Ngôi chùa trong tâm tưởng / The Pagoda in Conception

Posted: 20/09/2012 in Nguyễn Văn Sâm, Thiếu Khanh, Truyện Ngắn

Nguyễn Văn Sâm

Bửu Ốc Tiêu vừa đi vừa đá trái cầu thằng Đạt mới cho. Cầu vừa chưn ghê, chỉ có ba miếng vảy cá còn bao nhiêu là da cắt tròn vanh thiệt khéo, da thiệt, đá êm mà đầm vô cùng, không bao giờ xẹt bậy, mới thử có mấy cái mà thằng Bửu đã cảm thấy điều khiển cầu nầy dễ dàng, đá mộ ngàn cái coi như dễ ẹt. Bốn cái lông gà thuộc loại đẹp, mới, không biết thằng Đạt kiếm ở đâu mà đầy đủ lông tơ, chưa thấy chỗ nào xước ngược. Đá đâu độ chừng năm chục cái, và di chuyển khoảng đường chừng bằng một hơi u mọi nó đá hất trái cầu lên vai, lấy vai huých xẹt ngang trước mặt thằng Đạt, tuyên bố dõng dạc:

‘Tao chịu cầu nầy quá, từ bây giờ trở đi thằng Đạt, thằng Oanh, thằng Nhàn được quyền chép Toán của tao, chỉ cần tụi bây chép khác khác một chút thì được, ổng không thể nào biết đâu. Bữa nào có Toán cần nộp bài tụi bây nhớ tới trường sớm, tao đưa bài và chỉ mánh lới cho chép…’

Cả bọn hoan hô nó còn hơn anh hùng thắng trận trở về sau một thời gian dài gian khổ chống ngoại xâm.

Thằng Bửu Ốc Tiêu tiếp tục đá tiếp, giữ trái cầu trên không cho đến khi tới trước nhà mình mới ngừng lại chụp trái bỏ gọn vô túi, mỉm cười tự thưởng.

Thằng Đạt nảy giờ vẫn lẻo đẻo theo sau, nói nhỏ với Bửu:

‘Tao cho mầy hai chục mai ăn hủ tíu, mỗi tháng cũng đều có như vậy, nhưng mà từ nay mầy không được cho thằng nào coi bài nữa ngoài mấy đứa tụi tao. Ai cũng làm bài được thì còn ai học dỡ, phải có đứa đội sổ mới được, tụi tao đội nhiều rồi, bây giờ phải thế vai.’

Thằng Bửu nhớ tới thằng Phan, ông già thằng nầy tháng trước năn nỉ nó cắt nghĩa bài giùm giúp vì nhà nghèo thằng con nghỉ học nhiều nên bị mất căn bản. Nếu nó học dỡ  không lên lớp được năm nay thì bị đuổi phải ở nhà thôi. ‘Cháu mà giúp nhà bác thì như là cháu cất được năm bảy kiễng chùa…’  Ông nói giọng tha thiết, mắt rưng rưng.

Thằng Đạt còn nhấn mạnh: ‘Nếu mầy giúp nó thì mỗi tháng không có hai chục, lúc tụi tao đi chơi không cho mầy theo, tụi tao ăn gì mới cho mầy ké chút đỉnh thôi…’

Thằng Bửu đắn đo một chút rồi gật đầu. Không giúp thằng nầy thì giúp thằng khác, có chuyện gì đâu. Mình nhà nghèo cần tiền. Nó chào thằng Đạt, một tay mân mê trái cầu một tay cho vào túi cảm nhận xấp tiền, vừa bước vô nhà vừa hút gió một cách vô tư.

Tôi có người bác ruột, bác Ba, tu ở cái cốc trong khuôn viên nhà vốn là một khu vườn dừa rộng rãi. Hằng ngày tôi được đánh thức dậy bằng tiếng mõ lốc cốc, tiếng kệ kinh ê a của sư bác khi trời mới vừa hừng sáng. Má tôi nói sư bác trước dạy học cũng nổi tiếng trong vùng, bỗng nhiên từ nhiệm về đây dựng cốc tu hành, chắc có tâm sự gì đó. Má còn nói kệ kinh công phu sáng của sư ít nhứt cũng đánh thức người chung quanh dậy đúng giờ, đó là chưa kể gương kiên nhẫn của sư là một bài học quí giá nên theo. Buổi chiều, trời mới chạng vạng là sư đã có thời kinh tối, chăm chỉ, không ngày nào mệt mõi. Cái cốc của sư bác là nơi tôi thăm viếng khi thiếu lũ bạn cùng lứa để rong chơi ngoài đồng hay tắm sông, bẻ mía, lặt dừa, tát đìa, mò cá… Lần nào sư bác cũng cho trái cây cam quít, chuối, đu đủ… chín rục có những dấu tích đổi màu do chưng hơi lâu trên bàn Phật.  Nhiều khi qua cốc lúc sư đương thời kinh, tôi tự nhiên ngồi ở một mép chiếu để lắng nghe cái âm thanh huyền bí có sức ru ngủ mình với tất cả sự thích thú và lòng kiên nhẫn đợi chờ được sư bác vò đầu nói vài ba câu chuyện đời rồi cho ê hề bánh trái.

