Tưởng Năng Tiến
Ngày 31 tháng 10 năm 2012 – trên trang pro & contra – nhà văn Phạm Thị Hoài cho phổ biến “đoạn trích từ bức thư của một người bạn sống tại Hà Nội”, với những câu mở đầu (xem ra) hoàn toàn không có gì vui vẻ:
Tình hình (xem chừng) có vẻ lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và e sẽ lôi thôi lớn. Tuy thế, giữa lúc “khủng hoảng thực sự đã tràn về, mọi nơi mọi chỗ” – với đôi chút chủ quan – sao tôi vẫn thấy có “un peu de soleil dans l’eau froide.” Đất nước đang chìm trong biển nợ nhưng người dân thì đang ngoi dần lên từ biển… sợ!
Nhớ lại hồi 1954, có gần một triệu người Việt di cư từ Bắc vào Nam. Họ bỏ đi – nói cho gọn, và chính xác – chả qua là vì… sợ. Nỗi sợ hãi này đã được ghi nhận bởi không ít người còn ở lại:
Ở “trong tầm ngắm” và “đang bị công an theo dõi” thì không sợ mới là chuyện lạ. Bạn bè, người thân – tất nhiên – buộc cũng phải sợ theo, và sẽ mất dần là cái chắc. Nhiều năm sau, năm 1967, nhà văn Vũ Thư Hiên cũng trải qua chút kinh nghiệm gần tương tự:
Tôi nhìn theo tác giả Bỉ vỏ. Anh đi không ngoảnh lại. Cuộc gặp gỡ Nguyên Hồng để lại trong tôi cảm giác xót xa. Tôi không giận Nguyên Hồng. Tôi chỉ buồn thôi. Buồn lắm. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày. Westminster:Văn Nghệ, 1997).
Buồn là phải!
Đến năm 1973 thì đến lượt Bùi Ngọc Tấn thấm thía cái nỗi buồn này:
Phải sống “trong tầm ngắm” của công an, cùng với nỗi lo sợ (thường trực) như thế thì hãi thật và hãi lắm. Bởi vậy, đến năm 1975, lại có thêm vài triệu người Việt nữa – ở cả hai miền – đã đồng loạt bỏ của chạy lấy người. Họ quá sợ nên cứ đâm sầm ra biển. Chết đuối, chết trôi, chết chìm (dám) tới một phần ba – hoặc (không chừng) gần nửa!
Ở lại là một chọn lựa vô cùng can đảm nhưng rất bất an. Tuy mang tiếng là được sống trong cảnh hoà bình và thống nhất, tại một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc nhưng những “trại tù (vẫn) người đi không ngớt” – theo cách mô tả của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, và ghi chép của nhà văn Phạm Thị Hoài:
Con số người bị kết án, cũng như những năm tù kèm theo (rõ ràng) mỗi lúc một tăng nhưng không có gì bảo đảm là xã hội sẽ ổn định hơn – nếu chưa muốn nói là ngược lại, theo như nhận xét của thi sĩ Hoàng Hưng:

Nguồn ảnh BVN
Nếu không bị bệnh khiếm thị, giới cầm quyền ở Việt Nam chắc chắn phải nhận ra một sự kiện trần trụi là họ đã không khuất phục được bất cứ ai bằng những nhà giam. Sau khi mãn án, những tù nhân lương tâm (thường) hoạt động… tích cực hơn!
Người Việt không còn bị sợ như trước nữa. Sự bạo ngược và lòng tham vô đáy của giới cầm quyền đã dồn người dân đến bước đường cùng. Họ không còn chỗ để có thể lùi được nữa. Hình ảnh những đoàn dân oan lũ lượt khắp nơi, mỗi ngày một đông (với những hành vi và biểu ngữ có nội dung mỗi lúc một thêm thách thức) minh chứng rõ điều này.
Cái thời mà những người tù Bùi Ngọc Tấn phải cất tiếng than (“Khi ở tù ra hầu như tôi chỉ còn một nhúm bè bạn…”) đã qua rồi.
