Cận kề tử sinh là nỗi nhớ

Posted: 27/06/2014 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Đặng Châu Long

Đặng Châu Long
cho em Đặng Phước Đạt
đứa em bướng bỉnh

suy_tu_trong_hoang_hon

1. Cánh nhỏ ước mơ

Kể từ ngày chị Hà đưa Đạt ở Nhatrang về lại Sài Gòn để chữa bệnh, tâm trí tôi hầu như không còn làm được gì cho ra hồn. Cuộc sống tôi hầu như ngưng đọng lại khi nhìn người em ngày mỗi héo hắt và chắc chắn sẽ xa lìa chị em chúng tôi một ngày không xa.

Đạt vẫn vui vẻ, chuyện trò khi trong lòng chị em chúng tôi buồn nẫu ruột. Cứ như cậu ta không hề nghĩ rằng mình mang căn bệnh trầm kha hết thuốc chữa. Ngồi bên Đạt chuyện vãn cho qua thì giờ, tôi mường tượng lại thời gian ba anh em chúng tôi còn ở vùng khỉ ho cò gáy đất đỏ Lộc Ninh. Tôi 9 tuổi, Oanh 6 tuổi và Đạt 5 tuổi. Ba anh em ngoài giờ học vẫn thường kéo nhau lên rừng cao su sát bên nhà để lượm hột cao su, hoặc gở những dây nhựa cao su đọng lại trên đường rạch xoắn theo thân cây để mang về bày trò chơi làm banh, hoặc chà xát hột trên ciment rồi chạm khẽ vào tay nhau để cảm nhận cái nóng truyền từ vỏ cứng của hột cao su xinh xắn ấy. Nhà rộng mênh mông, chúng tôi lại nhỏ quá, cáng đáng đủ công việc trong nhà, từ bếp núc, lấy nước, quét dọn …., ngán nhất là việc khiêng nước từ dưới đất lên nhà gác, nơi chúng tôi trú ngụ. Ngôi biệt thự gỗ chỉ có một đường ống nước dẫn về góc nền, chúng tôi phải hứng nước từ đó rồi phụ nhau khiêng lên nhà đổ vào phuy nước dùng, đôi lúc vấp váp nước đổ lênh láng từ sàn gỗ xuống tầng trệt làm bác Trưởng Cơ Xưởng tầng trệt cứ ca cẫm mãi. Cuối cùng tôi quyết định lăn thùng phuy tới cửa sổ, làm một cái gàu dây dài đủ tới đất. Dưới đất đặt thêm một thùng phuy chứa. Oanh và Đạt chịu trách nhiệm dùng thùng nhỏ hứng nước đổ vào phuy dưới, tôi đứng trên của sổ thòng dây gàu múc nước kéo lên. Bây giờ nghĩ lại thấy thương hai em còn quá nhỏ để làm việc ấy hàng ngày, chưa nói mỗi ngày anh em chúng tôi phải đi bộ đến trường xa bốn cây số sáng trưa chiều xế.

Gia đình tôi tám anh chị em. chia sống 3 nơi. Tôi và hai em theo Ba sống Lộc Ninh. Chị Phượng, chị Hà học Trung học tại Hớn Quản, Bình Long. Má và hai anh Điệp và Sơn, sau này có thêm em Đông, sống tại số 1 Huyện Quờn, Bình Dương. Chỉ cuối tuần cả nhà mới tụ họp về cùng nhau được hai ngày.

Cứ thế đời trôi, năm 1961 tôi và hai em đoàn tụ lại gia đình lúc Ba về nhận chức Trưởng Hạt 7 Khai Thác Hỏa Xa Tuy Hòa, một vùng đất cũng đìu hiu gần như Lộc Ninh, chỉ gai bàn chải, bồn bồn và cát nóng cháy trưa hè.

Oanh vào học trường Nữ Tiểu Học, cách nhà gần một cây số. Tôi và Đạt học gần nhà nhất, Trường Đặng Đức Tuấn của các Sư huynh dòng Giu Se, đối diện với cư xá Hỏa xa. Thuở đó, năm 1961, trường Thánh Giu Se đang xây dựng nên các nữ sinh trường này cùng về học tạm ở dãy gần bên văn phòng Sư huynh Nguyễn Đình Kim.