Lần nào cũng vậy trong khi chờ đợi, tôi tò mò nhìn mấy tấm tứ thời treo trên vách lá vẽ hình ông Phật ngồi nhắm mắt tham thiền hay ngắm nghía hình quỹ dữ mặt xanh nanh vàng, đầu u nần năm bảy cục đang lấy chỉa ba đâm người hay kéo lưởi cắt họng thiên hạ. Lúc rảnh rang sư bác thường cắt nghĩa về những bức tứ bình đó và thường nhấn mạnh bây giờ là đời mạt pháp quỷ sứ ma vương tràn đầy ngoài đường, đức Phật Bồ Tát cũng xuống thế độ nhơn nhưng ít thành công hơn thời Thượng Nguơn vì con người bây giờ làm điều xấu quá nhiều.

Tôi thắc mắc là sao ngoài đường không bao giờ thấy quỉ sứ, ma vương gì hết. Sư bác cười, vò đầu tôi hỏi: ‘Con có bao giờ thấy thằng ăn trộm, thằng đâm thuê giết mướn không? Nó trộm đồ mà người ta đổ biết bao nhiêu công khó mới có, nó nhận tiền người nầy để chém giết người kia…  nhưng mặt mày nó ngoài đời cũng bình thường như chúng ta mà thôi. Đó là quỷ sứ nhập thân hay là ma vương hiện hình đó con. Thợ vẽ vẽ mặt mày ma vương có nanh vút là để cho dễ thấy dễ biết mà thôi, chớ thật sự quỷ sứ ma vương không khác gì người thường hết đâu con. Vậy nó mới sống chung lộn với người đời, mới hại người ta được.’

‘Còn Phật thì sao sư bác? Phật có hào quang trên đầu. Phật chỉ ngồi tham thiền thôi phải không sư bác?.

‘Đó là Phật ngày xưa lâu lắm rồi. Thời mạt pháp nầy Phật xuống thế gian ở mọi nơi, lúc nào chung quanh ta cũng có Phật, cũng có Bồ Tát giúp ta tranh đấu chống ma vương. Chỉ tại lòng ta không đủ tín thành để chấp nhận đó là Bồ Tát mà thôi.’

‘Sư bác nói khó quá con không hiểu.’

‘Nầy nhe! Phật không xuống thế bằng một nhân thân, mà xuống thế thành muôn vạn người vô hình hay hữu hình ở kế bên mỗi người chúng ta. Phật trợ duyên từng người để biến người đó thành Bồ Tát trong một thời khoản ngắn. Nếu người nào thành Bồ Tát nhiều lần, thành Bồ Tát lâu dài thì sau nầy khi chết sẽ được siêu độ. Nhưng bên cạnh người đó cũng có quỷ sứ, ma vương  hiện diện. Nó xúi giục làm bậy như trộm cắp, láo xược, ngoại tình, gian dối, ức hiếp để dành giựt ruộng vườn nhà cửa của kẻ cô thế… nếu người nào nghe theo chúng thì biến thành ma vương một thời gian. Biến thành ma vương nhiều lần thì khi chết sẽ bị đọa địa ngục đời đời chịu khổ hình dưới âm ty không thể đầu thai.’

Tôi vùng ôm mặt khóc lớn, nức nở:

‘Vậy con sẽ bị đọa địa ngục. Sư bác cứu con với. Con ăn cắp hết ba trái xoài của bà nội vú trong khạp gạo rồi đổ thừa cho thằng em con. Lần trước nảy chuối sứ cũng vậy. Con cũng lén cạy ống heo của đứa em gái nữa, mỗi ngày cạy lấy một chút, con cũng bẻ trộm mía của hàng xóm, con cũng ăn hiếp thằng Tửng nhà xóm trên vì nó nhỏ hơn con.’

