Từ thơ rừng núi đẹp buồn đến thơ khói súng tây nguyên

Posted: 14/03/2013 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Trần Văn Nam

Trần Văn Nam

cau_treo_tay_nguyen

Từ thời thơ ấu khoảng bảy hay tám tuổi, người viết bài này cũng đã từng chạy lánh nạn vào vùng sơn cước dãy Trường Sơn, khi quân Pháp đến đốt phá làng gần Con Đường Cái Quan, nhắm hủy diệt lúa gạo tiếp tế Việt Minh. Làng ấy thuộc tỉnh Khánh Hòa cách Nha Trang độ 30 cây số về hướng Bắc, và sự việc xảy ra vào khoảng năm 1947 hay 1948… Rồi quân Pháp đóng đồn để kiểm soát bình định vùng làng mạc, rồi dân chúng lục tục từ sơn cước trở về chốn cũ để sinh sống.  Nghiệm ra điều nhớ mãi trong ký ức mờ mịt chính là những gì đẹp buồn, không phải ấn tượng dữ dội đối với tuổi thơ như quân Pháp thị uy bắn chết con chó chạy ra sủa, hay lửa cháy thành ngọn trên các nóc nhà tranh, hay nghe người lớn kể lại một sĩ quan Pháp bắn chết người dân vô tội đang quỳ lạy nói mình không phải Việt Minh và một sĩ quan trẻ người Pháp khác cố can ngăn mà không được.

Những ấn tượng dữ dội và những thiện-ác như vậy cũng là những cái thường xảy ra ở những nơi khác thời kỳ Pháp trở lại Đông Dương sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh. Còn ấn tượng đẹp buồn là cái gì cá biệt, trong hoàn cảnh cá biệt, mặc dầu cũng trong bối cảnh rộng lớn chung cho nhiều người. Chẳng hạn như khi đứng bên đường xe lửa thẳng tắp nhô cao trên đồng ruộng gần đồn Pháp, trong những lần Pháp lùa dân tập họp để kiểm soát, thấy quân Pháp đặt súng “mortier”(bích-kích-pháo) rót đạn ì-ầm vào dãy núi xa. Trong vắng lặng, những tiếng chim “bắt cô trói cột” lảnh lót như vô tình đáp trả lại, như vô tình nói những tiếng nổ ấy chẳng thấm vào đâu với núi non trùng điệp. Cũng chỉ là cảnh vật núi non, nhưng lắng vào hồn tiếng chim lảnh lót sau tiếng đạn pháo vẳng lại trong thẳm cùng, phải chăng là ấn tượng cá biệt? Và đây, biết đâu cũng được coi như là ấn tượng cá biệt: Con Đường Cái Quan song song với đường xe lửa ngang qua làng mà khi đứng trên đê cao thấy cả hai đều mù mịt nhập vào một dải đất trắng mờ chạy về hướng Nam, tức hướng về Nha Trang, tương ứng với các lời ca nghe từ thuở mới phổ biến bài hát này: “Nước non xa ngàn dặm, chúng ta đi ngàn dặm, cùng tiến hướng về Nam…” (Không nhớ tên bài hát và tên tác giả). Và từ phía Bắc đồi núi nơi đây, đâu phải chỉ có mỗi một mình riêng thấy hiện tượng sao băng cháy sáng thật lâu trêm vòm trời hướng Nha Trang, mà có người nói rằng đó là “Bà Bay” (tức nữ-thần Thiên-Y A-Na thờ ở Tháp Bà Nha Trang); nhưng đối với tuổi thơ thấy nó quá thiêng liêng, trở thành cá biệt nhớ mãi trong đầu óc.

