Bài ca người gảy đàn ở Long thành

Posted: 29/01/2013 in Nguyễn Du, Thơ, Trần Ngọc Hưởng

Thơ chữ Hán: Nguyễn Du
Trần Ngọc Hưởng dịch

woman_playing_a_sanxian

Khách giai nhân đất Long Thành,
Chẳng ai nhớ được rõ rành họ tên.
Nguyệt cầm nổi tiếng ngón riêng,
Trong thành ai cũng gọi quen cô Cầm.
Lừng danh Cung phụng khúc đàn,
Từ bao triều trước thế gian đâu bằng.  
Nhớ xưa từng gặp một lần,
Tiệc vui hồ Giám đến gần nửa đêm.
Hai mươi mốt tuổi hồn nhiên,
Áo hồng đào ánh hồng lên mặt đào.
Ngấm hơi rượu má hồng sao,
Phím đàn dìu dặt tuôn trào năm cung.
Khoan như gió thoảng rừng thông,
Trong như đôi hạc vọng trùng xa xăm.
Mạnh như Tiến Phúc sét gầm,
Buồn như tiếng Việt, Tích nằm bệnh rên.
Nghe rồi mệt mỏi dường quên,
Tiếng đàn đại nội vẳng lên Trung hòa.
Tây Sơn quan khách la đà,
Mảng vui muốn kéo dài ra đêm dài.
Bốn bề gieo thưởng đua tài,
Bạc vàng coi rẻ vung tay ném bùn.
Vẻ hào hoa át vương công,
Ngũ Lăng chàng trẻ cũng khống kể nào.
Cung xuân băm sáu lắng vào,
Trường An một vật báu trao tay người.
Hai mươi năm thoắt qua rồi,
Tây Sơn đổ sụp, ta rời về nam.
Long Thành chốc bỗng quan san,
Nói làm chi chuyện hát đàn đã xa.
Đậm tình Tuyên phủ tiễn ta,
Tiệc vui ca nữ mặt hoa tuyệt vời.
Nhác trông chiếu cuối một người,
Tóc hoa râm dáng gầy hơi chớm già.
Đôi mày phờ phạc phôi pha,
Giấu sao hết nét tài hoa một thời .
Khúc xưa nổi, lệ thầm rơi,
Lắng nghe thêm, những bời bời ruột đau.
Hai mươi năm chẵn qua mau,
Mà người hồ Giám năm nào còn đây.
Con người thành quách đổi thay,
Nương dâu hóa biển khơi đầy, chao ôi!
Tây Sơn sự nghiệp thôi rồi,
Mà phường hát múa một người còn trơ.
Trăm năm nào khác giấc mơ,
Cảm thương việc cũ lệ khô áo là.
Về nam bạc hết tóc ta,
Trách chi ai phấn hương hoa chớm tàn.
Giương đôi mắt ếch mơ màng,
Thương nhau gặp mặt lòng càng thêm xa.

Long thành cầm giả ca

Long thành giai nhân
Bất ký danh tự
Ðộc thiện huyền cầm
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
Dư tại thiếu niên tằng nhất kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chánh phương niên
Xuân phong yểm ánh đào hoa diện
Ðà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như luơng phong độ tùng lâm
Thanh như chích hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch
Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện

Tận thị Trung Hòa Ðại Nội âm
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng công hầu
Ngũ Lăng niên thiếu bất túc đạo

Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoán thủ Trường An vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiên (kiến)
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan xú thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn my bất sức trang
Thùy tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhất điệu
Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi

Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ độ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp nhất đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhất nhân tại
Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì

Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.

(1) Đàn Nguyễn (Nguyễn cầm) tức đàn nguyệt. Tục truyền đàn nguyệt do Nguyễn Hàm, một trong thất hiền vườn Trúc đời Tấn (Trung quốc) sáng chế nên gọi là đàn Nguyễn

(2)Tiền triều: Chỉ triều nhà Lê, vì lúc đó thuộc triều Tây Sơn.

(3) Hồ Giám (Giám hồ) hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội).

(4) Bia Tiến Phúc: tên tấm bia dựng ở một ngôi cổ ở Nhiêu Châu, tỉnh Giang Tây (Trung Quốc). Tương truyền dưới triều nhà Tống, Phạm Trọng Yêm lúc làm quan ở Bá Dương, có người học trò nghèo dâng bài thơ hay, ông muốn giúp đỡ, cho rập một nghìn bản để bán lấy tiền. Chưa rập xong thì một đêm kia bia bị sét đánh vỡ tan.

(5) Trang Tích: sống ở thời Xuân Thu, Trung Quốc. Ông là người nước Việt, làm quan nước Sở. Khi ông ốm, Sở Vương hỏi cận thần: “Tích là kẻ tầm thường ở đất Việt, nay làm quan nước Sở, được phú quý rồi, thì còn nhớ nước Việt nữa không?”. Viên thị ngự đáp: “Phàm người ta có nhớ nước cũ hay không, thường tỏ ra trong lúc đau ốm. Nếu lúc này ông ta nói tiếng Việt tức là nhớ nước Việt, bằng không thì nói tiếng nước Sở”. Sở Vương sai người lén nghe thì thấy Trang Tích nói tiếng Việt. Dẫn tích này để ám chỉ người không quên quê hương, đất nước.

