Trăng giữa ban ngày

Posted: 01/01/2019 in Nguyễn Vĩnh Long, Truyện Ngắn

Nguyễn Vĩnh Long

1.
Cơn mưa hắt lên mùi bùn hôi nồng nặc từ con kinh đen ngòm phía dưới nhà sàn. Tánh trằn trọc, không ngủ được. Phần lạ nhà, phần tiếng cười nói ồn ào vọng lại phía trước. Nó không hiểu sao người ta có thể sống chui rúc ở đây, chớ đừng nói chi đến việc ăn uống. Buổi chiều mới tới, ra tắm phía sau nó phải nín mũi, ọi lên ọi xuống mấy lần đến chảy nước mắt. Bên dưới nhà tắm là dòng kinh nước đen bùn sền sệt, đầy rác rưới. Tô hủ tiếu có miếng bánh tôm chiên là món ưa thích nhất, nó cũng ráng nuốt qua loa cho đỡ cào ruột. Đến tối, chị Ánh đưa mền gối dặn nó, mới lên đường xa nên ngủ sớm và nhớ đừng đi lang bang ra nhà phía trước ban đêm. Tánh gật đầu, nhắm mắt rồi nằm trăn trở cho tới bây giờ. Nó thắc mắc không biết đã mấy giờ mà chung quanh vẫn còn tiếng người ăn uống, cười giỡn. Nghiêng tai một bên, nó chợt nghe như có tiếng mưa rào rạt bên ngoài. Tự dưng nó muốn về nhà, ngay bây giờ. Tánh muốn nằm trên cái chõng tre quen thuộc và cuộn tròn trong cái mềm chỉ ngã màu của nó mỗi đêm trời đổ mưa…

Nó giật mình tỉnh giấc bởi tiếng cãi vã và đồ đạc đổ vỡ. Tánh không hiểu mình đã chợp mắt tự bao giờ. Tiếng khóc của người đàn bà mỗi lúc một rõ. Rồi giọng quát tháo nhừa nhựa của người đàn ông:

– Đ.m. mầy làm đĩ thiên hạ chưa đủ sao còn dẫn thằng con nít về ngủ nữa..!

– Anh say quá, nói bậy không hà… Tánh là người hàng xóm, mẹ em nhờ lên gặp em có chút chuyện nhà… Khuya rồi, anh la lớn quá hàng xóm báo cảnh sát thì phiền lắm.

– Đ.m., tao chấp đó. Thằng nào dám gọi cảnh sát, tao đâm lòi ruột cho biết mặt.

– Anh ngủ đi cho khỏe. Mai thức dậy muốn gì em cũng chiều hết.

– Hổng mai mốt gì hết. Đ.m. đừng làm bộ… Tao muốn làm liền bây giờ. Còn sáng mơi, tao hổng muốn thấy bản mặt thằng nhỏ đó nữa. Nghe chưa… Đ.m. đưa tao cái bọc áo mưa rồi cởi quần ra.

Không còn tiếng cãi vã của chị Ánh và người đàn ông. Vài con mèo đói lang thang trên mái nhà, kêu gào thảm thiết. Tiếng vạt giường, tiếng thịt người dội lên, dồn dập… Tự dưng nước mắt Tánh ứa ra, ướt mặt gối. Không hiểu tại nó nhớ nhà hay khóc thương thân phận chị Ánh. Mười bảy tuổi, chưa lần đi xa khỏi huyện nhà, nó nào hiểu được cuộc đời đen tối, dơ bẩn còn hơn vũng chân trâu. Tánh nghiêng mình cấn cây viết máy Pilot chị Ánh mua cho nó hồi chiều. Cây viết có khắc cả tên Tánh và chị Ánh. Chị muốn nó học giỏi, nay mai trở thành người hữu ích cho xã hội, hãnh diện gia đình, làng xóm trong đó có chị. Tánh mắc cở, chỉ biết lí nhí cám ơn. Chị và Tánh chụp chung một bức ảnh làm kỷ niệm. Nghiêng đầu vào vai Tánh, nó không còn nghe mùi chanh thoảng ra từ tóc chị nữa. Mùi dầu thơm và nắng gió cuộc đời đã thay vào đó, quyện từng sợi tóc ngày thơ.

Tánh nâng niu cây viết máy, mùi thơm bàn tay chị vẫn còn phảng phất đâu đây. Nó áp vào má, hít từng hơi dài, nhắm mắt và quên đi cả mùi tanh nồng của dòng kinh đen phía dưới.

