Hương Xuân khác họ: Lòng biết ơn nối dài

Posted: 03/03/2013 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

trang_dai-hwi_jin_jeon
Hwi-jin Jeon và tác giả tại lễ vinh danh thuyền trưởng Jeon trong làng Little Saigon

Tết. Tôi dọn nhà đón em gái về chơi.

Phòng em ở, tôi vẫn chưng đôi búp bê cô-dâu-chú-rể mà em tặng chúng tôi nhân ngày cưới đúng bốn năm về trước. Em gói thật kỹ, nên dù qua không biết bao giai đoạn di chuyển và giao chuyền, cái hộp bằng kính nhựa vẫn không nứt. Tôi mất cả nửa tiếng đồng hồ mới mở ra hết mấy lớp giấy và muýt em cẩn thận chèn bên trong thùng cạc tông to đùng. Đôi uyên ương trong hộp kính nhìn tôi, tươi tắn trong quốc phục cưới truyền thống Nam Hàn, thật sang cả và quyến rũ. Búp bê làm tôi nhớ em. Em đã chu đáo, gửi quà đến cả hai tuần trước đám cưới.

Tôi nhìn mộc bưu điện, thương em. Cước phí chắc mất cả tuần tiền cơm trưa của em. Sinh viên đại học, mấy ai dư dả. Cha mẹ em từ nhiều năm qua cũng vất vả cần lao, chẳng dư gì ngoài lòng nhân ái và sự tự tại. Cha em là thuyền trưởng Jeon Je Yong, làm việc cho hãng tàu Koryo Wonyang Corp được 16 năm thì gặp 96 người cùng họ với tôi đang trôi ngoài biển. Đó là ngày 14 tháng 11, năm 1985. Bão nhiệt đới đang sấn tới. Ông xin phép vớt. Cấp trên không thuận. Ông hội ý thủy thủ đoàn. Mọi người ủng hộ ông. Ông xin nhận mọi hậu quả về mình, để tránh khó khăn cho nhân viên. Tàu quay lại. Hy vọng và cuộc sống đã mỉm cười với 96 người sắp chết đuối. Một hy vọng lớn lao. Họ đã trôi bốn ngày. 50 tàu đã dửng dưng bỏ đi trước tín hiệu cầu cứu của họ.

Đúng ra, là 51 con tàu đã bỏ đi, tính luôn con tàu của Koryo Wonyang Corp. Cũng chính con tàu ấy đã quay lại, nhưng máy tàu đã được thay bằng trái tim nhân ái và lòng quả cảm của thuyền trưởng, cha em. 96 nhân mạng được cứu. 96 gia đình được đoàn tụ. Và nhân lên, nhân lên theo thời gian, sẽ là bao nhiêu con người, bao nhiêu tương lai được ông đưa lên bờ? Tình ông là “Tấm Lòng Của Biển,” (2007, hồi ký của Peter Nguyễn Hùng Cường, một trong số 96 thuyền nhân được cứu). Tuy không phải là một Kitô hữu, nhưng ông đã thể hiện tín điều cao trọng nhất: Không có tình yêu nào cao trọng cho bằng hiến mạng mình vì tha nhân. Nhưng khi trở lại đất liền, “Tấm Lòng Biển” không có đất dung thân. Ông bị đuổi việc, mất giấy phép hàng hải, và phải sống nhờ vào quỹ tiết kiệm và công việc tạp nhạp. Nhưng như biển cả, ông không oán trách thượng cấp, không bất mãn với hoàn cảnh, không hối hận đã vớt người.

Một trong 96 thuyền nhân đã không bao giờ quên ơn cứu mạng. Ông Cường, một tín hữu Công Giáo nhiệt thành thuộc Giáo phận Orange, đã đặt ra ba mục tiêu cho chính mình khi đến Mỹ: tìm việc, bảo lãnh gia đình, và tìm lại vị thuyền trưởng nhân lành. Chúa đã không phụ tấm lòng biết ơn sâu xa của ông. Sau gần 17 năm tìm kiếm, ông Cường đã tìm gặp được thuyền trưởng, và sau nhiều lần thăm viếng, đã mời ông sang Hoa Kỳ để tỏ lòng biết ơn. Hai cộng đồng Đại Hàn và Việt Nam tại Nam California đã hân hoan, nô nức đón vị anh hùng mà cho dù đã không trực tiếp cứu họ, cũng đã để lại trong họ một sự cảm mến vô bờ.