Sư bác tôi từ tốn giải thích:

‘Những lúc làm điều xấu như vậy con đã biến thành ma vương thời gian đó. Nếu con biết mình 1àm xấu mà chừa đi, mà ăn năn làm lành trở lại thì ma vương không thể dụ dỗ con để làm nô lệ cho nó nữa. Lâu ngày nó chán bỏ đi kiếm người khác dễ dụ dỗ hơn. Làm điều tốt thì con đã hóa thân thành Bồ Tát lúc đó. Bồ Tát hay ma vương là những trạng thái ngắn hạn trong lòng mỗi con người, không phải là trạng thái hằng cữu. Lúc làm Bồ Tát thì người ta sung sướng thơ thới lòng, mặt mày sáng sủa rạng rỡ như có hào quang tỏa ra. Lúc làm ma vương thì lòng nóng như bị thiêu đốt, khó chịu, mặt mày đăm chiêu buồn lo. Đó là lửa dục thiêu đốt lòng, đó là những u nần mọc ngược vào trong tâm não, đâm vào phía bên trong của người con.’

Tôi lý sự trả treo:

‘Vậy thì con người đồng thời là Bồ Tát và ma vương?’

‘Đúng vậy! Khi hành động vì người khác, mình là Bồ Tát, khi hành động có hại cho người khác để lợi cho mình, ta là ma vương.  Nói là nói đơn giản như vậy, chứ hành còn hạnh nữa. Hành vi Bồ Tát nhưng tâm hạnh ma vương thì cũng là ma vương thôi. Mà thôi! Con buồn ngủ rồi, ta sẽ nói chuyện hành và hạnh trong dịp khác.

Tôi buồn ngủ thiệt tình, mấy từ ngữ khó nuốt trôi như hóa thân, trạng thái ngắn hạn, trạng thái hằng cữu, lửa dục hào quang mà không thấy được, u nần mọc vào bên trong tâm não nhảy múa loạn xạ trong trí tôi…. Tôi cũng ngán ngẫm khi nghe đến các khái niệm hành và hạnh. Chúng không hấp dẫn bằng nãi chuối thâm kim, mấy trái quít và hai chén chè trên bàn Phật trước mặt đang cười cười mời gọi.

Sư bác tôi nhìn thấy ánh mắt ước muốn của cháu mình, nói trong nụ cười hiền từ:

‘Con đương bị ma vương dụ dỗ đó. Bây giờ còn nhỏ thì chẳng sao đâu, ma vương chỉ dụ được những việc xấu nhỏ, nhưng đừng để ma vương có dịp lớn lên trong tâm hồn mình. Quan trọng là phải chống lại những cám dỗ của ma vương.’

Sư bác tôi đứng dậy nhón chưn hạ dĩa trái cây xuống, hào phóng đưa cho đứa cháu trần tục cùa mình thiệt nhiều quà của Phật.

Chỉ đợi có vậy, tôi kéo banh vạt áo trước ra đựng, hai tay ôm chặt, chạy u ra tuốt mé mương ngoài rìa vườn nhà nơi thường có mấy thằng bạn trang lứa tụ tập trững giởn, phá phách…

‘Xuống xe qua bac bà con cô bác ơi!’ Người lơ xe vừa nhảy xuống, xe vẫn còn trờ bánh tới nhè nhẹ, đã ca bài ca xưa cũ. ‘ Chỉ có ông bà già là được ngồi lại trên xe, còn ai thanh niên thì xuống đi bộ qua bac nhe! Tới trước kia mà nhận giấy qua bac.’

Mọi người lục tục xuống xe, người lếch thếch đi tìm chỗ tiểu tiện, kẻ xăm xăm vô quán kiếm chút gì đó dằn bụng, giáo Bửu theo đám đông bước về phía trước, chỗ xét giấy, nơi đây thằng lơ xe đã đợi sẵn chìa cho khách của xe mình tấm giấy trả tiền qua bac. Giáo Bửu nhìn đoàn xe nhà binh rồi lắc đầu ngao ngán: ‘Điệu nầy hai ba giờ đồng hồ nữa biết xe mình nhúc nhích được chưa.  Xe nhà binh ưu tiên mà đi hành quân dài sọc như thế nầy qua tới bao giờ xe dân sự mới được qua.’

Anh bước vô đám đông để nghe điệu ca vọng cổ mùi tận mạng do một nghệ nhân lỡ thời đương xuống giọng xề. Nghệ nhân cụt hết hai tay tới cùi chõ, chỉ còn lại lủng lẳng hai cánh trước. Anh ta mang trước ngực một cái lon sửa bò là chỗ đựng tiền do khách bộ hành mũi lòng thương hại bố thí cho. Cái micro được cột vô một cánh tay cụt, khi nghệ nhân cất giọng ca thì giơ lên, người cột đã canh vừa đủ tầm cho âm thanh có thể bắt được.

