Nhượng Tống và bài thơ “Cảm Đề Lịch Sử”

Posted: 15/07/2019 in Nguyễn Minh Thanh, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự

Nguyễn Minh Thanh


Nhượng Tống (1904-1949)

Lược Sử

Nhượng Tống (1904-1949), tên Hoàng Phạm Trân, bút danh Nhượng Tống, người Nam Định. Ông là nhà văn, nhà báo, dịch giả, nhà cách mạng Việt Nam và là thầy thuốc Bắc.

Thân sinh là ông Hoàng Hồ, đỗ tú tài đời nhà Nguyễn, nổi tiếng chống Pháp. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chính trị của Nhượng Tống.

Sinh ra trong một gia đình Nho học, Nhượng Tống được học chữ Hán ngay từ nhỏ. Sau Ông tự học thêm chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Dù học lực rất uyên bác, nhưng Nhượng Tống không có một mảnh bằng nào cả.

Nhượng Tống tham gia Nam Đồng Thư Xã, nhà xuất bản chuyên phổ biến các sách truyện phát động chủ nghĩa yêu nước và sau đó trở nên thành viên nòng cốt.

Ngày 25 tháng 12 năm 1927, Nhượng Tống cùng với các đồng chí thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng tại làng Thể Giao, Hà Nội. Ông là ủy viên trong Trung ương Đảng bộ. Trong vai trò trọng yếu, Nhượng Tống chuyên biên soạn văn thư tuyên truyền và huấn luyện đảng viên.

Năm 1929, theo kế hoạch của Ông Nguyễn Thái Học, Nhượng Tống vào Huế gặp cụ Phan Bội Châu, nhưng khi trở ra bị bọn Pháp bắt. Giặc tuyên án ông 10 năm tù rồi đày ra Côn Đảo, mãi đến năm 1936 mới được thả, nhưng vẫn chịu sự quản thúc tại quê nhà.

Khi đang ở nhà lao Côn Đảo, thì các đồng chí của Ông tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930). Nhưng thất bại, và bị thực dân Pháp khủng bố, đàn áp dã man.

Sau Cách mạng tháng Tám, vào tháng 12 năm 1945, Việt Nam Quốc dân Đảng, tham gia vào Chính phủ Liên hiệp Việt Nam. Nhưng cuối năm 1946, Pháp tái chiếm liên bang Đông Dương, thì Chính phủ Liên hiệp Việt Nam tan vỡ.

Năm 1947, hết thời gian bị quản thúc, Nhượng Tống trở lại Hà Nội tái tổ chức lại hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng, tại một số vùng do quân Pháp kiểm soát.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, Việt Nam Quốc Dân đảng tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, chống lại chính quyền Việt Minh và ủng hộ giải pháp Bảo Đại, thành lập chính quyền Quốc gia Việt Nam. Ông làm cố vấn cho Tổng trấn Bắc phần Nghiêm Xuân Thiện.

Đầu năm 1949, do những mâu thuẫn trong chính giới Hà Nội, cũng như trong nội bộ đảng. Nhượng Tống trở về hành nghề thầy thuốc Bắc tại Chợ Hôm, Hà Nội.

Ngày 8 tháng 11 năm 1949, Nhượng Tống bị tên công an mật Việt Minh là Nguyễn Văn Kịch ám sát tại Hà Nội. Ông bị hắn bắn xuyên qua gáy.

Qua tiểu sử của Nhượng Tống, chúng ta thấy hầu như cả đời ông luôn ôm mộng giải phóng nước nhà khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Với bài thơ “Cảm Đề Lịch Sử “, ông đã tỏ rõ nỗi lòng ưu tư thế sự và tương lai dân tộc, núi sông. Ông lo VN, không khéo rồi đây sẽ giống như Chân Lạp và Chiêm Thành với Hận Đồ Bàn ngậm ngùi muôn thuở khôn nguôi.

Không chỉ bằng thơ, bằng lời nói, mà chính bằng hành động, ngôn hành hợp nhứt. Ông đã gia nhập nhóm Nam Đồng thư xã. Đồng thời Ông cũng là yếu nhân trong công cuộc thành lập Việt Nam Quốc Dân đảng cùng với Ông Nguyễn Thái Học…

Dưới đây là bài thơ ” Cảm Đề Lịch Sử ” của Nhượng Tống:

CẢM ĐỀ LỊCH SỬ

Ba xứ non sông một giải liền,
Máu đào xương trắng điểm tô nên.
Cơ trời dù đổi trò tang hải,
Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
Có nước có dân đừng rẻ rúng;
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giựt mình nhớ chuyện nghìn năm cũ;
Chiêm, Lạp xưa kia vốn chẳng hèn.