Nếu kể ra hết, còn khá nhiều trường hợp tưởng là chung mà thành cá biệt do ấn tượng thời thơ ấu cảm thức riêng, chúng đã làm người viết bài này yêu thơ rừng núi, có bài thơ chỉ nhớ tên tác giả, nhớ nội dung bài thơ, nhưng lời bài thơ thì không nhớ. Như trường hợp một bài thơ của Mạc Ly Châu. Không có nhiều thơ Mạc Ly Châu ghi lại trong các sách về Văn Học Miền Nam, mặc dù thơ ông hiện diện không thưa thớt trên báo chí sau khi di cư vào Nam sau 1954, và hình như ông là sĩ quan quân đội. Nhớ hình ảnh những bánh xe lăn trong một bài thơ viết về đoàn xe công-voa lên Tây Nguyên trong thời kỳ chính quyền Miền Nam thiết lập những căn cứ quân sự tại Plei-Ku hay Kontum. Không còn nhớ một câu thơ nào, nhưng thật ấn tượng vì nhớ thơ mô tả chuyến đi giang hồ của đám lính trẻ trong một chiều đoàn xe công voa dừng lại chuẩn bị qua đêm bên đường đèo. Gọi là giang hồ vì đây mới chỉ là giai đoạn tiền-chiến-tranh, đi lên Tây Nguyên chưa phải là ra chiến trường, do đó biết đâu có người coi việc đầu quân như một cách thoát ly gia đình.Vả lại nhiệm vụ đi đó đi đây của quân đội cũng hợp sở thích thường xuyên lên đường, vài người trong họ chưa hề có ý thức muốn xây dựng tổ ấm gia đình ở tuổi 18 hay 20. Thích bài thơ ấy của Mạc Ly Châu, tôi đã sáng tác bài thơ “Đi” (đã đăng trên báo Chiến Hữu ở Pleiku khoảng năm 1956) mà đến nay chỉ còn nhớ 4 câu, trong khi đó thì bài thơ của Mạc Ly Châu lại không nhớ một câu nào. Vậy mà ấn tượng những bánh xe lăn trong thơ Mạc Ly Châu vẫn lăn hoài trong trí nhớ kẻ yêu thơ. Và có trường hợp nhớ tên tác giả bài thơ rừng núi, nhớ nhan đề bài thơ, nhưng cũng chẳng nhớ câu nào mà nội dung thì vẫn chưa quên, như trường hợp bài thơ “Màu Đêm” của Huyền Giang. Huyền Giang ít có thơ đăng báo, và cũng tiếc thay không tìm gặp bài thơ nào của ông trong các sách Văn Học Miền Nam, chắc vì các bài thơ của Huyền Giang chỉ đẹp buồn đời lính tráng xa nhà mà thôi, đẹp buồn cảnh đồn trú tại Sông Mao tỉnh Bình Thuận trong thời kỳ khá bình yên tiền-chiến-tranh Miền Nam. Bài thơ đẹp cảnh sương mù nơi vọng gác bao quanh những kẽm gai, những bao cát, hướng ra vùng đồi núi có mật khu Lê Hồng Phong. Bài thơ hay ở thanh bằng, rất ít vần trắc ở cuối câu, như tương ứng với lặng lẽ canh trường đêm khuya vùng heo hút. Hình như đây là nơi huấn luyện quân nhân cho quen với đời doanh trại. Sau này khi chiến tranh khốc liệt thì nơi đây có lẽ là căn cứ quân sự trung chuyển tạm trú cho các đoàn quân lên Tây Nguyên, vì từ SôngMao lên Đà Lạt không xa với máy bay quân sự, còn đi công-voa chắc theo đường bộ sẽ đến thị-trấn Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa, rồi từ đó có đường lên Buôn Mê Thuột; vòng cung như vậy khá xa.