Cái đáng nhớ trong thời gian này là lần Đạt đóng vai Vui Vẻ cùng các bạn trong lớp diễn kịch thơ Bạch Tuyết và bảy chú lùn ngày lễ phát thưởng cuối năm. Nàng Bạch Tuyết là một nữ sinh trường Thánh Giu Se, một trường vẫn sát cánh cùng Đặng Đức Tuấn trong các sinh hoạt hàng năm. Lớp chúng tôi tập múa parade theo bài hát Không quân Việt Nam. Đó là lần đầu tiên Đạt hòa cùng tập thể sinh động nhất.

Về Nhatrang theo gia đình, Đạt lại học Hóa Khánh, Võ Tánh, lại lặng lẽ theo năm tháng.

Trong sinh hoạt thường ngày, Đạt là người hướng nội, luôn tự tìm một nguồn vui cho chính mình và riêng mình. Thu mình vào một góc nhà, Đạt hí hoáy làm những mô hình bằng giấy bồi hoặc lon nhôm như súng M16, con công, hoa lá hay những dạng con rối guignol ngộ nghỉnh. Buồn chán thì cậu lại bày trò chiến tranh với binh lính và súng bắn đá bằng dây thun. Cứ chạy qua chạy lại hai phe để vận hành cuộc chiến một mình. Bạn bè tôi hay của các chị em thường không biết sự có mặt của Đạt. Lâu lâu thấy Đạt xuất hiện cứ tưởng người bà con ở xa về thăm, vậy đó.

Có lẽ khi tôi tham gia hoạt động trong Phân Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự Khánh Hòa cũng là dịp tạo bước ngoặc cho Đạt bước vào cuộc chơi lớn của đời. Riêng các chị em tôi, nhờ cùng hoạt động tại đây mà thân thiết, gắn bó hơn lên. Mỗi kỳ tổ chức triển lãm, lửa trại, làm báo cho Phân Bộ HTT hay Phân Đoàn Thanh Niên đều có sự đóng góp tích cực của Đạt ở mảng trang trí. Trong nhà, đó đây bắt đầu xuất hiện vài tác phẩm của cậu em mới 15 tuổi này. Ấn tượng nhất là chiếc đàn mandoline lâu nay hư cần đàn, được Đạt lôi ra dùng băng cá nhân băng bó, đổ lem nhem thuốc đỏ, quẹt màu kỳ quái u ám cho cây đàn thương tích kia, treo lên tường như muốn dùng chiếc đàn thay cho tiếng than van của cõi người về một tang thương hiện diện song hành cùng cuộc chiến dai dẵng này.

Để có ngân quỹ điều hành và thực hiện những công tác nhỏ của Đoàn Thánh Niên Hồng Thập Tự, chúng tôi thường nhận đánh máy, quay ronéo các bài học tập hoặc quay và trình bày các đặc san trường ờ Nhatrang. Có lần, một lớp của Nữ Trung Học muốn nhờ in nhưng không đủ kinh phí. Thấy cô bé cứ loay hoay đắn đo mãi, Đạt mới nói tôi “thôi anh trừ phần tiền trình bày cho họ đi, coi như em giúp họ vậy”. Vẫn chưa đủ tiền in, cuối cùng tôi quyết định chỉ lấy tiền giấy và mực in, không tính công. Cô bé mừng rỡ và chúng tôi bắt tay làm. Riêng Đạt có lẽ hứng khởi hơn với lần làm không công này và tận tụy khác những lần trước. Dù làm “dưới gốc bồ đề”, nhưng nhờ vậy, thêm một tờ đặc san góp tiếng nói ở Nhatrang.