Giáo Bửu hờ hững nghe, cũng bâng quơ ngó người đàn bà già trước tuổi đi sau nghệ nhân, ôm cây đàn. Bỗng anh như nhảy nhổm lên hỏi lớn:

‘Phải mầy đó không Phan?’

‘Phải! Bửu còn nhìn tôi sao? Tưởng giả bộ quên tôi rồi!’

Giáo Bửu ứa nước mắt, hai tay choàng qua ôn bạn:

‘Hơn chục năm rồi mình không gặp nhau. Cuối năm học đó mình không bao giờ gặp lại bạn nữa.’

Người chung quanh tò mò nhìn sự tương phùng của hai người bạn. Người đàn bà của Phan lãnh đạm ngó bạn của chồng.

Giáo Bửu xăng xái mời hai người ghé vào quán gần đó…

Bên ly trà đá người nghệ nhân kể lại đời mình với một giọng thiệt bình thường nhưng Giáo Bửu nghe như kim đâm vô tim từng cái từng cái đau điếng hồn:

‘Tôi mất căn bản về Toán và Sinh ngữ, anh chỉ giùm thì biết chút chút vậy thôi, Khi anh quá bận thì tôi đành chịu. Cuối năm đó thi lên lớp rớt, phải về quê làm ruộng với ông già.Anh cũng biết vùng xôi đậu mà, ban ngày bên quốc gia, ban đêm họ về, tuyên truyền, bắt lính…. Họ bắt mình theo vô bưng. Thời chiến tranh mà! Vướng vô vòng thì không chuyện nầy cũng chuyện khác.Trong một trận chống càn, tôi bị pháo trúng….tàn phế nên được tản cư ra chợ đã năm sáu năm nay. Còn sống là may. Có người vợ chịu thương chịu khó theo mình cũng là một cái may nữa.  Gặp anh, anh không sợ mất thể diện mà nhìn bạn, tôi sung sướng vô hồi. Mấy năm nay tôi sống trong bi thiết chán chường lúc nào cũng muốn rũ sạch bụi trần để ra đi. Đời mình còn gì nữa đâu để ham hố níu kéo. Chưa làm được vì còn một mụn con thơ và người đàn bà tri kỷ.’ Giọng Phan nhỏ dần như tiếng thở dài hiu hắt. Giáo Bửu nghẹn ngào ray rức trong tâm, thấy dường như mình có lỗi .

Tôi đi trả nợ cho nửa quê hương thất trận hơn mười năm trở về, ngơ ngác giữa dòng đời bon chen xào xáo nhưng hiếm hoi chân tình với người chung quanh gần gũi. Cha tôi đã mất, sư bác cũng đã siêu linh tịnh độ hơn bảy tám năm nay rồi. Những buổi chiều buồn, tôi lang thang vô cái cốc đóng kín cửa hoang phế, phủ bụi từ ấy để tìm chút dư vị tuổi thơ. Một lần tôi tò mò mở một gói giấy dầu đặt ở cuối góc trang thờ Phật, ngoài có đề mấy chữ nắn nót: Kinh Phật Di Di Đà. Tôi mở ra, ngoài hai gói kinh còn có một gói tiền toàn giấy nhỏ một trăm, hai trăm, năm trăm, một ngàn, hai ngàn .. và một bức thơ gởi cho tôi.

Phong Điền, ngày tháng năm vô vọng.

Tuấn con,

Tiền nầy sư bác chắt mót kỳ khu hơn hai chục năm mới có được. Đổi đi đổi lại thì ra thế nầy, đủ để mua mười lượng vàng hay cất một kiểng chùa nho nhỏ cho Phật tử có nơi đến chiêm bái đấng Từ Phụ. Đủ tiền thì sư bác thỏa mãn ước vọng xây chùa đồng thời thất vọng về chính mình, té ra bao nhiêu năm nay mình lặn lội cực nhọc, mình dè xẻn khiêm tốn vì một số tiền, mình cười với tín hữu nầy, vâng dạ với tín hữu kia vì số tiền đó.

Ngôi chùa phác họa trong tâm tưởng hướng dẫn cái hành Bồ Tát, còn cái hạnh Bồ Tát của sư bác nằm ở đâu?  Cất chùa lớn rồi thì sư bác phải dính vô chuyện duy trì chùa, bão vệ chùa, sư bác sẽ sinh hoạt chùa chớ còn đâu tâm trí để tu hành kệ kinh, sư bác sẽ làm chuyên chùa sự chứ đâu phải làm chuyện Phật sự. Cái hạnh Bồ Tát suốt đời sư bác nhắm về coi như mỗi lúc càng chạy ra xa.