Bây giờ, Phạm Thanh Nghiên vừa đi tù về thiên hạ đã đến thăm nườm nượp:

Nguồn ảnh Blog Nguyễn Tường Thuỵ
Tiếp theo sau là “phái đoàn” của Người Buôn Gió:
Toàn là anh em, vợ con tù tội cả lũ với nhau mà chả ai có vẻ gì là sợ hãi, xấu hổ hay mặc cảm gì sốt cả. Đã thế, họ trông còn có vẻ… hớn hở và rạng rỡ nữa cơ. Chả bù với đám bạn tù của Bùi Ngọc Tấn năm nào, cũng ở Hải Phòng:
– Bố. Có ai hỏi bố ở dưới nhà ấy?
– Ai con?
– Con không biết, trông lạ…
Hắn xuống thang. Hai người quần nâu, áo nâu đứng dựa lưng vào tưởng chỗ bể nước. Quen quen. Đúng rồi. Min: toán chăn nuôi, người đã giũa răng cho hắn. Còn một anh nữa mặt loang, tay loang. Thấy hắn, cả hai cười rất tươi. Người mặt loang bảo:
– Anh không nhận ra em à?
Trời ơi. Thì ra là Dự. Dự có con chuột được đem xử án. Dự hay bắt tóp. Dự cũng đã được ra rồi. Dự bảo:
– Em bị cháy, bỏng.
Hắn mời hai người lên nhà, nhưng Dự lắc đầu:
– Thôi, chúng em đứng ở đây thôi. Hắn liếc nhanh vào cửa sổ của gia đình gần bể nước. Những cặp mắt tò mò, khinh bỉ đang nhìn bọn hắn. Bọn hắn thì chẳng lẫn vào đâu được. Bây giờ bè bạn hắn rặt một loại như vậy.
– Lên nhà! Lên nhà chuyện nào. Đừng đứng đây!
Hình như ba tiếng cuối ‘đừng đứng dây’có tác dụng. Họ rón rén lên thang gác. Có lẽ cả đời hai người khách chưa được bước lên thang gác lần nào.
Dự bảo:
– Em hỏi cô đồng hồ ngoài cửa. Cô ấy bảo anh ở trên gác.
Hắn pha nước và hỏi Dự:
– Còn thuốc hút không?
– Em còn.
Hắn lấy ra bọc thuốc của hắn, rứt cho Dự một nắm to. Vừa uống hết chén nước thì Ngọc đi làm về.
Thấy Ngọc, cả hai sợ hãi:
– Thôi, chúng em đi đây.
Hắn rất muốn giữ hai người lại, ăn với hắn một bữa cơm và trò chuyện đôi chút, nhưng hắn nể Ngọc. Đúng hơn là sợ…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000).
Phạm Thanh Nghiên mà cũng có chút “nể sợ” tương tự thì đỡ mất mặt cho chính quyền địa phương biết mấy. Coi, nghe có ứa gan không chứ:
Công an đến bẩy lần
Bốn lần giấy triệu tập
Bắt lên phường: “dạ, thưa!”
Bà bảo cho chúng mày biết: chỉ cần cái Nghiên ra khỏi tù trước độ một năm thôi, và khách khứa cũng cứ tấp nập kéo về Hải Phòng như thế thì (không chừng) cả lũ đã bị ông đại tá Đỗ Hữu Ca cho tập kích bằng vài trận đánh đẹp (có thể viết thành sách) rồi đó nhá. Hay nhẹ ra thì gia đình Phạm Thanh Nghiên cũng bị nhà tan cửa nát, phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất – y như vợ con của hai ông Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý – chứ chả phải bỡn đâu.
May mà trước đó đã có tiếng súng hoa cải nổ ở Hải Phòng, cùng với sự cố “1343 bài báo và 5 triệu người vào mạng Gú gờ chấm Tiên Lãng” nên giới quan chức Việt Nam đã hiểu ra được thế nào là “công luận, và đã bắt đầu biết… sợ. Cái sợ, ở Vịêt Nam, cũng đã đổi chiều. Nó đang chuyển dần từ Dân sang đảng. Càng sợ thì đảng lại càng vơ vét lẹ. Có lẽ đó là lý do tại sao mà “đất nước đang chìm trong biển nợ” chăng?
Tưởng Năng Tiến
Nguồn: Tác giả gửi





