Hết năm Đệ Tứ, Đạt bỗng quyết định dự thi vào trường Trang Trí Mỹ Thuật. Chắc chắn không ai có thể cản được sở nguyện của Đạt, dù chính các chị em trong nhà cũng biết sẽ vô vàn khó khăn cho Đạt khi học xa gia đình, thiếu thốn. Ba tôi dù là viên chức cao cấp nhưng chỉ đủ trang trải sinh hoạt hàng ngày, bây giờ cộng sinh hoạt phí của Đạt là việc nan giải, nhưng thôi, cứ để trôi đời. Có vẻ Đạt sống được một quãng thời gian hạnh phúc toại nguyện trong thiếu thốn chỉ để thỏa lòng khát khao bước vào con đường nghệ thuật này.

Học giỏi, thày bạn thương. Thày Họa sĩ Thuận Hồ vẫn thường theo dõi, chỉ vẽ tận tình cho cậu học trò cá tính và bướng bỉnh này. Cuối năm 1, chưa thi cuối năm đã thấy lù lù về Nhatrang, bỏ thi. Chúng tôi chỉ bất ngờ chứ không ngạc nhiên vì Đạt là vậy, thích thì làm hết mình, chán thì có thể thả bay. Vậy mà các thày họp lại quyết định đặc cách cho Đạt được thi lại một mình để lên năm hai. Giấy gởi về Nhatrang và Đạt lại tiếp tục lên đường vào Sài gòn học….như chưa từng có gì xảy đến trong đời. Cuối năm hai, như một nhịp sinh học, Đạt lại bỏ về Nhatrang và quyết định đi lính !! Có vẻ như đi lính và ở nhà chỉ là một chuyện bình thường, phất phơ trên đầu ngọn gió. Năm đó Đạt đúng 17 tuổi và tôi một năm lính, còn đang học sĩ quan căn bản Pháo Binh tại Dục Mỹ. Đạt nhập ngũ với tài nguyên Hạ sĩ quan, ra trường theo ngành Quân Y, học tiếp tại trường Quân Y Sài gòn cuối cùng ra đơn vị Trung Đoàn 44 trên cao nguyên.

Từ đó đến năm 1975, tôi còn gặp em 2 lần về phép, cả hai lần đều có chuyện không quên. Lần đầu tiên, Đạt về phép, khi nói chuyện cùng chị em, Đạt có nói từng “phê” thử cho biết cocain, tôi giận quá tát thẳng một cái và nói: “Những thứ đó không phải là chuyện đùa, thử một lần sẽ có lần sau, gia đình mình không có thứ suy nghĩ đó”. Đạt im lặng không nói một lời. Sau này ngẫm lại thấy mình cũng quá tay, cả hai anh em đều đã vào đời, đều phải có trách nhiệm với chính hành vi của mình.

Lần thứ hai, tôi về gặp Đạt tình cờ về phép. Ngồi nhà dưới bỗng tôi nghe một tiếng nổ lớn trên tầng một, rồi im lặng. Cái im lặng thật đáng sợ. Tôi bước nhẹ lên cầu thang, vào phòng sinh hoạt, thấy Đạt đang còn sững sờ, tay cầm khẩu colt của tôi. Trên kiếng tủ một lổ thủng xuyên suốt. Hỏi ra thì Đạt ngắm mình trong gương, bóp cò, không ngờ tôi vẫn có thói quen một viên lên nòng trước khi khóa an toàn. May mà Đạt ngắm gương chứ không tự ngắm mình.

Năm 1975, trong lần di tản về Sài gòn cuối tháng 3, tôi dẫn 2 trung đội Pháo Binh theo đoàn di tản, Tới Cam Ranh, thấp thoáng dáng ai giống Đạt dưới mặt đường, đang loay hoay bên bao gạo chỉ xanh. Tôi cho dừng xe, đúng là Đạt. Tôi kêu Đạt lên  xe thế mà cu cậu còn hậm hực vì tiếc mấy bao gạo của kho đã bỏ ngõ, cửa mở. Nhưng càm ràm vậy thôi, rồi cũng lên xe tôi về Sài gòn. Không thể ngờ một đứa em từ cao nguyên lần theo đường 7 lại có thể gặp lại anh giữa mênh mông rừng người di tản.