Khám phá ra điều nầy, sư bác thấy bao nhiêu năm nay tưởng rằng mình làm đúng hóa ra sai. Sư bác tạ lỗi với chư Phật bằng cách tuyệt thực từ từ cho đến ngày được về chầu Phật tổ. Số tiền nầy con có toàn quyền sử dụng theo ý muốn, có ích cho con hay cho người khác đều được.

Nhưng con nên nhớ cái hạnh đáng quí gấp mấy lần cái hành.

Cầu nguyện ơn trên gia hộ cho con.

Thích Giác Nguyện.

Chỗ ký tên thế danh lâu ngày mực nhòe nhoẹt không đọc được, cố gắng lắm mới nhìn ra là Nguyễn văn Bửu.

Số tiền đó má tôi chép miệng than rằng với thời giá, mua chưa đầy ba chỉ vàng, một cái chùa bình thường nho nhỏ ở vùng quê lúc nầy cũng phải tốn gấp trăm lần số đó. Ngồi nhìn gói tiền lâu ngày ẩm mốc, bốc mùi tanh tanh từ những bàn tay dính đầy dầu mở, cát đất, cá thịt của chúng sanh nghèo khổ khi cúng dường cho sư, tôi quyết định đem đốt bỏ để giải thoát hương linh sư khỏi vướng víu với nó nữa. Nơi chốn thiêng liêng kia chắc sư không còn thắc mắc về hành hạnh, theo tôi hai khái niệm nầy hòa quyện lẫn nhau không có lằn ranh phân biệt, càng biện biệt ta càng bị bủa vây không lối thoát…

Xếp bằng chỗ ngày xưa sư bác đặt bồ đoàn ngồi gõ mõ tụng kinh, tôi đốt từ tờ những tấm giấy bạc thiệt như người ta đốt giấy tiền vàng mã. Ngọn lửa xanh lân tinh từ tốn ngún cháy, liếm từ chút từ chút, mấy cái hình trên giấy bạc bỗng chốc trở nên méo mó dị dạng. Tôi chợt mơ hồ thấy nụ cười hiền từ của sư bác quanh quẩn đâu đây.

‘Mong sư bác siêu thăng, hànhhạnh Bồ Tát chẳng qua là những điều dạy đạo lý giúp người đời sống từ bi vị tha, sư bác đã hành thiện, đã sống xứng đáng là một con người khi cố gắng thực hành một ước vọng không vì mình. Sư bác đáng được về cõi tĩnh hằng miên viễn như một Bồ Tát….’

Nguyễn Văn Sâm
Victorville, CA 12/09
Nguồn: Tác giả gửi


The Pagoda in Conception

By Nguyễn Văn Sâm; English translation by Thiếu Khanh Nguyễn Huỳnh Điệp.

Bửu “Ốc tiêu” [1] was kicking a shuttlecock, which Đạt had just given him, while he was walking. The thing was so suited for his feet. Except three pieces of fish scale, the round pieces of well-cut leather gave the shuttlecock a soft touch to kick at; it never bounced to an unexpected direction. Having given it a try Bửu felt it quite easy to control the toy, and he felt as if he could manage a thousand continual kicks at a go. Four new and beautiful cock feathers were collected somewhere by Đạt, with all their down, without a tiny scratch. After some fifty kicks, and having moved a distance equal to that of a breath in the run-and-catch game, by a kick, Bửu threw the shuttlecock onto his shoulder which in turn flung it grazing Đạt’s face, and he solemnly announced:

“I very much like this shuttlecock. From now on, Đạt, Oanh and Nhân are allowed to copy my math, but you all should make it a little different from mine so he wouldn’t be able to recognize it. Anytime we have math for home work, you should come to school early, I’ll let you have my notebook and show you the trick to copy my task…”

Those boys applauded him as if he had been a hero coming back from battlefield after a hard fighting against invaders. Bửu “Ốc tiêu” continued to play with the shuttlecock until he was in front of his house. He stopped playing to catch the shuttlecock in his hand and put it into his pocket, rewarding himself with a smile.

Đạt, who kept following Bửu all the way, told him quietly:

“Every month I’ll give you twenty đồng so you can eat hủ tíu [2] for breakfast in the morning, but from now on not anyone except the three of us should be allowed to copy your task. If every pupil could do the assignments well then who’ll be the bad? There must be someone to be the worst at the bottom of our class list. We’ve occupied that position so often, there should be someone now to take our place.”