jeon_family
Gia đình thuyền trưởng Jeon khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, tháng 8 – 2004

Tôi gặp em lần đầu khi em còn là một nữ sinh trung học. Phi trường LAX. Tháng tám, 2004. Mọi người quây quanh cha em, chen chúc, thăm hỏi, bắt tay. Em ngỡ ngàng trước đám đông, ống kính. Em đứng một bên, lặng lẽ chờ. Tôi tặng hoa cho em. Em cười thẹn, rồi đứng im. Tôi không biết tiếng Hàn. Em không biết tiếng Anh. Chúng tôi chỉ đứng bên nhau, cùng nhìn đám đông. Rồi chúng tôi về làng, làng Little Sàigòn. Đến ngày làng tôi tổ chức lễ tri ân vị thuyền trưởng, thì em cũng lại lẻ loi. Tôi mang bộ áo dài tím đến tặng em. May mà chúng tôi cùng kích cỡ. Em mặc vào, vừa vặn, cười thật xinh với tôi. Lần đầu em mặc áo dài.

Ít ngày sau khi gặp em, tôi lên đường sang Thụy Điển với học bổng Fulbright, dưới sự bảo trợ của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Tôi đi tìm hiểu về người Việt tại miền Bắc Âu giá buốt này. Tuy biết tiếng Anh rất ít, em vẫn thường viết thư thăm hỏi tôi, gửi điện hoa cho tôi dịp Giáng Sinh, chuyển lời cha mẹ gửi thăm tôi. Những lá điện thư của em, tuy ngắn, nhưng luôn nhắc nhớ tôi về làng Little Sàigòn, quê tôi. Về cuộc gặp gỡ của chúng tôi. Về thuyền nhân. Về lòng nhân ái. Về sự biết ơn. Về tình người trong cơn hoạn nạn. Về chính Đức Tin của tôi.

Tôi về quê sau một năm nghiên cứu, chúng tôi vẫn giữ liên lạc. Trái đất đã nở ra. Ngày xưa, ở Việt Nam, tôi chỉ nghĩ đến những miền đất trên quê hương tôi. Bây giờ, tôi nghĩ về nhiều miền đất trên địa cầu, và may có những hạnh duyên như lần gặp em, tôi lại có chút máu mủ với những vùng đất tôi chưa được ghé qua. Được tin tôi có con, em ríu rít hỏi thăm. Khi sang Hoa Kỳ du học ở Oregon, em lại tin cho tôi. Tôi hồi âm. Em muốn nói chuyện điện thoại. Tôi chưa kịp gọi, thì đã thấy email nữa, nhờ tôi gọi ngay. Tôi gọi. 11 giờ đêm.

Em nhớ nhà. Nhớ lắm. Nhưng em không dám nói với cha mẹ, sợ ông bà lo. Nói chuyện trên skype với cha mẹ, em chỉ cười tươi rói, nói tíu tít. Vừa tắt máy, em khóc một mình. Con gái lần đầu đi xa, bơ vơ, côi cút quá. Môi trường lạ. Ngôn ngữ lạ. Trường lớp lạ. Cuộc sống lạ. Cái gì cũng lạ, không có lấy một người quen ở gần. Trước nay, tôi vẫn cám cảnh sinh viên sống xa nhà, cho dù lúc ấy, tôi chưa sống xa gia đình. Trai hay gái, xa nhà đều… lỗ. Cái gì cũng tự lo. Cái gì cũng một mình. Thời gian đầu là khổ nhất. Trăm thứ để lo.