(6) Đại nội Trung Hòa: tên một tòa điện trong hoàng thành nhà Lê.

(7) Vãi thưởng: dịch thoát chữ Triền đầu. Đời Đường trong yến tiệc vua đãi, ai đứng dậy múa được ban gấm để quấn đầu như vật tặng thưởng. Về sau các món tiền thưởng cho người ca múa được gọi là triền đầu.
(8) Ngũ Lăng: một vùng đất ngoại ô phía tây kinh thành Trường An (Trung quốc), ở đó có năm lăng mộ của năm vua nhà Hán. Về sau nơi này, quan lại, quí tộc cấp cao và dân hào hoa phú quý thường ở. Ngũ lăng thiếu niên, chỉ những con nhà quyền quý, giàu sang. Bài ”Tì Bà Hành” của Bạch Cư Dị có câu: ”Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu”.

(9)Ba mươi sáu cung xuân (Tam thập lục cung): trong đền vua ngày xưa bên Trung quốc có 36 cung chứa đầy mỹ nữ.

(10)Trường An hay Tràng An là kinh đô của hơn mười triều đại Trung Quốc. Trường An (長安) nghĩa là an bình lâu dài. Thời Tây Chu được gọi là Phong Kinh (豊京). Thời Tây Hán được gọi là Trường An. Thời nhà Tấn, được gọi là Thường An (常安) nghĩa là luôn an bình. Từ thời nhà Minh được gọi là Tây An. Và nay được gọi là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây.

(11)Chỉ quan trấn thủ Bắc Thành, vào lúc Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc mùa xuân 1813.

(Tiểu dẫn của Nguyễn Du)

Long thành Cầm giả, bất tri tính thị. Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung Hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi, cựu nhạc tử tán, kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao, thuộc tản bộ. Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn, toại xưng nhất thời tuyệt kĩ. Dư thiểu thời, thám huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc, danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch, Triếp tận, triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường, xước xước nhiên hữu dư vận. Tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã. Hậu sổ tải, Dư tòng gia nam quy, bất đáo Long thành nhược thập niên hĩ. Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ, đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ, kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân, nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả, bất phục tri vi thùy hà. Duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán, chất chi nhạc nhân, tức kì nhân dã. Ta hồ! Thị nhân hà chí thử da! Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu, nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên, nhân ca dĩ thác hứng.

Người gảy đàn ấy không rõ họ tên là gì, chỉ nghe thuở nhỏ nàng đã theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mác. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời.

Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy, các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát, trong đó con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất.

Tôi lúc ấy nấp trong bóng tối, không trông rõ lắm. Sau gặp nàng ở nhà anh tôi. Nàng không đẹp lắm, người thấp, má phính, trán dô, mặt gãy, người đẫy đà, khéo trang điểm, mày nhạt phấn đậm, áo màu hồng, quần lụa đen biếc, phong nhã tươi tắn. Nàng hay uống rượu, thích hài hước, mắt long lanh, chẳng hề để ý đến một ai. Ở nhà anh tôi, mỗi lần uống rượu nàng đều say, nôn mửa cả ra, nằm dài trên đất, bạn bè cũng không để tâm chê trách. Sau đó vài năm tôi dời vào Nam, và từ đó không trở lại Thăng Long nữa.

Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên. Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỉ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá.

Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi! Người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay. Đời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được. Sau khi từ biệt, suốt trên đường đi tôi cảm xúc vô hạn, nên làm bài ca để gởi mối cảm hứng.

龍城琴者歌

龍城佳人
不記名字
獨善絃琴
舉城之人以琴名
學得先朝宮中供奉曲
自是天上人間第一聲
余在少年曾一見
監湖湖邊夜開宴
此時三七正芳年
春風掩映桃花面
酡顏憨態最宜人
歷亂五聲隨手變
緩如涼風度松林
清如隻鶴鳴在陰
烈如荐福碑頭碎霹靋
哀如莊舄病中為越吟

聽者靡靡不知倦
盡是中和大內音
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知曉
左拋右擲爭纏頭
泥土金錢殊草草
豪華意氣凌公侯
五陵年少不足道
并將三十六宮春
換取長安無賈寶
此夕回頭二十年
西山敗後余南遷
咫尺龍城不復見
何況城中歌舞莚
宣撫使君為余重買笑
席中歌妓皆年少
席末一人髮半華

顏醜神枯形略小
狼藉殘眉不飾粧
誰知便是當年城中第一調
舊曲新聲暗淚垂
耳中靜聽心中悲
猛然億起二十年前事
監湖湖邊曾見之
城郭推移人事改
幾度桑田變蒼海
西山基業一旦盡消亡
歌舞空留一人在
瞬息百年曾幾時
傷心往事淚沾衣
南河歸來頭盡白
怪底佳人顏色衰
雙眼瞪瞪 空想像
可憐對面不相知

Thơ chữ Hán: Nguyễn Du
Trần Ngọc Hưởng dịch
Nguồn: Dịch giả gửi.

Đã đóng bình luận.