2.
Nhà chị Ánh phía dưới đầu cầu Dừa. Con rạch chia làng Tánh ra làm hai phía. Một bên đất làm ruộng, bên kia là những mương vườn thẳng tắp trồng đủ loại hoa quả và cây ăn trái. Cha chết sớm, mấy mẹ con chị sống bằng nghề bán xôi, chè bắp mỗi buổi chợ. Trong làng ai cũng gọi mẹ chị là bà Sáu xôi bắp. Con gái lớn, năm lớp bảy Ánh đã bỏ trường theo mẹ tần tảo nuôi nấng đàn em. Đối diện phía bên kia cầu là nhà Tánh. Gia đình nó làm ruộng nòi, đất đai bề bề mấy đời nội tổ. Sau chính sách người cày có ruộng, gia đình Tánh chỉ còn mấy chục công đất ruộng hương hỏa phía sau nhà. Tía nó nhìn xa, thúc đẩy con cái học chữ, lấy đó làm nghề. Chị Ánh lớn hơn Tánh vài ba tuổi, nhưng trước mặt chị, nó thấy mình còn con nít nhiều lắm. Có lẽ tại chị đẹp, đẹp nổi tiếng cả làng. Phần mồ côi cha, ra đời sớm Ánh như loài hoa dại nở rực rỡ, hoang vu giữa chốn đồng nội. Sáng nào trước khi đạp xe lên trường huyện Tánh đều ghé chị Ánh mua xôi. Không ăn nó cũng mua gói theo cho buổi trưa. Chị Ánh luôn dành nhiều tình cảm đặc biệt cho nó. Lần nào chị cũng múc xôi nhiều, cho thêm nước cốt và kèm theo nụ cười thật tươi tắn. Năm lớp tám, mười bốn tuổi, Tánh bắt đầu thấy mình khan khác. Giọng nói nó đục khàn khàn, chân tay lòng thòng thừa thải và mặt bắt đầu lốm đốm mụn. Mỗi lần gặp mặt chị Ánh, Tánh cảm thấy lúng túng, ngượng ngùng. Tối nào học bài khuya, trước đi ngủ, nó đều ra phía sau hè ngóng nhìn qua ánh đèn nhà chị, bên kia con rạch nhỏ. Tự dưng Tánh mong trời mau sáng để được nhìn thấy nụ cười dễ thương của chị.

Qua mùa khô, lúa đã vào bồ, tía má Tánh bắt đầu đốt chân rạ mấy công đất để làm rẫy. Giá lúa không lên, tía nó cắn răng phá mấy công ruộng gần nhà, lên vồng trồng dưa hấu. Mấy năm gần đây nghề trồng dưa trong làng phát triển dữ dội. Sau một mùa Tết, nhà nào cũng dư tiền mua sắm đồ đạc, ghe máy và cả máy truyền hình chạy bình. Không phải nghề chân truyền, nhưng tía nó sáng dạ, biết đất biết phân, chắc bẩm cũng thành tiền thành bạc. Giữa lúc đó thì trên chợ huyện tổ chức đại hội. Dù công việc chưa xong, tía nó cũng trả tiền công cho anh em Tánh đi coi hát. Tánh nghĩ ngay đến chị Ánh, rủ và bao chị đi coi đại nhạc hội. Nhưng sáng nào gặp mặt, Tánh cũng không nói được thành lời. Cuối cùng Tánh đành lủi thủi đi một mình.

Chương trình văn nghệ đầy tiết mục hấp dẩn nhưng Tánh vẫn lãng đãng, thờ ơ. Vãn hát, nó lang thang vòng quanh chợ huyện. Mấy hàng quán dọc bên đường đang chuẩn bị dọn dẹp, đóng cửa. Mọi người tản về các làng với nhiều phương tiện khác nhau. Ghe, xuồng, đò máy và thắp đuốc đi bộ. Tánh mang theo mấy bó đuốc, dấu ở lộ đá trước khúc rẽ vào làng. Gió đêm xào xạc, mang theo hơi nước dọc theo mé sông. Nó ngước nhìn lên, bầu trời đen nghịt không thoáng một vì sao. Không chừng trời sắp đổ mưa. Cả tháng nay khô hạn, tối ngợp sao trời. Đợi đến nay nó đi coi hát, trời mới đổ mưa cho đáng.

– Tánh… Phải Tánh hông, đợi Ánh chút.

Đúng là tiếng chị Ánh, hay xưng tên với nó. Tim Tánh đập thình tịch, chân tay nó lạnh hết.

– May quá, theo Tánh kịp. Về một mình, lại gần mưa, Ánh sợ chết quá.

– Chị đi một mình sao…

– Đâu dám. Với chị Xuyến. Nhưng chỉ chưa chịu về liền, mà còn ghé ăn hàng với đám bạn trên trường huyện. Ánh phải về, mai còn thức sớm nữa.