Chúng tôi nói chuyện một tiếng đồng hồ. Tôi kể, ngày xưa, mới qua Mỹ, tôi cũng đi học như em, tuy ở với gia đình. Cũng khó khăn ngôn ngữ. Cũng lạ lẫm giáo trình. Giáo sư giảng, giáo sư hiểu. Tôi ngồi đực não ra. Rồi dần dà, tôi cũng bắt được bài vở. “Em sẽ quen thôi.” Em nói bài tập khó quá, em không biết phải làm sao mới xong. Tôi khuyến khích, nhắc em rằng đây là cơ hội tốt. Em được mở mang kiến thức, trao dồi chuyên môn, sau này có thể chọn công việc đúng ngành mình thích, lại có điều kiện để cấp dưỡng cho cha mẹ lúc tuổi già. Em sẽ làm cho họ hạnh phúc. Em tán đồng. Một người con gái có hiếu. Tôi dặn, “Cứ từ từ. Đừng gấp. Mỗi ngày học một chút, sẽ không bị quợn.” Nói tới đó, tôi ngưng, sợ mình nói dư. Em nói, “Em vui rồi. Cám ơn chị. Em đi ngủ được rồi.” Rồi như sợ tôi không tin, em lập lại, “Thiệt mà. Em nghe chị nói, em vui lắm. Em an tâm rồi. Em bớt nhớ nhà rồi.”

Em email cho tôi địa chỉ chỗ ở như tôi đã dặn. Tôi gửi chút sôcôla, ít cuốn sách lên cho em đọc giải khuây. Rồi em thường nhắn tin thăm tôi trên facebook, hay qua email. Tôi vẫn hỏi thăm, biết em đã tham gia nhiều sinh hoạt ở trường, đã đi thăm chỗ này chỗ nọ, đã có bạn bè, đã quen bài vở. Tôi an tâm. Tôi dặn em thu xếp xuống chơi.

Một tháng trước Tết, em hớn hở email cho tôi, bảo em vừa đặt vé máy bay để xuống Nam California, thăm “Uncle Peter” (Chú Cường) và các bạn bè của cha em. Em cũng muốn ẵm em bé của chúng tôi. “Được không chị?” “Dĩ nhiên là được rồi! Thằng bé con sẽ rất thích vì có thêm người chơi với nó đó!” Em muốn ‘hang-out’ với chúng tôi. Em muốn sống với gia đình nhỏ của chúng tôi, trước khi về quê với cha mẹ. Tôi hẹn ngày. Rồi hẹn thêm bạn bè thân thiết, để khi em đến, có nhiều người chung vui với tôi và tiếp đón em.

trang_dai-hwi_jin_jeon-2
Lần đầu Hwi-jin Jeon mặc áo dài, e thẹn

Tôi nghĩ đến cha em trong không khí thiêng liêng của ngày Tết Nguyên Đán. Trong mùa gió chướng, người Việt vừa kính nhớ tổ tiên đã lìa trần, vừa tỏ lòng yêu kính và biết ơn ông bà cha mẹ còn sống. Bên cạnh tục tảo mộ, người Việt còn đặc biệt chăm sóc bàn thờ tổ tiên trong thời gian đón Tết, và kíu những người thân đã khuất về ăn Tết với con cháu. Tôi đặc biệt gắn bó với phong tục nhớ ơn ông bà cha mẹ trong mùa Tết. Năm nay, tôi có thêm một người để ghi ơn: cha em. Có thể coi ông như là ‘ông tổ’ của 96 thuyền nhân được vớt trên biển, những ‘họ hàng xa’ của tôi. Tôi không có điều kiện để đến chúc thọ ông như chúc thọ ông bà cha mẹ ruột của tôi, nhưng tôi coi việc đón tiếp em như một lời cám ơn nối dài đối với cha em. Lời cám ơn ấy là cách để tôi ‘gieo’ lòng biết ơn, một cách tự nhiên, dù tôi không phải họ hàng ruột thịt với bất cứ ai trong 96 thuyền nhân kia. Nhưng ba tôi cũng đã từng là một thuyền nhân. Và hàng triệu người trong họ Da Vàng của tôi cũng đã là thuyền nhân. Thuyền trưởng ‘gieo’ lòng nhân từ một cách như không, như điều phải làm. Tôi cũng bắt chước ông: ‘gieo’ lòng biết ơn một cách như không, như một điều cần làm. Ông không biết ai trong số 96. Ông vẫn cứu họ. Tôi không biết ai trong số 96. Tôi vẫn mang ơn ông.