Bửu thought of Phan whose father had entreated him last month to explain the lessons to his son. Living in poverty Phan cut class so often and as a consequence, he found himself  loose at basic knowledge. If he would fail to get to the higher class this year  the possibility that he flunk out of school was quite clear. “If you help my son to tide over this difficult stage it would be like you have built many pagodas.” The father aspired to insist it with tears welling up in his eyes.

Đạt emphasize: “If you help him you won’t have twenty đồng every month; you won’t be allowed to go play with us; when we have something to eat, we would give you just a little.”

Bửu was standing weighing the conditions for some moments and he nodded his head. If I failed to help this one I would support the other, nothing would matter at all. My family is in need, and I need money. Parting company with Đạt, he walked into his house while his mouth was whistling joyfully, one of his hands was fiddling with the shuttlecock, and the other feeling the sheaf of money in his pocket.

oOo

I have an uncle, uncle Ba – my dad’s elder brother. He was a Buddhist monk living in his hermitage within a large coconut garden of the family. Everyday I was woken by the sound of the wooden bell when the monk uncle was reciting his sutras in the break of day. My mother said the uncle used to be a teacher, one day he suddenly got rid of his teaching career and resigned himself to being a monk. “He must have experienced some heartfelt emotion,” said my mother. She also said that his intoning Buddhist sutras in the morning at least woke many people around on time to go for work, let alone his patience which was a valuable lesson for everybody to follow. At twilight in late afternoon, he started to practice his evening prayers, attentively, day after day, not a bit of weariness.

My monk uncle Ba’s hermitage was a place where I often visited when my peers weren’t prowling about so that I could join them to bum around in the fields or take a bath in the river, swipe some sticks of sugarcane, pick some coconuts, or to scoop out water from a pond to catch fish. Every time I turned up, my uncle the monk gave me some fruit, such as oranges, bananas, or papayas, all were ripe with spots on them for having been offered for a long time on the altar. Sometimes I arrived while he was inciting a sutra I simply sat down on a margin of the mat enthusiastically listening to the mysterious sounds that could lull one to sleep, and patiently waiting to be tenderly stroked on my head by the monk uncle, and he would talk to me about something, and give me a good deal of cookies and fruit.

Any time was the same; while awaiting him, I was running my eyes over the quadriptych on the wall, looking at the image of the Buddha sitting deep in meditation on it or those blue-faced and yellow-fanged demons with knobs on their heads who used their tridents to thrust someone, or they pulled someone’s tongue out and cut it. When having the time my monk uncle often spelled out to me those things depicted on the quadriptych and many a time he emphasized that it was the degenerate age of Dharma, devils and Satan were ubiquitous; the Buddha had to come to redeem men from misery but he couldn’t make it as big as he had done in primary era.

I wondered why I never saw any demon or Satan in the streets. The monk uncle smiled rubbing my head and asked: “Have you ever seen a thief or a goon, son? Such a man steals what people had to acquire by their hard work, such a man gets paid by this one to wound or kill the other… Those men look normally like all of us, son. But they are really the appearance of devils or demons. A painter usually draws a demon with fangs just to make it distinguishable and recognizable. In fact, those demons do not look different from normal human beings, son. That helps the demons live among people to harm them.”

“How about the Buddha, my monk uncle? The Buddha has halos above and around his head. Does the Buddha just sit to meditate, my monk uncle?”

“That was the Buddha in the very old days. In this Dharma degenerating age, the Buddha comes to the earthly world and is present everywhere. There are always the Buddha and  Bodhisattvas around us to help us fight against demons, only that we may not have enough good faith to accept that is a Bodhisattva.”

“You made it rather abstruse, I can’t get it,” I said.

“Well, the Buddha does not come to this world with a human body,” explained the uncle. “He embodies in thousands and thousands of visible and invisible beings around and next to us. The Buddha creates favorable conditions for individual to help him become a Bodhisattva in a short time. Anyone that has many times become a Bodhisattva or has become a Bodhisattva for a long time, when departs this life his soul shall be free from suffering. But demons are also present beside him. These devil spirits excite human beings to do bad things, such as stealing, telling lies, committing adultery, deceiving, oppressing and persecuting the others and rip the lonely and helpless off their lands and houses… Those who follow them will become devils for a period of time. One, who has become devil for many times when meeting his end, will be banished to the hell and be tortured forever and will never be allowed to reincarnate.”

All at once, I buried my face in my hands crying loudly: “I’ll be banished to the hell! Help me, uncle. I’ve stolen three mangoes my grandma had put in the rice vase to force them ripening and I shifted the blame for it on my younger brother. So did I previously with a cluster of banana. I also stole money from my younger sister’s piggy bank, a little each time. I stole the neighbor’s sugar cane and I bullied Tùng in the upper hamlet since he is smaller than I am.”