Đi bên cạnh chị Ánh, Tánh rộn ràng khó tả. Nó không biết nói gì thêm, đếm từng bước chân mình trên lộ đá. Mùi hương chanh dìu dịu tỏa ra từ mái tóc chị thoang thoảng trong đêm. Tới gần khúc rẽ vào làng thì gió bắt đầu thổi mạnh. Hai bó đuốc dài vẫn còn đó. Chị Ánh giúp Tánh một tay mồi lửa. Lần đầu tiên nó chạm bàn tay mềm mại, âm ấm của chị. Dưới ánh đuốc, khuôn mặt chị Ánh sáng hồng, đẹp hơn bao giờ hết. Nó vừa đi vừa quơ bó đuốc soi đường. Vài khúc nhiều mô, đất gồ ghề chị Ánh sợ vấp nắm lấy tay nó.

– Tánh đi chầm chậm lại nghen. Ánh theo hổng kịp, vấp té chết.

Nó đi chậm lại. Chị vẫn nắm chặc tay nó không buông. Khuôn mặt chị thật gần, vài sợi tóc loà xoà vướng qua má Tánh.

– Mai mốt Ánh đi xa, Tánh có nhớ chị hông?

– Chị đi đâu? Nó ngạc nhiên hỏi nhanh.

– Má định gửi Ánh lên trên tỉnh, nhờ người bà con kiếm công việc làm khá hơn. Bán xôi bắp vầy hoài, không đủ tiền sinh sống. Không chịu cũng không được. Đành thôi Tánh à… Đi xa chắc Ánh nhớ làng mình và nhớ Tánh lắm..!

Tại sao chị phải đi xa, Tánh không hiểu. Nhưng tự dưng nó buồn muốn ứa nước

mắt. Rồi mai mốt, trước đi đạp xe lên trường huyện mỗi sáng, không còn ai gói cho nó gói xôi đặc biệt với nhiều nước cốt dừa. Mỗi đêm học bài khuya, Tánh không ai để nó háo hức đợi ngày mai gặp mặt. Tánh đi nép vào chị gần hơn. Gần để đủ nghe từ chị, một mùi thơm kỳ diệu thoáng ra, ngây ngất. Mùi thơm của bộ đồ mới và da thịt chị. Tự dưng Tánh thấy mình lớn hẳn ra, muốn che kín những cơn gió thổi lạnh bờ vai chị. Đâu hơn nửa đoạn đường, vài hạt mưa rơi thấm áo Tánh.

– Chết rồi, trời mưa Tánh ơi. Chắc về không kịp quá.

– Không sao. Tháng nầy chắc trời mưa hổng lớn đâu.

Tánh dứt câu chẳng bao lâu thì mưa rào lên, lớn hột. Không ai bảo ai, cả nó lẫn chị Ánh đi nhanh như chạy, nhìn quanh tìm chỗ trú. Cũng may gần đó có cái quán nhỏ bên đường. Ánh lửa bập bùng từ bó đuốc soi mặt quán che tạm bởi tấm bạt, chừa khoảng hiên hẹp phía ngoài. Cả hai chạy lùa vào trú. Bó đuốc lịm tắt. Mưa tạt từ bên hông dữ dội.

– Tánh nép sát vào đây, ướt hết.

Giọng chị Ánh khàn khàn. Tánh nép sát vào. Hơi ấm từ da thịt chị tỏa lan, truyền sang. Bờ ngực mềm mại, áp vào bờ lưng nó. Tánh bâng khuâng, nhột nhạt. Nó nuốt nước miếng khó khăn, ao ước trong đầu. Phải chi nó lớn hơn chị Ánh, Tánh sẽ ôm lấy và che chở cho chị lúc nầy. Không biết lúc nào, má Tánh kề vào má chị. Tánh nghe hơi thở chị nóng hổi, thơm mùi dìu dịu. Nó nghĩ tới trái mận hồng đào nhà ngoại nó trồng, nở lứa đầu mùa. Lờ mờ trong bóng đêm, Tánh lén len quay qua, mong nhìn thấy mặt chị. Nó chợt hốt hoảng khi đôi môi ướt lạnh của nó chạm vào bờ môi hé nhỏ của chị. Ngoài hiên, có tiếng chớp rền vang, như xé đêm mưa.

3.
Tánh choàng tỉnh giấc. Miệng khô đắng và tê tẩm một bên mình. Trời vẫn chưa sáng. Không biết Tánh chợp mắt lúc nào, mộng mị chập chờn. Nó khẽ trở mình thì chạm bờ vai ai nằm bên cạnh. Chị Ánh. Tim nó đập lên thình thịch. Không biết chị Ánh vào ngủ bên nó tự lúc nào. Còn thằng đàn ông khốn nạn đánh chửi chị đâu rồi. Nó ngủ say hay đã bỏ đi. Hơi thở chị Ánh đều và nhẹ. Chắc chị đang ngủ say. Nó không dám nhúc nhích, chỉ mở đôi mắt thật lớn nhìn qua. Khuôn mặt chị trong giấc ngủ say, hồn nhiên và thật đẹp. Sóng mũi thon dài theo phía dưới đôi chúm nhỏ, hơi hé mở, chị giống như mấy hình vẽ trong tập truyện bằng tranh. Cái giường không rộng, lại cũ, thở mạnh cũng cong mình kẽo kẹt. Chị Ánh mở mắt, bắt gặp Tánh đang nhìn mình đăm đắm. Chị nghiêng qua, cười nhẹ:

– Nhà lạ, ồn ào. Khó ngủ phải hông Tánh.