Thời kỳ chiến tranh ác liệt thì thơ được ghi lại khá nhiều, được lưu lại trong các cuốn sách Văn Học Miền Nam. Nhưng thiển nghĩ, trước khi biết đến thơ thì nhiều người khi ấy xúc cảm Mặt Trận Tây Nguyên nhờ qua âm nhạc, ví dụ với bài “Trả Lại Em Yêu” của Phạm Duy. Những người trai trẻ lên đường ra chiến trường nói chung, lênTây  Nguyên nói riêng, và những người tình nữ sinh hay nữ sinh viên ở lại hậu phương, đã một thời ray rứt tâm hồn qua những câu hát: “Anh sẽ ra đi về miền cát nắng/ Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng/ Anh sẽ ra đi về miền mênh mông/ Cơn gió Cao Nguyên từng đêm lạnh lùng/ Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó/ Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về”. Những bài thơ liên hệ đến Mặt Trận Tây Nguyên khá dồi dào, được ghi chép lại khá phong phú, của các nhà thơ như Vũ Hữu Định, Lâm Hảo Dũng, Kim Tuấn, Phan Ni Tấn, Phù Hư, Cao  Hoành Nhân. Bài thơ “Còn Chút Gì Để Nhớ” được phổ nhạc nổi bật với âm điệu độc đáo (không rõ ràng thuộc âm điệu Tây Nguyên như bản nhạc “Thị Trấn Sương Mù” của nhạc sĩ Thanh Sơn), hòa cùng lời thơ thật hay không  trùng hợp với ai của Vũ Hữu Định viết về thị trấn heo hút Pleiku: “Phố núi cao, phố núi trời gần/ Phố xá không xa nên phố tình thân/ Đi dăm phút đã về chốn cũ/ Xin cảm ơn thành phố có em/ Xin cảm ơn một mái tóc mềm/ Mai xa lắc trên đồn biên giới/ Còn một chút gì để nhớ để quên”. Nay thị trấn Pleiku nghe nói rất nhộn nhịp, trở thành một đô thị của những người mới làm ăn giàu có sau năm 1975. Những người chưa đến Pleiku lần nào như dịch giả Nguyễn Thị Hải Hà cứ đi đâu có phố núi cao sương mù (như khi ở đảo Pulau Bidong) hoặc thị trấn miền núi nào cứ dạo chơi dăm phút đã về chốn cũ (như thị trấn Mariposa cách San Francisco khoảng 150 dặm), thì đều liên tưởng đến hình ảnh thị trấn Pleiku dễ thương ngày xưa trong nhạc trong thơ, và muốn nó mãi là như thế, không muốn nó là thị trấn Pleiku đô hội bây giờ (Bài báo của Nguyễn Thị Hải Hà đăng trong Nhật báo Sài Gòn Nhỏ, số ra ngày Thứ Bảy 21 tháng 5 năm 2011). Người đã từng ở Pleiku trong thời chiến trước 1975 như nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh thì biết rõ Pleiku vừa có nét thơ mộng với con đường bóng mát cây sao cây dầu; không vắng bóng những tà áo dài trắng của nữ sinh Trung Học; và biết rõ đích danh con đường Hoàng Diệu đi dăm phút là trở về chốn cũ. Nhưng  Pleiku thuở  ấy, cũng đã nhộn nhịp là chốn ăn chơi thời chiến; gái giang hồ khắp nơi đổ về; rượu và nhảy nhót có mọi nơi trong thị trấn; dĩ nhiên những cơ sở phục dịch và quán tiệm cùng nhịp xô bồ do thời cuộc mà phát triển theo. Vì Pleiku tương đối an ninh, được chọn là nơi dưỡng quân gần cho quân đội Mỹ (còn dưỡng quân xa hơn thì có vài nơi bên Thái Lan). Và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa thuộc Vùng III Chiến Thuật cũng đến nơi đây trong dịp nghỉ phép ngắn hạn; nghỉ phép dài hạn hơn thì về với gia đình hoặc các thành phố lớn. Độc giả nào thích biết rõ hơn về thơ Vũ Hữu Định và Pleiku trong thời chiến trước 1975, xin đọc nơi cuốn “Tạp Ghi Văn Nghệ” của Nguyễn Mạnh Trinh do cơ sở Người Việt xuất bản tại California năm 2007, từ trang 57).