My monk uncle explained softly:

“While doing those wrong things you may have become a devil then. If you are self-conscious about your wrong doing, you are repentant and try to refrain from doing so and you try to do the right thing instead, devils won’t be able to seduce you into being their slave any more. After a long time they will be at the end of their rope and they will go find other people who are easier to be enticed. When doing the right thing you may become a bodhisattva at that time. Bodhisattva or demon is a short timed state in our mind; it’s not a permanent state. Being a bodhisattva, you’ll feel at ease, your face will be radiant as if you were sending out halos. When being a demon you’ll feel embarrassed and your heart very hot as if it were burned and a pained expression crosses your face. It’s so when your heart is being burned by the fire of lust. Those knobs will grow into your mind, into the inside or your being.”

I reasoned with him:

“So a human is both a bodhisattva and a demon at the same time?”

“That’s right,” answered my monk uncle. “When you are acting for somebody’s sake you’re a bodhisattva. When you’re acting to harm somebody for your own sake, you’re a demon then. That’s to make it simple.  Besides mental factor intention, your conduct should be taken into account. When your mental factor intention is of a bodhisattva but your conduct is of a demon, you’re merely a demon. Well, you seem to be sleepy. Let’s talk about one’s mental factor intention and conduct on another opportunity.”

I was sleepy really. Such difficult terms as “embody,” “short timed state”, “permanent state”, and invisible “fire of lust” and “halo”, or knobs that grow in one’s mind, and so on, were dancing in disorder in my mind. I was also tired of hearing the concepts of “mental factor intention” and “conduct”. They weren’t as attractive as a cluster of fully ripe bananas, some mandarins and two cups of sweetened porridge which were very inviting on the altar.

Seeing my craving eyes, my monk uncle smiled and said gently:

“See, you are induced by devil. Now you’re in your childhood it doesn’t matter much, devil just entices you into doing petty bad things, but don’t let that devil develop and become bigger in your soul. It’s important to fight against the seduction of devils.”

My monk uncle got up and he stood on tiptoe to bring down the plate of fruit from the altar and generously gave his niece a great deal of the Buddha’s gift.

That was all that I had expected. I extended the front part of my dress to contain the presents and held them tight with my two arms, I ran to the ditch on the margin of my family’s garden where those friends of my age often gathered to play mischievously.

oOo

“Dear passengers, please get out of the bus to board the ferry.”

The bus hardly came to a halt when the bus worker had jumped off and recited his catch phrase: “Only elderly passengers are allowed to stay, the others must get out of the bus and walk onto the ferry. Come and get your ferry tickets over there.”

Passengers followed one after the other to get off the bus. Someone was looking for a restroom while the others went directly to an eatery to have a bite. Teacher Bửu accompanied a group of passengers to the checking point where the bus worker was distributing ferry tickets to the passengers of his bus. Taking a look at the military convoy, teacher Bửu shook his head discouragingly. “In such situation like this, who could say the bus would be moving in two or three hours to come? Such a long military convoy in operation like this must be on top of the priority list, when will come the turn of these civil buses to cross the river?” Bửu made his way into a crowd to listen to a has-been lowering his voice to the bass note as he was singing a piece of Vọng Cổ [3]. Both of the busker’s arms were amputated to the elbows, only his forelimbs left. On the busker’s chest hung a tin can to receive tips from compassionate listeners. A microphone was tied to his amputated arm at such a level that when he sung the device could be raised to his mouth, proper to pick up his voice. Teacher Bửu was indifferently giving ear to the song and looking in a vague manner at the woman who seemed to have aged in advance of her years; she was holding an instrument and walking behind the disable busker. Teacher Bửu almost jumped up when all of a sudden he asked with a loud voice:

“Is that you, Phan?”

“Yes I am. You still recognize me huh, Bửu? I thought you would pretend to have forgotten me.”

Bửu shed tears giving his friend a hug:

“We haven’t seen each other for more than ten years. I haven’t met you since the end of that school year.”

The passer-bys were curiously looking at the couple of schoolmates. Phan’s woman was insensibly beholding her husband’s friend.

Bửu ardently invited the couple into an eatery near by.

With a glass of iced tea in front of him, the busker was relating the story of his life in a normally calm voice but Bửu felt painful stings in his heart.