2. Quê hương ngày u ám

Sau biến cố 1975, gia đình tứ tán, tôi còn kẹt lại Long Thành tạm làm ruộng trên đất của rể dì Hai cùng Oanh Được thì chị Hà vào đem chúng tôi về lại Nhatrang. Đạt sau cơn địa chấn đó cũng lặng im như thường hằng, sống lặng lẽ. Một hôm Đạt mang về một bao cát gạch men xanh màu đá nhỏ vuông cỡ 2cm. Từ hôm ấy, Đạt cặm cụi trên mô hình 0,8m x 1m, sắp xếp, cưa cắt, dán nối kết từng viên, từng viên hình thành dần Nhà Thờ Núi Nhatrang, vốn dĩ chỉ cách nhà tôi khoảng 400m. Thỉnh thoảng lại lấy xe đạp phóng lên nhà thờ nghiên cứu, ghi chép để trở về làm tiếp. Cứ thế hàng tháng trời. Khi hoàn tất, chúng tôi thấy hiện diện trước mắt mình một Nhà Thờ Núi thu nhỏ thật sắc sảo. Tưởng chừng sẽ lâu dài, thế mà….chỉ một thời gian ngắn, Đạt như không hài lòng với tác phẩm, đập bỏ, chỉ chừa phần tháp chuông, và sau đó, tháp chuông cũng chịu chung số phận. Vậy đó, trước sau Đạt vẫn là con người cầu toàn, không hài lòng ở hiện tại và luôn tìm kiếm một tương lai toàn bích không bao giờ thấy ra. Sau này nhiều lần, chị em vẫn hay nhặt lại những bức tranh hẩm hiu để mang về cất giữ. Đôi lúc Đạt cần triển lãm, ghé nhà anh chị thấy lại, mượn về triển lãm để rồi nhiều khi xong đem tặng lại bằng hữu mà quên rằng khi xưa mình đã hắt hủi nó. Chị em có ca cẩm cũng đành cười trừ thôi.

Ba xin cho Đạt vào Đường Sắt, làm chẳng bao lâu lại chán, bỏ về Thủ Đức theo gia đình Ba Má. Có lẽ nghiệp công chức không ràng nổi cánh chim phiêu bồng như Đạt. Lâu lâu, có người mang tranh sơn mài nhờ Đạt làm mới lại giúp. Mới đầu Đạt không muốn nhận vì chê dạng tranh này là tranh hàng chợ không phải tranh 7 lớp sơn mài thật, sau này nói mãi Đạt mới nhận làm. Mà chưa hẳn dễ, nhớ có lần khi định nhận, chàng ta phát giác chủ nhân bức tranh làm nghề Thuế vụ, vậy là dứt khoát trả lại không làm! Cứ vậy, sống lây lất cùng chị Hà và Ba Má. Chị Hà cứ than thở  Đạt có tay nghề mà không chịu làm phụ nhà. Năm đó là năm 1985. Đạt mang về từ Sơn Mài Hoàng Anh 10.000 tấm gỗ đã phun sơn đen, chất đầy nhà. Lại cặm cụi làm khuôn phim, mua mousse để chấm sơn, pha sơn sẵn, gọi chị Hà, Âu, Gô, Oanh, Được..ra truyền nghề chấm sơn trên khuôn làm sẵn lên những tấm sơn đen để ra thành phẩm. Chỉ vẽ cách làm xong, Đạt đi mất tăm. Nhà neo đơn, thêm bên đặt hàng thúc hối, làm mẹ con chị Hà chấm ngày, chấm đêm cho kịp giao hàng trước ngày 30.04 vì đó là những tấm Gia Đình Văn Hóa. Khi xong xuôi câu ta mới mò về, Chị Hà càm ràm, Đạt nói: “thì chị nói không biết kiếm tiền, nay em kiếm tiền về cho chị, chứ ba cái chậm chậm này ai làm chẳng được, cần chi em nhúng tay vô” Hết biết. Tiền có vô nhưng chị Hà vẫn ấm ức  giống như cậu em chơi gác cơ chị mình.