Ngoài bài “Cảm Đề Lịch Sử”, Nhượng Tống còn có một số bài khác… như bài “Khóc Nguyễn Thái Học” xin chép ra đây để quí độc giả xót xa:

KHÓC NGUYỄN THÁI HỌC

Nhục mấy trùng cao, ách mấy trùng.
Thương đời không lẽ đứng mà trông.
Quyết quăng nghiên bút xoay gươm súng,
Ðâu chịu râu mày thẹn núi sông.
Người dẫu chết đi, lòng vẫn sống,
Việc dù hỏng nữa, tội là công.
Nhớ anh nhớ lúc khi lâm biệt;
Cười khóc canh khuya chén rượu nồng.

Thơ Tưởng Niệm

Tiếc thay một danh mộc trong cánh rừng gỗ tạp bị lâm tặc chặt đi một cách bừa bãi.

Tiếc thương một nhà ái quốc lận đận, tù đày, cái chết rất oan uổng, tài chí mai một… Hậu sinh có bài thơ nhỏ thành kính tưởng niệm Ông:

NHƯỢNG TỐNG (1904-1949)

Nước mất lòng đau hận ngoại nhân
Góp công chống Pháp đã bao lần
Tham gia nhóm Nam Đồng Thư Xã
Sáng lập viên Việt Nam Quốc Dân
Côn đảo ra đi cam thọ án
Hà thành trở lại bị vong thân
Xót thay tài chí đành mai một
Tổ Quốc đang khi… cần, rất cần!

Nguyễn Minh Thanh

Lời phụ bàn

Đọc “Cảm Đề Lịch Sử”, qua lời thơ, ý thơ, thử đem chiếu rọi vào Việt Nam đương thời. Chúng ta thấy rất ái ngại cho đất nước, cho tiền đồ Tổ Quốc, tương lai dân tộc VN đang ở vào giờ thứ hai mươi lăm.

Người dân, bây giờ không được bày tỏ lòng yêu nước. Mỗi khi lên tiếng: Hoàng Sa, Trường Sa là của VN; lập tức bị nhà cầm quyền trù dập áp bức, bỏ tù… Trong khi, Tàu Cộng tấn công ngư dân: cướp của, làm đắm tàu, bắn chết người… thì nhà nước VC chỉ nói vu vơ mơ hồ là do “tàu lạ” tấn công, bỏ chạy… chẳng dám phản đối hay cảnh cáo Tàu Cộng lấy một lời.

Mới đây có nghe phản đối chiếu lệ, chẳng tới đâu!

Ngay, những khu mộ tử sĩ đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc trong cuộc xâm lăng của Tàu Cộng năm 1979, dân chúng không được phép khói hương tưởng niệm.

Đền thờ Lý Thái Tổ vào ngày lễ cũng bị nhà cằm quyền ngăn chận việc lễ bái.

Về lãnh thổ, lãnh hải: Việt Nam tứ bề thọ địch bởi “bạn” Bắc phương với “4 tốt 16 chữ vàng”.

Mặt Bắc, những tỉnh biên giới Tàu Cộng lấn dần… lấn dần… kiểu tàm thực. Cửa Nam Quan đã mất, thác Bản Giốc còn một phần. Vịnh Bắc Bộ bị Tàu cộng gậm nhấm, nay còn chỉ bằng cái chảo đụn.

Biển Đông, xưa thênh thang… nay giống như cái ao nhà Trung Quốc. Tàu Cộng đã và đang bố trí vũ khí dày đặc trên những hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Những tàu cá Tàu Cộng ngang nhiên hà hiếp cướp giựt ngư dân VN vô tội vạ.

Phía Nam, sông Cửu Long cạn dòng, nước biển tràn vào… Đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước, bị ngập mặn. Nguyên do Tàu cộng đắp quá nhiều đặp trên nguồn, chận dòng nước ngọt. Rồi Lào và Miên cũng bắt chước Tàu Cộng xây đập. Việt Nam chưa có thái độ rõ ràng. Nông dân có nơi đang tưới hoa màu bằng nước mắt. Nước mắt đồng bằng sông Cửu Long.

Phía Tây, Miên Lào đã ngã hẳn theo Tàu Cộng. Việt Nam đang như con tàu Titanic đang đi dần vào biển với đêm đen vô tận.

Tới đây, bài biên soạn xin kết thúc bằng những câu thơ tự đáy lòng của Nhượng Tống:

“Có nước có dân đừng rẻ rúng;
Muốn còn muốn sống phải đua chen.
Giựt mình nhớ chuyện nghìn năm cũ;
Chiêm, Lạp xưa kia vốn chẳng hèn.”

Ngoài trời hừng sáng, phương đông ánh hồng ló dạng, vài tảng mây trắng ngậm ngùi bay.

Nguyễn Minh Thanh
GA – July 4, 2019

THAM KHẢO

– Trang web: Nhượng Tống, Nghiêm Xuân Thiện…
– Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ Điển, GS Trịnh Vân Thanh.

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.