“I was loose on math and language, with your help I managed to catch on to the subjects a little, but when you were busy I was dead to them again. At the end of that school year I failed the exam for the next class, I flunked out of school and stayed home to help my parents cultivating the field. Our native hamlet was a place where occurred a political mishmash, you know. Government’s administration was in effect in the daytime. At night, the members of the “other side” would come on the scene to propagate their policies and press-gang you into military force… They brought you to their base in the mountain. It was wartime then; when you were caught up in the system everything could happen. In a counter raid fighting I was wounded under artillery, my arms were amputated. We have been evacuated to town for five or six years. Anyway, it’s lucky to be alive. I am also fortunate that my wife always takes pains to follow me. You aren’t afraid of risking losing face when recognizing me as your friend that makes me very happy. I feel very disheartened and embittered in recent years. I often want to go out of this dusty world. I have nothing to crave for in my life. But because of my child and my wife – this bosom friend of mine, I have to still linger on. “ Phan’s voice was lower and lower, it sounded like a sorrowful sigh. Teacher Bửu was choked and he felt uneasy as if he was guilty.

oOo

I have been away for ten years paying my debt to the country for having lost the war. I came back and found myself bewildered in the scrambling and troublesome life which was devoid of sincerity in dealing with the other humans around. My father had passed away. My monk uncle had also left this earthly life for the Pure Land more than seven years ago. In gloomy afternoons I usually wandered into the deserted closed hermitage to reminisce about some experience in my childhood. Once I curiously unpacked an oilpaper parcel which had been put at the far end of the altar. The words written on the outside of the parcel read: “Amitabha Buddha Sutra”. In the parcel, except two packs of the sutras, there was one pack of money comprising one hundred, two hundred, five hundred, one thousand and two thousand bills, and a letter written to me.

Phong Điền, the date of hopelessness.

Dear Tuấn,

This sum of money is the result of many years I stung myself in everything, and after having them exchanged many times I’ve got these bills. This may be sufficient to buy ten taels of gold or to build a small pagoda to offer Buddhists a place to worship our Great merciful Father. I may have had enough money to meet my aspiration for building a pagoda but in the meantime I feel disappointed about myself: it turned out that it was because of this amount of money I had to be parsimonious with my expenses and experience lot of hardship; additionally, I had to smile with this follower and slavishly agree with the other one for it.

The pagoda I had depicted in my mind guided the Bodhisattva’s mental factor intention, but where was my conduct as a monk then? Building a pagoda and I would have to involve myself with the managing task to maintain and preserve it, I wouldn’t be able to concentrate my mind to my monkhood to study the sutras, and thus I would be caught to pagoda-work not to Buddha-work, thus pushing my Bodhisattva’s mental factor intention far away.

Seeing this, I became aware that all that I thought I had done right thus far was all wrong. To atone for my mistake, I chose to stop eating until I would leave for the Buddha’s land. This amount of money shall be at your disposal: you may use it just for your benefit or for others’ sake as well.

But you must remember that your conduct is much more valuable than your mental factor intention.

May God bless you.

Thích Giác Nguyên.

I tried hard to recognize the worldly name in the signature which had been blurred by time, it was Nguyễn Văn Bửu.

“That amount of money,” my mother chirped out a sigh, “at present market price, could hardly buy three tenths of a tael of gold. A small pagoda in the countryside nowadays would cost some hundred times of that money.” Looking at the bundle of mould-covered bank notes which had been offered by many people in their very reduced circumstances whose hands were stained with dust, oil, grease or having fishy odor, I decided to set it on fire to free the soul of the monk from being attached to it.  I hoped in his sacred region the monk would be no more anxious about one’s mental factor intention and conduct. To my eye, these two concepts dissolved into each other without leaving a distinguishing line. The more you try to discriminate this one from the other the more you are entangled in them and unable to escape.

Sitting cross legged at the place were my monk uncle used to sit on his mattress reciting the sutras years ago, I burned piece after piece of the bank notes like someone burning their votive papers. The phosphor-like green flames gradually ate up the bills. Some pictures on them became strangely deformed in next to no time.

Suddenly I thought I had vaguely made out the gentle smile of my monk uncle around here.

“May you enter the Pure Land, my dear uncle. Bodhisattva’s mental factor intention and conduct are just the moral principles to teach people how to live altruistically and to develop affection and mercy for the others. You have lived so well with a kindly heart trying to fulfill an unselfish aspiration. You deserve to attain the Buddha’s eternal land like a Bodhisattva…”

By Nguyễn Văn Sâm; English translation by Thiếu Khanh Nguyễn Huỳnh Điệp

[1] “Ốc tiêu” – an epithet describing a physically small cricket in cricket fighting, meaning “tiny but braver / or better than the others.”

[2] A kind of Vietnamese noodle served hot with other ingredients.

[3] A type of favorable traditional songs chiefly sung by people in South Vietnam

Đã đóng bình luận.