– Dạ…

– Thằng chả đi rồi, Tánh không phải sợ nữa.

– Tánh không sợ. Nhưng tại sao chị phải sống với hắn.

– Một ngày nào đó, lớn lên, Tánh sẽ hiểu. Bây giờ, Ánh chỉ muốn Tánh đừng khinh ghét chị.

– Không, Tánh không ghét. Tánh thương… Về lại quê mình đi chị.

– Quá trễ rồi. Ánh không còn xứng đáng với gia đình, làng xóm mình nữa.

Giọng chị Ánh trũng nước. Tánh bối rối không biết làm gì. Trong bóng đêm, chị Ánh dụi đầu vào nó, nức nở. Dòng nước mắt nóng hổi thấm vào da thịt Tánh, như những mũi kim đâm sâu tâm hồn nó tơi bời. Đưa tay vuốt mái tóc mượt dài, dỗ dành chị đừng làm nó phải khóc theo. Chị Ánh ngước lên, kéo mặt Tánh lại gần và hôn nhẹ lên hai má nó. Vệt nước mắt vô tình của chị vướng khóe môi Tánh mằn mặn. Tánh hôn trả lên má chị, như một phản xạ tự nhiên.

– Con trai lớn mà không biết hôn gì hết.

Chị vừa nói vừa cười khúc khích. Đôi môi ấm áp chị Ánh áp vào môi nó. Tánh ngây ngất khi đầu lưỡi chị chạm đầu lưỡi nó quấn quít. Chị kéo bàn tay Tánh đặt trên bờ ngực. Trái vú chị mềm mại, no nê. Tánh ghì chặt hai tay vào đôi bờ xúc cảm. Chơi vơi, cuộn chảy. Con sông nhỏ quê Tánh đang uốn mình qua khỏi khúc sông bồi. Nó mở rộng, chảy thiết tha hơn về phía sông cái lớn, sắp chuyển mình ra biển. Nước con sông ngọt dịu, đục màu phù sa chợt chan hoà với lòng biển đời xanh mặn. Cửa cuộc đời quá hẹp cho những tâm hồn trắng trong, chân thật. Vòng tay con người không rộng lượng bao giờ. Chỉ có nước mắt và má môi của chị tạo cho Tánh bao nhiêu mơ ước đời nầy. Nó đang chơi vơi như con diều trên cánh đồng lộng gió quê nhà. Tánh bỡ ngỡ, vươn vai trở thành một dòng sông lớn, cuốn trôi bao nỗi khổ đau của chị đêm nay.

– Tánh ơi..!

Tiếng kêu thảng thốt của chị Ánh từ nghìn trùng vọng lại. Có vầng trăng vằng vặc tuổi thơ, trải vàng niềm hạnh phúc vô biên trên thân thể của Tánh và chị. Đêm sắp tàn và ngày mai đang xô đẩy bao kiếp người phía trước.

4.
Buổi chiều tháng tư, bầu trời thành phố Huntsville, Alabama thấp và nhiều mây. Mấy ngọn đồi thấp, xanh mướt nối nhau như căng thành một chiếu võng đong đưa những con đường xa lộ đan nhau theo mùa gió. Người đàn ông cho xe chậm lại vào bãi đậu. Hampton Inn, cái khách sạn đã vài lần ghé, tạo cho người đàn ông cảm giác dễ chịu hơn sau mấy giờ bay dài. Một laptop xách tay, một chiếc va-li kéo tay là hành trang quen thuộc cho những chuyến đi xa.

– Hi, tôi có đặt phòng trước. Tôi họ Nguyễn, tên Tony. Tôi sẽ ở lại cho đến hết tuần.