Khi ông đến ‘làng tôi’ Little Saigon năm 2004, tôi đã cùng ‘dân làng’ tỏ lòng biết ơn với ông. Nhiều ‘dân làng’ không biết ông, nhưng vẫn xúc động bật khóc, vì họ biết cái cảm giác bị bỏ rơi trên biển cả, khi đại dương cuồng nộ sắp dìm mạng những con người đang thoi thóp trong tuyệt vọng. Ông là cái phao mà nhiều người, tuy không trực tiếp được bấu vào để giữ mạng, vẫn hiểu cái giá trị cao cả của cái phao đó. Ông là một biểu tượng của hy vọng cho những ai đã từng đối diện với biển cả, đói khát, chết chóc khi vượt biên. Ông đến Little Saigon, mang cả đại dương bàng bạc yêu thương và nhân ái về làng, gợi lại cho ‘dân làng’ một lịch sử bi hùng và một trời nhân ái tế độ của thế giới, trong đó có ông. Lần này, tuy ông không đến, nhưng tôi may mắn, có em để ‘gặt’ lòng biết ơn của tôi, thay cho cha em. Nhưng không chỉ vậy. Em và tôi đã thân nhau qua tám năm giữ liên lạc, và nhờ nhịp cầu Anh ngữ, chúng tôi không còn phải đứng im lặng nhìn nhau nữa. Tôi nghỉ làm hai ngày, để đón em như đón một cô em gái tuy khác họ nhưng cùng dòng.

Khi mới sinh, em mang đủ thứ dị ứng trên đời. Mẹ em tận tụy, chăm chút từng món ăn vặt, ăn chính cho em. “Mẹ lúc nào cũng cho em ăn trái cây tươi, ăn rau tươi, tự tay nấu ăn cho em,” em kể. Mỗi lần có nhu cầu y tế phải vào bệnh viện, bác sĩ đều kinh ngạc hỏi em, “Tại sao cô có bao nhiêu tình trạng dị ứng này, mà lại không bị dị ứng?” Em biết, chính mẹ đã làm cho cuộc đời em bớt đi hàng trăm thứ phiền toái, đã làm cho cuộc sống em dễ dàng và cho phép em được tận hưởng nhiều món ăn ngon trong đời. Tại Hoa Kỳ hiện nay, các trẻ sơ sinh có tình trạng dị ứng đều phải trãi qua chương trình trị liệu “allergy therapy” rất dài và phức tạp để chữa dứt các chứng dị ứng. Mẹ em, một thân một mình, đã chữa trị cho em, với kiến thức và khả năng của một người mẹ thương con. Có lẽ cái mà người ta gọi là ‘common sense’ chính là phương thuốc căn bản mà hiệu nghiệm nhất. Mẹ em đã trộn phương thuốc này với lòng yêu con vô bờ. Bà đã làm được cái điều mà đôi khi người ta chỉ dám trông cậy vào bác sĩ và y khoa.

Khi em được bốn tuổi, cha em mất việc khi đưa thuyền nhân Việt lên bờ. Ông ở nhà thường xuyên hơn, chơi với em nhiều hơn. Em nhớ, “Lúc đó, em còn nhỏ lắm, chưa biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng em thắc mắc, sao Cha ở nhà với mình nhiều quá. Trước đó, em không nhớ rõ mặt Cha, vì Cha hay đi biển, ít có nhà. Được chơi với Cha thì thích lắm, nhưng em cứ thắc mắc.” Về phần mẹ em, bà không nói gì, cũng không tỏ vẻ lo sợ khi ông bị mất việc. “Chắc mẹ cũng lo, nhưng mẹ không muốn cho Cha biết, nên Mẹ không nói gì.” Em đoán vậy. Và thêm, “Mẹ cũng tin tưởng ở cha nữa.”

Họ sống bằng tiền tiết kiệm trong hai năm trời. Rồi cha em làm việc này nọ cho bạn bè. Mãi đến năm 1996, cha em mới bắt đầu nuôi hải sản để mưu sinh. Đến hôm nay, tuy bạn bè ông đã về hưu từ nhiều năm trước, ông vẫn tiếp tục làm việc. Ông yêu nghề, và muốn tự tay mình chăm lo sự nghiệp của gia đình. Tuy vậy, ông bà không hề níu kéo con gái, mà muốn con tự lập, đi vào đời sống riêng, xây dựng sự nghiệp, tuy vẫn tiếp tục hướng dẫn và chu cấp cho việc học của con. Trong ba tháng hè sau khi em tốt nghiệp trung học và trước khi vào đại học, cha kêu em mỗi ngày ra nông trại hải sản để phụ giúp và biết sự cực nhọc của đời sống lao động. Cha nói, “Làm ra đồng tiền không phải dễ. Con phải hiểu giá trị đồng tiền, và biết quý sức lao động của mình.” Nhưng lời nói này, tuy dễ nghe, nhưng không hẳn dễ nhập tâm một thiếu nữ sắp vào đời.