Qua đợt đó, Đạt lên Nhà Văn Hóa ở và dạy cho các em thiếu nhi vẽ tranh. Cũng trong thời gian này Đạt được cử lên Dòng Đồng Công để phụ giữ gìn khu này. Đạt có viết quyển Nhật Ký Đồng Công, nhưng tiếc thay bây giờ chỉ còn một bài cuối cùng nói về tâm trạng ngày chót ở Đồng Công.

Chuỗi dài của đời Đạt gắn bó với lối sống nghệ sĩ phiêu bồng, không biết kiếm tiền và cũng không chấp nhận ai coi thường mình, sống rộng lượng với bạn bè và không tính đến ngày mai. Đối với Đạt điều đó quá bình thường, nhưng với chị em nhìn vào thì thật ái ngại cho lối sống bấp bênh đó. Chúng tôi thường nói với nhau phải chi mình có được khả năng như Đạt thì “đỡ” biết bao. Mà cũng đúng: biết vẽ vời, biết khắc tượng, biết làm sơn mài, một thời nổi danh vẽ chữ như con kiến trên các tấm plaque lưu niệm sơn mài tại Thủ Đức, lại sớm rành vi tính đồ họa, dạy ai cũng thành danh….vậy mà chỉ không biết đến cách kiếm sống. Chẳng phải Đạt không có cơ hội, nhưng bởi coi khinh nhưng kẻ sống vào cơ hội nên cứ bềnh bồng thân phận.

Có một lần Đạt nhận giúp một đoàn làm phim về mùa trái điều, oái oăm thay phim lại quay vào mùa không có điều. Thế là phải làm cốt trái điều, đắp giấy từng lớp, cắt ra khỏi cốt, dán lại, gắn hột điều, tô màu cho giống thật. Đạt kỳ công làm hàng trăm trái với giá 0 đồng 50 xu một trái, thật….chẳng bõ bèn.

Năm 1989, kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang, Đạt được Hội đồng Giám Mục chọn để trình bày quyển biên niên sử công giáo đồ sộ này. Cùng với quyển sách là một phù điêu kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang,  Ngoài ra Đạt cũng còn viết vài quyển về nghiên cứu nghệ thuật, nhất là quyển nghiên cứu về các Tháp Chàm, nhưng tiếc thay, Đạt đã sang tay cho một ai đó khi túng thiếu. Buồn một nỗi mệnh người miền Nam lại gắn liền với mệnh nước, chìm trôi vùi dập suốt mấy mươi năm, chị em sống nổi là đã may. Kíp đến lúc tạm ổn thì đã không còn sức đâu để lo cho nhau nhiều hơn khả năng mình có.

Thập niên 90 Đạt bắt đầu dạy thêm vi tính đồ họa cho một số em, nhận làm các bảng quảng cáo để thêm thu nhập, nhưng chẳng cài thiện gì nhiều khi tính nghệ sĩ quá nổi trội hơn  sự toan tính gạo tiền. Và ngọn gió đời vẫn thường khi phũ phàng cuồng dậy. Đạt vẫn như người mộng du sống lặng lẽ cùng đời.

Tôi và em Đạt có hai cái nhìn khác nhau về cuộc đời, và cũng chính vì thế hai anh em ít khi cùng bàn luận để chia sẻ. Thản hoặc có chăng nữa cuối cùng chỉ mang nặng một nỗi bực bội khi dứt câu chuyện. Điều đó không có nghĩa là tôi trách em quá ươn ngạnh, cứ khư khư giữ quan niệm sống mình. Tôi vẫn tôn trọng cách sống từng người, nhưng chỉ muộn phiền vì không đến được cùng em để chia sẻ mặn ngọt vị đời giữa giòng sống lạnh màu băng giá. Như những con thú hoang không còn rừng trú ẩn, em cũng như  tôi đang trôi cuộc sống cho qua những ngày u ám như tựa đề một bức tranh bút sắt của em: Quê hương ngày u tối.

Năm 2002 tôi có dịp về Sài gòn làm ngành gỗ, cùng em thực hiện quyển catalogue cho vinocraft của anh Tài. Quyển catalogue thì hoàn thành, nhưng công việc lại bỏ lững vì ảnh hưởng suy thoái sau ngày 11-09 bên Mỹ, âu là duyên anh em mình chưa đủ tròn đầy, và em tiếp tục làm gã lãng tử bên lề đời ngắm bóng mây trôi.