Bà Linda, phụ tá quản lý người da trắng nhận ra Tony ngay. Vài lần trước ghé Huntsville cho mấy buổi họp ngắn ngũi, Tony cũng gặp bà. Đưa thẻ chìa khóa, bà cũng không quên nhắc Tony khách sạn cung cấp điểm tâm mỗi sáng miễn phí. Tóc hoa râm, nhưng dáng dấp ông vẫn còn nhanh nhẹn, tự tin. Tony buông người xuống mặt nện, chơi vơi. Những căn phòng khách sạn bày trí nhan nhản giống nhau, cô đơn và nhàm mắt. Phía bên ngoài khung cửa sổ, nắng đã xuống thấp màu vàng nhạt. Ngày mai là những buổi họp, những công việc quen thuộc đang chờ ông. Sự tái lập của đời sống xứ nầy cho những phát triển không ngừng của nền văn minh kỹ thuật, nhưng lại là những đọng vũng, khô cạn dần cho biết bao nhiêu sông nước tình người. Những dòng sông tâm hồn ông muộn phiền, không chảy. Những vời vợi trời xanh dĩ vãng không mây. Bủa vây, tù hãm. Lòng người cửa đóng, then cài. Đời sống chính ông cũng hóa trang nhiều mặt. Dè dặt, bề ngoài, giả tạo trở thành phản xạ tự nhiên trên mọi mặt phẳng cuộc đời. Tony nguội lạnh dần những háo hức ban đầu cho những vùng đất mới. Mỗi nơi, một thành phố hay một huyện hạt hẻo lánh với những tên gọi lạ tai, trước tiên ông đều mở cuốn giám điện thoại tìm những họ phổ biến của đồng hương ông. Những Nguyễn, Lê, Trần,… Để nói lời hỏi thăm, làm quen bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của ông. Đáp lại là, những giọng nói nhát gừng, thoái thác hay khước từ cả nguồn gốc cha ông. Họ nói bằng thứ tiếng mẹ xa lạ, lạnh lùng, mù mù hàm ý. Ông bỏ điện thoại xuống, lòng chùng nỗi thất vọng, đắng cay. Từ đó, những chuyến đi xa, Tony không còn thói quen tìm kiếm tình đồng hương đó nữa. Tiếng điện thoại reo. Đầu dây kia là tiếng quen thuộc của người đàn bà da trắng:

– Hi Tony, Liz đây. Anh tới lâu chưa. Chuyến bay thế nào, có thoải mái không?

– Cám ơn Liz. Mọi chuyện cũng tốt đẹp, ổn thỏa.

– Tôi muốn mời anh cùng đi ăn tối. Một tiệm ăn Ý tôi biết rất nổi tiếng về đồ biển.

Giọng người đàn bà mời gọi. Liz tuy không chung nhóm với Tony, nhưng là nhân viên quản lý thương mại cao cấp của công ty. Là cố vấn kỹ thuật, Tony thường đi cùng với Liz cho những hợp đồng thiết kế quan trọng. Người đàn ông Á-đông trí thức, gần năm mươi, không gia đình vợ con là điều tò mò hiếu kỳ của những người đàn bà bản xứ làm chung. Qua sách vở, tài liệu phong tục tập quán Á-châu, con trai lớn lên không cưới vợ vì tình yêu cũng phải vì “mối lái”. Chưa kể là cổ lệ tục truyền, trai năm thê bảy thiếp. Địa vị và sự thành công của Tony lại là mục tiêu của những dòm ngó nhiều hơn. Liz là một trong những người đàn bà da trắng tò mò đó. Chưa tới bốn mươi, một đời chồng, Liz trải qua nhiều kinh nghiệm của tình ái. Người đàn bà nầy không chỉ muốn nhìn ngắm, mà nhập cuộc. Cuộc phiêu lưu tình cảm không mất mát phần ai. Cuộc vui tự nguyện và luôn mở rộng cửa sau cho những chán chường. Với đôi mắt xanh lơ tóc hoe vàng, bờ ngực vun đầy mời gọi, Liz chưa từng thất bại trên tình trường. Nàng đến với Tony tự tin, “quyết thắng.” Lần đầu tiên trong đời Liz vấp ngã, chới với trước một người đàn ông “thiểu số”, thẳng thắn và từ tốn. Tony bước vào phòng ngủ nàng như dạo chơi trong khu rừng cấm lạ. Không vội vã chiếm đoạt, không thiêu thân theo từng phút giây tàn lụi.

Những người đàn ông khác đến với Liz là như vậy và chỉ có như vậy. Môi hôn nhộp ngạt, sự tham lam trên bờ ngực và cuối cùng là sự biểu hiện lòng kiêu hãnh, chiếm đoạt nghèo nàn của họ. Có ba nơi để người đàn ông biểu lộ bản năng của họ: tiệc rượu, sòng bạc và lúc làm tình… Để ngày mai không muốn thấy mặt. Để gặp lại là nỗi dửng dưng, lạnh lùng. Nàng bày da thịt cuộc chơi, họ cũng giả dối tìm vui phút chốc.

Tony khác. Ông trân trọng trên từng phần da thịt Liz. Ông chậm rãi gần đến hững hờ. Tony đưa nàng đến tận cùng mọi khoái cảm, ngất ngây. Để ngày mai họ mong gặp mặt nhau. Bên quan hệ tình dục đời thường, họ còn cả tình người rộng lượng. Ông một mực chân tình, trân trọng những tình cảm tốt đẹp của Liz như một tặng phẩm hiến dâng. Rồi mỗi người có một vòng tròn trong đời sống họ. Giao điểm chính là mặt đời sống hiện tại, với bao đẩy lùi của quán tính riêng tư. Những phát triển vượt bực của khoa học hiện đại làm trái đất chúng ta thu nhỏ lại. Nhưng lòng người cũng từ đó, chật hẹp hơn? Ông quý trọng giao điểm có được với người đàn bà bản xứ. Liz cũng quên mất màu da trong quan hệ tình nhân. Như bao nhiêu người đàn ông Việt Nam khác, Liz nghĩ, họ đã trải qua những chặng đường lịch sử khổ đau, hùng tráng nhất, phải sâu kín bên trong là những hệ lụy vượt khỏi đời thường. Liz càng bị ông chinh phục bởi những vết thương thầm kín trong lòng. Họ là bạn chân tình ở những phía nhìn nhân bản đó.