Tháng đầu vào đại học, cha mẹ cho em tiền để lo trang trải sách vở và những gì cần thiết. Cha nói, “Con mới đi học, chưa biết cần bao nhiêu tiền, nên cha cho con bấy nhiêu. Cuối tháng, con cho cha biết đã mua gì, và cha sẽ cho thêm hay ít lại tùy theo nhu cầu.” Tung tăng trong cái nô nức của lần đầu tự lập, em hăng hái đi sắm sửa quần áo và những cái con gái thích làm đẹp. Đến khi ‘tính sổ’ cuối tháng, mới biết đã tiêu phân nửa số tiền cha cho vào những hàng xa xí phẩm. Em bắt đầu lo, nhưng việc đã lỡ, và cũng không thể nói dối với cha vì ông chắc chắn sẽ biết. Em khai rõ mọi chuyện. Sau khi nghe bản báo cáo tài chính đầu tiên, cha em nổi giận. Ông bảo, “Cha không thể nói chuyện với con lúc này được. Cha sẽ gọi lại cho con.”

Em ngồi chờ. Run. Khi cha gọi lại, ông nói, “Con không cần đi học nữa. Cha mẹ không hề dạy cho con phung phí xài hoang, nhưng con đã tự học mau quá. Con về đi. Không cần đi học nữa.” Em năn nỉ, xin cha cho đi học tiếp, vì em không muốn bỏ học. Cha nói, “Thôi được rồi. Đây là lần đầu, cha sẽ cho con cơ hội thứ hai. Nhưng đây cũng là lần cuối.” Em hú hồn. “Thường cha hiền lắm, nhưng lần đó, em mới thấy cha nghiêm khắc với em.” Và nhận ra rằng, đây là một bài học quý giá cho cả cuộc đời mình. Mỗi tháng, em đều vạch ra một kế hoạch tài chánh và học hành cho mình, và đều bàn qua với cha mẹ. Ông bà sẽ góp ý cho em, và sẽ đề nghị em bỏ bớt những chi tiêu không cần thiết. Cha em nói, “Nếu con xin cha vài ngàn đô cho một lý do chính đáng, cha sẵn sàng cho con. Nhưng nếu con xin chỉ một xu vì chuyện không cần thiết, thì cha cũng không cho.” Từ nhỏ, cha mẹ vẫn cho em tiền tiêu vặt. Có khi em xin thêm, nhưng cha mẹ lúc nào cũng kiên quyết không cho. Có lần, em nói với mẹ rằng em đã lỡ mua một món gì đó, còn thiếu tiền. Mẹ nói, “Đó là trách nhiệm của con. Con biết mình có bao nhiêu tiền mà, con phải xài cho đúng cách.” Em nói, “Đây là một phương cách dạy con hữu hiệu. Em sẽ dùng cách này để hướng dẫn con em về chuyện tiền bạc.”

Em vạch rõ mục tiêu cho cuộc sống. Em muốn học về Tiếp thị trong ngành du lịch, nhất là về dịch vụ nghỉ mát. Em thích một cuộc sống đơn giản và êm đềm. Em đã tìm hiểu, và muốn học hậu đại học tại Hoa Kỳ hay Thụy Sĩ, hai quốc gia phát triển mạnh về lãnh vực em theo đuổi. Em dự tính sau khi tốt nghiệp đại học năm tới tại Seoul, em sẽ thi GRE để xin vào một trường tại Mỹ, như Cornell chẳng hạn. Nghĩ về việc xây dựng gia đình trong tương lai, em nói, “Làm mẹ, làm vợ thì dễ. Nhưng làm một người mẹ tốt, một người vợ tốt thì không dễ.” Em thích có nhiều con, ít là ba cháu, “Và nếu em có đủ tiền để lo đầy đủ cho con, em sẽ sanh bốn đứa.” Hồi nhỏ, em muốn có em, nhưng khi xin cha mẹ sanh thêm thì ông bà thán, “Con ơi, cha mẹ lớn tuổi rồi, đâu còn sức để sanh em cho con!”