Thơ sáng tác chính trong thời chiến, đến nay đọc lại thì thấy mặc dù các nhà thơ chủ đích nói lên sự khốc liệt, sự gian khổ chinh chiến, nhưng đã manh nha những sáng tạo từ ngữ tân kỳ, cách diễn tả riêng biệt, để không trùng lặp với cảm nghĩ chung của thế hệ; trùng lặp nếu chỉ diễn tả bằng ngôn ngữ quy ước . Viết về những mặt trận khác ngoài Tây Nguyên, như mặt trận sông nước sình lầy, mặt trận địa đầu giới tuyến, mặt trận miền duyên hải; nếu gồm chung lại thì kể như đã có khá nhiều thơ chiến tranh được sáng tác. Những sáng tác ấy đã được lưu lại trong sách báo, sách báo ngay trong thời Văn Học Miền Nam, và được cố gắng sưu tầm lại trong sách báo thời Văn học Hải Ngoại. Những bài thơ viết về chiến tranh không thưa thớt. Theo thiển nghĩ, thơ chiến tranh trong Văn Học Miền Nam trước 1975 chỉ có một ít thơ tả hiện thực chiến tranh, còn phần nhiều là thơ tình liên hệ đến chiến tranh, thơ buồn quê hương liên hệ đến chiến tranh, thơ siêu hình kiếp người liên hệ đến chiến tranh. Trong khuôn khổ chỉ kể về thơ chiến tranh thuộc Mặt trận Tây Nguyên; và trong giới hạn chỉ nói đến thơ có những diễn tả tân kỳ không  trùng lặp, nên những sưu tầm kể ra đây không dồi dào. Có người như Phan Ni Tấn, thơ sáng tác ngay trong lúc tham dự cuộc chiến thì ngôn ngữ diễn tả quy ước; nhưng những sáng tác tưởng niệm liên hệ chiến tranh ở mặt trận ấy khi ở hải ngoại sau năm 1975 thì nghiêng về ngôn ngữ và hình ảnh tân kỳ. Ví dụ:

… thảng thốt kêu bầy, chim ông lão
than già như cây cội tà dương
… gió chướng thổi qua cầu Mười Bốn
cầu già như một bộ xương khô
… hoa cà phê đắng hương nồng, ngất
rỉa rúc vào tim thấm lịm hồn
… chiều rơi một trái hoàng hôn tím
tím mộ em vùi nông-Phước An
… trèo lên cây sấu, cây cơm nguội
hái xuống ăn cùng trái gió sương
nhìn lung trên nẻo đời bay bụi
kẻ còn, người mất, đứa tha hương
(Trích bài: Quê Núi của Phan Ni Tấn)

Một nhà thơ khác viết về chiến tranh, nhà thơ Khoa Hữu: thơ ông bao hàm những nét chung cho nhiều mặt trận. Theo chủ-đề bài này, có phải ta nên ta lưu ý nét riêng mặt trận Tây Nguyên mà thôi? Ta sẽ không trích thơ trong cùng bài liên hệ đến mặt trận sông nước sình lầy, mặt trận biên giới Việt Miên; và như vậy có thể ta không cảm thức được hết vẻ tân kỳ của ngôn ngữ tả thực, trộn lẫn với những cảm nghĩ siêu hình nói về thân phận cát bụi con người trong chiến tranh. Nhà thơ Khoa Hữu như muốn nói ông đã tham dự ở nhiều mặt trận, có thể đây cũng là niềm hãnh diện đời lính đã đặt chân ở khắp nơi trong thời chiến ở Miền Nam, mặc dầu nội dung nghiêng về nỗi buồn chiến tranh. Niềm hãnh diện từng tham chiến khắp nơi không phải là thơ hiếu chiến khi ta đọ chiếu với cảm nghĩ siêu hình của Khoa Hữu đã nói ở đoạn trên. Bài thơ chiến tranh này đăng trong Tạp chí Văn Học tại California, số 153 và 154, tháng 1 và 2 năm 1999, không thấy ghi thời gian nơi chốn sáng tác. Những đoạn trên làm ta tưởng thơ được sáng tác trong thời chiến, nhưng vài câu ở đoạn gần cuối xác định bài thơ được làm sau năm 1975:

chiếc nón sắt quên đời lăn lóc
lỗ đạn tròn khóet vết đau thương
người lính sau theo người lính trước
đất vô danh cây cỏ vô hồn
… Lên Creck, Snoul chiều vĩnh biệt
xác tăng thép súng cháy thành than
xuống Ba Thu đạn còn, người hết
tiếp máu ta rửa rạch chiến trường
… Khói bếp Long Sơn, nước Vàm Cỏ
áo trận phơi đại đội trở về
bụi Trảng Bàng lửa trời An Hạ
gió đồng chưa khô áo lại đi
chẳng thích thân, không nhà không cửa
mỗi đêm đào một hố trú chân
chén rượu nhạt, ly cà phê chợ
hiếm đôi giờ cho trạm nghỉ quân
Pháo lấp Khe Sanh, cắt đường Chín
những hung tin không kịp báo về
… Ngày đi hiến máu cho An Lộc
lính cũ đâu còn, lính mới quen
… Ba năm sau một ngày giải giáp
ba năm em cũng đoạn tang chồng
đèn hiu hắt bóng về trên vách
đứa con đầu biết hỏi ba không?
… Đất ấy của ta, ta còn hiểu
đồng đội của ta, ta còn đau
giấy mực đời chép ra, ví thiếu
lấy da này viết để tạ nhau.
(Trích bài: sự yên lặng của cát bụi – Khoa Hữu, trong Tạp chí Văn Học, California, số Mùa Xuân 1999)

Đa số các nhà thơ từng là quân nhân trong cuộc chiến trước 1975 như đều muốn diễn tả riêng biệt về ngôn ngữ, về thi-ảnh, tránh ngôn ngữ quy ước quen thuộc. Như vậy họ cũng tạo ra một cái chung, xin tạm gọi điều chung ấy là “Tả Thực Tân Kỳ Về Chiến Tranh”, để phân biệt với thơ tân kỳ về tình yêu, tân kỳ về đề tài siêu hình, tân kỳ về niềm nhớ quê hương, tân kỳ về thơ thời đi tù cải tạo, tân kỳ về nơi đất mới tại hải ngoại…  Nội dung thơ tả thực tân kỳ về chiến tranh thường là nỗi buồn cuộc chiến, thương cảm bạn bè mất mát, đôi bài đau khổ chuyện gia đình. Sợ e thiếu sót khi liệt kê tất cả những nhà thơ thuộc khuynh hướng này, vậy một lần nữa xin chỉ kể một đôi ví dụ thơ “tả thực tân kỳ về chiến tranh” liên hệ đến Mặt trận Tây Nguyên mà thôi, như thấy được vài câu trong thơ của Phù Hư:

đóng núi đồn xa đoàn pháo yểm
quanh năm ngủ miết với chân mây
nhìn sâu xuống vực nham hiểm đá
thù rừng cành trút lá mặc cây
… gió núi rên oằn bằng tiếng pháo
mây tan đường trái phá qua sâu
… đêm lính thú buồn hâm bếp lửa
Nhìn nhau kể chuyện vãn cười chơi
Tay hơ than khói khô da thịt
Thuốc đốt từng khoanh giấu mặt người
… đồn dăm chòi dột tin mưa gió
pháo mới chùi xong đợi tấn công
bạn tôi trẻ tuổi vừa cưới vợ
cười lệch đôi môi nói chuyện nhà
thoắt sắp đông sang rồi đấy nhỉ
trông rừng giết lá mấy mùa qua
thu giữ mây cho ấm lòng người
pháo yểm đồn cao đứng lẻ loi
bao giờ vạch cỏ xuyên đường núi
lũng hạ thăm em rượu mềm môi.
(Trích bài: Đồn Sơn Yểm của Phù Hư, trong “Giai phẩm Văn”, Sài Gòn, tháng 8 năm 1973)

Trần Văn Nam
City of Walnut, California, tháng 10 năm 2012
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.