Nhưng chiều nay Tony chợt lười biếng cho lời mời gọi của Liz. Ông đang cần sự yên tịnh và niềm cô đơn riêng tư.

– Cám ơn Liz. Tôi rất ân hận là vừa ăn lỡ buổi ở phi trường Dallas, vẫn còn no. Chúc Liz buổi ăn tối vui vẻ, ngon miệng.

– Không có gì. Tony cứ nghỉ ngơi cho khỏe. Hẹn gặp lại sáng mai ở phòng thử nghiệm.

Ông đã nói dối. Từ sáng đến giờ ngoài mấy ly cà-phê và bánh ngọt trên phi cơ, Tony chưa có bữa ăn trọn vẹn. Bụng ông cũng đang đòi hỏi phần mình. Một buổi tối cơm Tàu, vì ông biết chắc thành phố nầy không có một quán ăn người Việt. Một buổi ăn yên tịnh, lặng lẽ cũng là niềm hạnh phúc, đôi khi. Ông quý mến Liz, nhưng cũng cần những khoảng cách. Tony rời khỏi phòng, buổi chiều không còn nữa.

Tiệm ăn Tàu, China King, nằm khiêm nhường ở một góc đường nhỏ. Ghế bọc và khăn trải bàn đều màu đỏ thêu rồng phượng. Khách ăn hơn phân nửa tiệm. Tony gọi một dĩa đồ xào biển và cơm trắng. Ngụm trà đá cuối ngày làm ông dễ chịu và tỉnh táo hơn. Ông cảm thấy có chút gì quá đáng trong những đối xử với Liz. Người đàn bà da trắng, già nhân ngải non vợ chồng. Liz đến với ông hoàn toàn tự nguyện và tự do. Sự ràng buột duy nhất của họ chính là mối chân tình ở mỗi người. Ông không hứa hẹn, giả dối để lợi dụng sự thỏa mãn thể xác. Liz không cần phải bày vẽ cho một cuộc chơi. Họ đã đủ trưởng thành để hiểu được giá trị của thời gian, của định mệnh cuộc sống dành cho con người. Những khuôn mặt bề ngoài đã làm họ mất quá nhiều thời gian để sống. Rửa sạch bộ mặt tâm hồn, làm bộ mặt thể chất của họ trong sáng và quý giá hơn. Họ giữ lại trái tim và cho nhau cuộc sống.

– Thuận muốn ăn gì, shrimp hay chicken?

– Con muốn both.

– Ok. Còn anh?

Giọng nói tiếng Việt chen lẫn tiếng Anh của phụ nữ và trẻ con từ phía sau làm ông chợt ngẩn người. Một gia đình trẻ người Việt Nam? Không kềm được sự tò mò, ông quay lại như một phản xạ không kềm chế được. Họ, cả ba, còn thật trẻ. Người thanh niên ngồi đối diện ông, chạm mặt, khẽ gật đầu chào. Ông lúng túng, mỉm cười đáp lại.

– Chú là người Việt.

Người thanh niên tiến đến bàn ông, giọng cởi mở. Ông đứng dậy, bắt tay anh, vui mừng.

– Dạ. Tôi người Việt… Tôi tên Tánh, từ North Carolina đến đây công tác.

– Em tên Sơn. Nhìn chú, Sơn biết là người ở xa đến.

Vừa lúc người bồi bàn mang thức ăn ra cho ông. Sơn nói nhanh:

– Hay là chú Tánh dời qua ngồi chung bàn với vợ chồng Sơn luôn.

– Được vậy thì vui quá.

Sơn giới thiệu ông với vợ con. Hồng, tên vợ Sơn, có khuôn mặt đẹp dịu dàng và nụ cười thật tươi. Nụ cười làm ông ngẩn ngơ thoáng chốc.

– Gia đình Sơn cũng mới dọn đến thành phố nầy vài tháng nay. Chú đến đây lần đầu.

– Không. Lần thứ ba rồi. Tôi đến thiết kế trạm viễn thông không gian cho Space Shuttle Assembly Center.