Em không mê đi shopping như bạn gái cùng trang lứa. Cần quần áo, em lên mạng mua, “Đỡ mất thời gian.” Thời gian còn lại, em đi thư viện đọc sách, nói chuyện với người yêu qua Kakaotalk hay skype, và… đi ăn. Điều gì em sẽ nhớ nhất về Oregon? Các nhà hàng với thức ăn của nhiều nước trên thế giới. “Em thích đi ăn lắm! Bạn bè, thầy cô, gia đình mẹ nuôi đều biết vậy! Ai cũng rủ em đi ăn hết!” Hoa Kỳ vốn là miền đất tạm dung của mọi sắc dân trên thế giới, nên sự phong phú trong ẩm thực cũng là một điểm son tuyệt vời, mở cửa cho người ta đi vào nhà bếp và phòng ăn của những văn hóa khác.

Các món ăn Việt thì em cũng đã biết qua trong lần đầu đến Mỹ với cha mẹ, năm 2004. Sau bữa lễ tri ân thuyền trưởng cha em, “Uncle Peter” có mời những người rất thân đi ăn phở. Em cũng đã ăn qua bánh mì thịt và nhiều thức Việt khác. Lúc du học ở Oregon, em cũng đã ghé qua nhiều nhà hàng Việt ở đó. Hai ngày em ghé chơi, tôi mới biết em rất dễ nuôi. Em tự nhiên thoải mái, vui vẻ thử và thưởng thức tất cả những gì tôi bày ra. Bánh tét có nhân đậu xanh và thịt, ăn với dưa món, một chút hương vị Tết. Bánh in nhân sầu riêng. Aplets và cotlets (một loại kẹo trái cây của Mỹ, dẻo dẻo, kẹo trong, có vị táo hay apricot, có hạt hạnh nhân và walnut bên trong, và bột trắng mịn bọc ngoài). Pretzels. Thịt nạc chiên với gia vị bí truyền của mẹ tôi. Salsa do chúng tôi cùng làm. Cái gì em cũng cởi mở ăn thật ngon.

Thậm chí, khi thằng bé con thoải mái với em quá, tự động leo vào lòng em ngồi, cầm Petit LU ăn, rồi không cần biết trên bánh có chút gì ướt át từ miệng nó không, cũng đút cho em ăn. Tôi chưa kịp cản, thì em đã vui vẻ cắn ngon lành, làm thằng bé con thích chí, cắn thêm, rồi đút em ăn tiếp. Cứ vậy, cháu đút dì, ăn hết mấy cái bánh, ăn luôn những nụ cười và mắt liếc với nhau (thằng bé con của tôi chưa đầy hai tuổi, nhưng giỏi nhất là vụ liếc mắt đưa tình – có lẽ vậy mà nhiều bà mẹ đã ghi trên các diễn đàn là muốn ‘freeze’ con mình lại ở cái tuổi này). Riêng món mứt gừng do em Út tôi làm để ăn Tết, em ăn hai miếng thì ‘phải dừng’ vì cay quá! “It’s good, but I can’t,” em nói. Khoai tây do chính tôi trồng, luộc lên, em ăn với bơ và tí muối, em khen, “Dẻo thơm quá!” Em thích những thức ăn làm trong bếp nhà. Có lẽ nó làm em nhớ đến mẹ, biết bao năm trời mày mò nấu nướng để giữ gìn sức khỏe cho em. Rồi Fondue, một món ăn trứ danh của Thụy Sĩ vốn rất thịnh hành ở Mỹ cũng như nhiều nước khác, do chính ba mẹ chồng tôi gửi từ ‘dưới quê’ Thụy Sĩ lên làm quà Giáng Sinh cho chúng tôi. Em thử, rồi bảo ngay, “Em thích món này!” Chắc chồng tôi nở mũi lắm!