3. Đến Nhatrang để chết

Khi tôi viết mấy chữ này là lúc tôi ngậm ngùi và đang nhớ đến câu thành ngữ Đến Paris rồi chết và câu viết của Ernest Hemingway: If you are lucky enough to have lived in Paris as a young man, then wherever you go for the rest of your life, it stays with you, for Paris is a moveable feast

Có lẽ đã đến lúc chín mùi để lên đường trở về tìm lại chính mình, trên mảnh đất ngày xưa từng ủ ấp những hoài bão và khởi nguồn cuộc tình đau đớn khôn khuây của bản thân  Đạt. Một cuộc sống thả thân trôi nổi cùng đời bao năm có lẽ với Đạt cũng đủ dập vùi, bây giờ là lúc phải bản lai diện mục thôi. Và năm 2011 Đạt đã quyết định khăn gói trở về Nhatrang, quê hương thứ hai nhưng cũng chính là nơi lưu giữ tuổi thanh xuân trong trẻo một thời, để nhớ lại khát vọng hừng hực ngày xưa, để nhớ lại từng góc kỷ niệm cũ bên mông mênh biển rộng với sóng nhẹ  đẩy đưa lời thì thầm ngàn năm.

Đạt đã chọn một nhà trọ gần biển để ẩn dật và bầu bạn cùng biển những lúc buồn vui, nhặt nhạnh từng mẫu san hô, ốc vỡ và cả những xương cá dọc  bờ cát dưới những bước lang thang để rồi trân trọng gắn chúng lên từng tác phẩm của mình như dấu tích tàn phai của tạo hóa đặt để cho muôn loài.

Đã xa quá rồi tuổi thơ để hòa lại giòng sống một thời. Nước dưới giòng vẫn chảy, và Đạt vẫn còn ngắm mình trong giòng đang chảy ấy, tưởng chừng như đó là con nước ngày xưa. Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai…và em như giòng suối mùa đang dần cạn nước khi mùa khô choàng đến.

Chị Hà ra đón em về, em vẫn chần chừ như chờ đợi. Khi về đến quê nhà rồi em vẫn muốn quay về Nhatrang nhìn lại lần cuối. May hay rủi khi đến ngày khởi hành về Nhatrang em cùng kiệt như đóm lửa thiếu hơi ?  Ngày cuối, gần sáng em ra đi trong tư thế một người lính xung trận, tay còn cầm cây viết, đầu ngước về chiếc bàn nhỏ như dõi tìm quyển sổ. Nhưng đã muộn, trong tư thế đó, em bước vào cõi thiên thu.

Hãy mang đi linh hồn em tràn bóng tối
Giữa muội mông thu hẹp lối con người
Hãy buông hồn em bay xa diệu vợi
Nơi chỉ có trời xanh cùng gió lộng mây trôi
Hãy buông lỏng thả trôi đi giòng nhớ
Cõi dương trần quá nhỏ, hãy bay lên
Bay  lên em đường mênh mang rộng mở
Bão đã lụi tàn, yên nghỉ nghe em…..

Khi tôi về lại Nhatrang thu dọn phòng cho em như lời em dặn, tôi chỉ cố tìm những vết tích đọng lại của em. Những vết tích kỷ niệm rời rạc, ít ỏi như cuộc đời em.

Anh cố tình không nhắc tới cuộc tình em và Hội Mỹ Thuật một thời em là hội viên bởi lẽ cuộc tình của em thì đau xót cho cả hai, còn Hội Mỹ Thuật thì chưa đáng gọi là tình. Em hãy trân trọng kỷ niệm tình yêu đó và Em vẫn là em nguyên vẹn không cần sự chứng giám của Hội Mỹ Thuật vô tình đó. Xin lỗi em về những suy nghĩ ấy.

Hãy yên nghỉ, đứa em bướng bỉnh của anh.

Đặng Châu Long
09-06-2014
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.