Sơn hớn hở cho biết anh cũng làm trong đó, bộ phận lưu trữ, database. Hồng ít nói hơn, lo chăm sóc thức ăn cho con. Thỉnh thoảng nàng chỉ đóng góp vài nụ cười dè dặt, cho đầm ấm bửa ăn. Đôi lần ông cũng bắt gặp ánh mắt Hồng len lén nhìn ông ngờ ngợ. Sơn thì nhanh nhẹn cho biết có khoảng hơn trăm rưỡi gia đình người Việt ở rãi rác chung quanh thành phố Huntsville. Hầu hết làm cho trung tâm không gian Nasa và trung tâm viễn thông quân đội Hoa Kỳ. Cả ông lẫn vợ chồng Sơn đều vui mừng gặp được người đồng hương nhưng họ giữ nhiều khoảng cách. Hai thế hệ chừng như có cùng kinh nghiệm cho những nhiệt tình hăm hở ban đầu sẽ đem đến họ những phiền muộn về sau. Đã trở thành một thứ qui ước tự nhiên. Ông vẫn còn nghĩ ngợi trong nụ cười của Hồng. Bữa ăn cũng kết thúc, bé Thuận phải ngủ sớm cho nhà trẻ ngày mai. Nhịp sống không đợi ai, nên họ phải chạy theo cho kịp con số thời gian vật lý. Sơn ghi vội cho số điện thoại nhà và chỗ làm. Ông hẹn với vợ chồng Sơn buổi cơm chiều ngày mai. Họ vui vẻ nhận lời.

Ông Tánh ngồi vào xe vẫn mông lung về nụ cười của Hồng. Ông đã gặp rất nhiều nụ cười, nhưng chưa bao giờ ông bị ám ảnh như hôm nay. Moi hết tận cùng trí nhớ, ông cũng không tìm được một giải đáp nào cả. Đã gặp đâu chăng nụ cười thật tươi nầy, đời ông? Trí nhớ ông chợt trở nên tồi tệ. Ông lắc đầu, đành chịu. Cho xe ra đường lớn, về phía khách sạn, ông Tánh quên cả mở đèn xe. Đêm chơi vơi, bắt đầu. Ông thở dài, thẫn thờ dõi mắt tìm một vầng trăng. Bầu trời đêm thấp và đen mờ mịt.

Hơn nửa đêm, cả nhà đã ngủ say. Hồng lặng lẽ, nhẹ tay kéo mấy cuốn album trong hộc tủ, ôm ra phòng khách. Nàng trằn trọc không ngủ được vì khuôn mặt, nhất là ánh mắt của người đàn ông đứng tuổi tình cờ gặp trong bữa cơm chiều. Đôi mắt tự tin, tha thiết nhìn nàng như quen biết thuở nào. Nàng đã gặp ông ta ở đâu rồi chăng? Cái nút ruồi thật đậm dưới đuôi mắt trái của ông? Chắc chắn là không. Vậy mà nó theo nàng đuổi nàng đến tận bây giờ. Dưới ánh đèn, nàng dở từng trang trong cuốn album dầy cộm. Từng trang thậm trọng lướt qua. Không một dấu vết. Cuốn thứ nhất. Cuốn thứ nhì. Con nhỏ lẩn thẩn quá chừng. Người dưng lạ quắc, bắt họ hàng làm thân. Nàng tự cười mình, hờ hững lướt qua cuốn album khác. Thôi cũng lỡ mất ngủ, lâu lâu nhìn lại hình ảnh xưa cũng thú vị… Cuốn album cuối cùng xếp lại, nàng thẫn thờ ngã người xuống chiếc sofa. Có lẽ đời sống nàng vẫn chờ đợi một hình ảnh nhạt mờ nào đó. Một cái tên trùng hợp hay một bóng hình không thật. Cái tên của một đoạn đường dĩ vãng mà chính nàng chưa hề băng qua. Nàng chợt ứa nước mắt. Chồng và con đang yên giấc ngủ say cho ngày mai có thật. Hạnh phúc đang ở trước mặt nàng có thật. Ánh mắt đọng nước của nàng chợt dừng lại cuối phòng. Đúng rồi ở một góc cuối của căn phòng mẹ nàng. Nơi mà mỗi đêm bà đều nhìn ngắm hằng giờ. Nơi bà treo bức hình họa lớn từ bức ảnh nhỏ trắng đen, phai màu bà bọc kỹ lưỡng trong cuốn album. Bức hình mẹ nàng chụp chung với người thanh niên, một thời mới lớn. Bức ảnh mà bà trân trọng lau chùi hằng ngày, như một kỷ vật thiêng liêng bất khả ly thân. Bức hình duy nhất của mẹ nàng chụp chung với người đang luân lưu giòng máu trong nàng. Nhiều lần hỏi mẹ, bà chỉ thở dài và nức nở thương nhớ như mới hôm qua. Chỉ một lần, có nàng và họ chẳng bao giờ gặp lại nhau lần nữa. Tại sao? Tại đời bà trôi nổi theo vũng lầy của dòng kinh nước đen cuộc đời nghiệt ngã. Tại cuộc chiến tranh bùng nổ dữ dội, tan tát và nhận chìm bao nhiêu thân phận con người. Tại hai giòng đời họ mãi mãi chảy song song trên cùng mặt phẳng của định mệnh. Nhưng đêm nay, nàng chợt nhận ra chừng như ở cuối đuôi mắt trái của người thanh niên trong ảnh cũng in vết chiếc nút ruồi hệ lụy.