Chúng tôi dắt thằng bé con ra vườn chơi. Tôi chỉ bụi chuối sứ cho em. Em ô a, “Thật à? Cây chuối đó hả chị? Trước giờ em chưa bao giờ thấy! Chị trồng làm sao?” Tôi bảo, “Mình đi xin cây chuối con về, rồi trồng, khoảng một năm thì nó nhảy cây con phát loạn.” Tôi chỉ thêm đám mía thanh dịu, thân tím thẫm, lấm tấm phấn trắng mùa đông. Em thích quá, “Mía à! Em chưa bao giờ thấy cây mía!” “Em muốn ăn thử hông? Chị róc cho mà ăn!” “Thử chứ!” Tôi phóng vào nhà, vác cây dao phai ra đốn mía. Thằng bé con thấy mẹ hăng hái, thì cũng phát một tràng ‘babese’ ngôn-ngữ-ngọng của nó (chữ tôi đặt cho những phát âm đầy mật mã của con), như để ‘diễn giải’ nhất cử nhất động của mẹ. Sự hào hứng của em làm mẹ con tôi vui lây. Chưa bao giờ tôi đi chặt mía và róc mía mà hào hứng đến vậy. Một người bạn thân đến để đưa em đi chơi San Diego với tôi bảo, “Có con như cô Hwi-ji thì sướng biết mấy! Dễ ăn, dễ ngủ ghê!” Em dễ ngủ, là vì khi ăn xong, tôi bảo em đi ngủ trưa, thì em ngủ thật ngon, mấy tiếng đồng hồ. Tôi cũng thuộc dạng ‘cần ngủ’ như em mỗi khi tôi đi chơi xa, nên tôi nhìn là biết ngay. Em vô tư như chú chim non trên cành, tung tăng bay lượn, ăn ngủ thật tự nhiên. Em mê nhất là các món tráng miệng ngọt. Bữa trưa đầu tiên, tôi mang kem butter pecan và dâu tươi mời em. Em thích lắm. Tối đó, ăn cơm xong, em hỏi, “Chị làm kem cho em ăn nữa nghe!” Em thích ăn món rau cải xào thịt nạc mà mẹ tôi nấu. Tôi nói, “Vậy để dành hết cho em nè!” Em vui vẻ hưởng dùng, không thèm động đũa món canh bí hầm sườn non mà tôi mê. Đỡ quá, hai chị em khỏi giành ăn với nhau, vì mỗi người thích một món.

Chia tay em, tôi tặng đôi giày thật điệu để em đi chơi, vì em không để ý đến chuyện điệu đàng. Thằng cu tặng cho Dì một con trâu nước do người khuyết tật ở Việt Nam làm bằng gỗ dừa. Ba tôi gửi rượu biếu thuyền trưởng. Mẹ tôi tặng em mấy chiếc áo. Vợ chồng tôi tìm mua cho em quyển sách – à, món ruột của em là đọc sách mà – để em mở mang thêm kiến thức về thương mại, “Instinct: Tapping your entrepreneurial DNA to achieve your business goals” của tác giả Thomas Harrison. Tôi nhắn,

Hwi-jin thương,

Gia đình chị rất vui được đón em. Chị học được nhiều điều từ em trong hai ngày qua! Chị rất vui thấy em đã bước vào đời một cách vững vàng. Gia đình chị chúc em mọi điều tốt đẹp nhất, và mong ngày gặp lại khi em trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục công việc học.

Chị mong là quyển sách này sẽ giúp em bồi đắp con đường công danh sự nghiệp, mà chị tin là sẽ đầy thành công, đắc ý, và hào hứng!

Rất thương,
OTK

Em và tôi gặp nhau trên đất Mỹ, và nhận ruột rà trên miền đất này. Em họ Nam-Hàn. Tôi họ Việt-Nam. Chúng tôi cùng dòng Châu-Á. Vậy là đủ một vòng thương yêu, một vòng thế giới. Đủ một đại dương. Đủ một tấm lòng giữa trời đất. Đủ một mùa hương Xuân khác họ, một cuộc nối dài của lòng biết ơn. Phải không, Jeon Hwi-jin, em gái của tôi?

Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Nguồn: Tác giả gửi tùy bút và ảnh

Đã đóng bình luận.