:

“Một hôm, đang chăm chú đọc báo, tự nhiên Tạng tôi cảm thấy ớn xương sống, cảm giác như có ai ở ngoài sân đang quan sát mình. Lúc ngước lên hồ như tôi thấy một cô gái mặc áo chùng trắng, tuổi độ đôì tám, tóc xõa dài xuống chân thoáng hiện bên ngoài cửa sổ, chớp mắt cô biến mất ngay. Tôi nghĩ mình thường thức khuya mệt mỏi dễ sinh ra ảo giác nên thổi tắt đèn đi ngủ. Hai ba hôm sau, trời vừa chạng vạng tối, tôi lại mơ hồ thấy có bóng người thiếu nữ áo trắng chập chờn đứng trong vườn chuối sau nhà nhìn vào. Dụi mắt nhìn kỷ tôi lại chẳng thấy gì ngoài đêm đen và gió thổi như tru.

Đêm hôm sau cô gái lại xuất hiện. Lần này Tạng tôi biết chắc không phải ảo giác. Sanh nghi. nhưng tôi giả đò đọc sách như không hay biết gì, nhưng trong đầu đã có chủ ý. Chờ cô gái tiến sát bên cửa sổ tôi vội tông cửa chạy vụt ra thì cô gái, như có ma lực, đẩy cô chạy như bay về cuối thôn nghèo. Tôi đứng lại nhìn chiếc áo chùng trắng và mái tóc dài bay phất phới trong gió mà ngẩn ngơ. Tôi có cảm tưởng như hai chân cô không chạm mặt đất.

Đêm tôi nằm nghĩ lung về người thiếu nữ mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Tôi không biết cô là con cái nhà ai mà nửa đêm nửa hôm một mình cả gan đi lang thang ngoài đường ngoài xá như thế. Dù sao, đất Rau Xanh của chúng tôi xưa nay vẫn yên ổn, dân Rau Xanh chúng tôi chưa từng xẩy ra bất kỳ biến cố hay hiện tượng lạ nào. Hơn nữa, vào mùa trăng trai gái hay hò hẹn trong đêm, cô có lang thang đâu đó cũng là chuyện thường tình.

Lâu ngày chày tháng không thấy cô trở lại, tôi bận dạy học nên dần dà quên đi. Nhưng một hôm trăng vừa nhú trên đầu ngọn tre, cô gái áo chùng trắng bất ngờ lại xuất hiện làm tôi giật mình. Tôi không biết cô đứng bên cửa sổ từ bao giờ. Trong ánh đèn lờ mờ hắt ra bên ngoài tôi không nhìn rõ gương mặt nhưng đôi mắt của cô làm tôi sợ hãi. Tôi không dám nhìn vào đôi mắt ấy, nhưng như bị cô thôi miên buộc tôi phải nhìn sững. Đôi mắt nâu non đẹp tuyệt trần nhưng trời ơi sao mà buồn thăm thẳm. Có thể nói tất cả những nỗi buồn thê thiết nhất trên trần gian lao khổ này đều đổ dồn vào đôi mắt của cô, đôi mắt sáng dịu dàng mà xa xăm u uẩn đầy cam chịu. Cuối cùng tôi cố sức tỉnh hồn đứng dậy định ra mời khách vào nhà cho phải phép thì cô dợm bước đi ngay.

Hôm sau và nhiều hôm sau nữa tôi cố ý chờ cô gái trở lại nhưng chỉ hoài công. Cô biến mất như cơn gió, như giọt bụi. Có điều kỳ lạ là từ đó đêm nào tôi cũng nằm mộng thấy mình giao hoan với cô. Tuổi trẻ sức voi ôm ấp nhau suốt hai tuần lễ tôi bắt đầu cảm thấy kiệt sức. Soi mình xuống mặt nước ao tôi nhìn tôi tiều tụy.

Đúng lúc đó, nghe tiếng “A di đà Phật” tôi giật mình ngước lên thì thấy một nhà sư áo vàng đi khất thực. Tôi vô cùng ngạc nhiên, vì dân Rau Xanh chúng tôi từ ngày lập ấp đến nay đều là những con chiên ngoan đạo, chưa từng thấy bất kỳ một biểu tượng nào khác ngoài hình ảnh Đức Mẹ Hằng Sống. Dù thế, tôi vẫn chạy vô nhà lấy thức ăn mang ra cúng dường. Vừa đặt gói xôi trâm vào bình bát, tôi nghe nhà sư khẻ nói: “Mô Phật. Thí chủ mình đầy tà khí”. Nói xong nhà sư cúi đầu thi lễ rồi khoan thai bước đi.

Từ lúc vị khất sĩ xuất hiện đến lúc bước đi, tôi như người mất hồn, ú ớ không thốt được lời nào. Cái ngũ uẩn: hình hàì, cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức của Tạng tôi như chết cứng. Đúng lúc đó tôi nghe trong tai mình có tiếng thì thầm như truyền âm nhập mật làm tôi vô cùng kinh hãi.

“Thí chủ nên để đèn khi đi ngủ. Thấy đèn sáng, cô gái tên Thu Nương không dám vô xâm hại thí chủ. Thu Nương là con gái của ông bà phán Học ở cuối thôn Rau Xanh. Thí chủ cũng nên bỏ chút thì giờ quí báu đến đó sẽ biết được sự thật. Lúc đó bần đạo tin rằng thí chủ sẽ được gạn lọc thân tâm, vượt thắng mọi tà hạnh, kiến chấp”.

Thưa anh ký giả. Anh có biết “cuối thôn Rau Xanh” là ở đâu không. Đó là nghĩa trang của dân Rau Xanh chúng tôi. Mồ mả không nhiều nên vừa đến đó tôi nhận ra ngay. Ánh mắt vời vợi của Thu Nương lồng trong tấm bia xi-măng đã từng ám ảnh tôi suốt mấy canh trường. Tôi run rẩy quị xuống trước ngôi mộ Thu Nương, nằm cạnh hai ngôi mộ của song thân cô. Tất cả đều đơn sơ, hao mòn theo bóng thiều quang anh ạ…”

oOo

Thưa bạn đọc. Chuyện của ông Vũ Văn Tạng chỉ có thế. Sau khi lược lại lời kể tôi viết thành truyện đem đăng báo. Nửa năm sau tôi mới có dịp lên Ban Mê Thuột vô Rau Xanh thăm lại ông bạn già năm xưa của tôi tiện thể tặng ông tờ báo có đăng bài viết Thu Nương.

Nhưng mà tạo hóa khéo trêu ngươi. Ông Vũ Văn Tạng bị rắn hoa mai cắn chết bên miệng giếng cạnh bụi tre la ngà đã hai tháng trước. Tôi ý tứ hỏi thăm thì không một ai biết ông Tạng từng bị ma ám. Tôi cũng không biết tình cờ hay hữu ý, mộ của ông Tạng lại được chôn cạnh mộ của Thu Nương. Người chết mới được hai tháng nên đất còn tươi, cỏ vẫn xanh bên cạnh những ngôi mộ đìu hiu, lạnh giá.

Chuyện này xẩy ra cách đây ngót 63 năm.

Phan Ni Tấn
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.