Nàng bật ngồi dậy và cầm điện thoại bấm số quen thuộc của mẹ. Tiếng reng từng hồi. Hai, ba, rồi những hồi sau nối tiếp. Không ai nhấc chiếc điện thoại ở phía kia đầu dây. Chắc bà đã ngủ say, quá say bởi những viên thuốc giúp bà vượt qua bao đêm khó ngủ, bơ vơ. Không biết bà đang trong giấc mơ đen tối một đời, hay đang tung bay trong một lần tươi đẹp đời bà thoảng khắc… Ngày mai sẽ tới, như mọi sự thật sẽ chồi lên theo nắng ban mai. Đêm chợt rộn rã và sâu thẳm.

5.
Bên cạnh Liz dựa vào vai ông thở đều. Mấy hôm nay cả ông và Liz đều làm việc thật dồn dập, ngày đêm. Ông ăn tại chỗ làm, và có ăn ngoài ông phải đi ăn với bạn đồng nghiệp. Họ vừa ăn vừa tiếp tục các dự kiến công việc sắp tới. Ông đã không có dịp nào để gặp lại vợ chồng người bạn trẻ ông gặp ở quán ăn. Cho đến một buổi sáng thật sớm, Liz gọi qua phòng ông báo cần gặp ông gấp có chuyện khẩn cấp. Giọng Liz không đùa giỡn, làm bộ. Ông vội qua ngay và đã thấy Liz đứng đón ông ở cửa phòng. Trông mặt Liz mệt mỏi và thoáng chút lo âu. Không phải đợi, Liz báo ông đã mất kinh hơn hai tháng và sáng nay ói mửa đến vật vã. Ông sững sờ nhìn Liz, không biết phải hành động và ăn nói như thế nào cho hợp cảnh. Nàng cười trấn an ông, nếu có, chắc chắn là giọt máu của ông. Nhưng không vì thế mà bắt buộc ông phải nhận hoàn toàn trách nhiệm. Ông có thể chối từ, Liz không oán trách. Nàng muốn khám bác sĩ cho an tâm nên mới phiền đến ông. Làm sao ông có thể cầm lòng được trước ánh mắt rã rượi, xanh lơ của người đàn bà da trắng nầy. Và họ đã cùng trở về trên chuyến bay.

Qua khung cửa, phía dưới là những thềm mây trắng đang trôi ngược. Bầu trời xanh thắm, cùng tận. Ông không dám thở mạnh, nhúc nhích sợ đánh thức giấc ngủ say của Liz. Không ràng buộc nhưng ông đang quằng nặng trên vai trách nhiệm của mình. Bất giác ông chạm cuốn sổ đang đặt trong lòng. Bàn tay như một thói quen, kéo nâng niu cây viết máy cũ kỷ. Ông cúi mắt nhìn thật lâu bốn chữ khắc trên thân bút đã trầy trụa, nhạt mờ. “Kỷ niệm Ánh&Tánh”. Chỉ có vậy. Vỏn vẹn chỉ ngần ấy là cả một đời ông đóng kín mọi cửa ngõ của trái tim. Tình yêu ông đã dốc cạn, từ những buổi đầu tuổi nhỏ. Đến nay, ba mươi năm, không chút phai nhạt lãng quên. Những tưởng sẽ quanh quẩn vòng đời, nào ngờ là nghìn trùng xa cách. Chỉ cuối một chân cầu, mà nửa đời tăm cá mù khơi. “Nhưng lẽ đó, ông lại là người hạnh phúc nhất trên thế gian nầy. Người có được một tình yêu vĩnh cửu trong tim,” Liz thường nói với ông…

Trước mặt ông có muôn vàn bão tố. Tận đời ông có vạn nẻo đổi thay. Nhưng khuôn mặt và nụ cười đó, mãi mãi sẽ là thiên-thần-hạnh-phúc bên suốt đời ông. Trái tim người đàn ông dạt dào, thổn thức khi ký ức ông chạm lại đôi môi bé nhỏ đọng giọt mưa đêm. Cổ chợt khô nghẹn, đôi mắt ông trĩu nặng, nhạt mờ. Ông cố giương ánh mắt nhìn ra khoảng trời xanh bên ngoài. Cuối cùng ông cũng tìm thấy. Ông đã thật sự tìm thấy, một vầng trăng vằng vặc, treo lơ lửng giữa ban ngày.

Nguyễn Vĩnh Long
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.