Cần Thơ, những ngày tháng cũ

Posted: 12/03/2015 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Trần Mộng Lâm

Trần Mộng Lâm

ben_ninh_kieu-1970

Tôi vừa nhận được điện thoại một người bạn gọi từ Pháp Quốc. Anh em không gặp lại từ hơn 40 năm, mà sao không thấy xa lạ, tưởng như vẫn còn như ngày nào còn ở Cần Thơ.

Cần Thơ, thành phố dễ thương và thanh bình thuở tôi vừa khoắc áo lính trên vai, đâu ngờ lại là nơi tôi chứng kiến một mối tình thiên thu của một cặp nam nữ Việt Nam cùng trang lứa với tôi, và tôi tin chuyện tình duyên này đẹp hơn hết trong những mối tình của thời đại chúng tôi.

Hồi đó, tôi ra trường và đi lính, như tất cả các thanh niên đồng trang lứa. Khi đất nước lâm nguy, thì ra biên cương là chuyện không thể tránh được.

Bạch diện thư sinh, từ nhỏ đến lớn sống trong gia đình với sự đùm bọc của cha mẹ, bỗng nhiên phải xa nhà đến hàng trăm cây số, lại phải qua 2 bến phà, là bắc Mỹ Thuận và bắc Cần Thơ, thành phố này quả là khác lạ đối với tôi. Cũng may, quân y viện Phan Thanh Giản quy tụ những thành phần trạc tuổi tôi, và cũng vừa mới ra trường tại các đại học Y, Nha, Dược, nên chúng tôi đã mau chóng tìm thấy nơi đây một không khí gia đình rất thân thương. Ngoài các đồng nghiệp y sĩ, còn có các bạn bên dược khoa, như dược sĩ Trương Thanh V, người bạn tôi nói ở đầu bài viết này. Bây giờ đã 40 năm qua đi, nhưng nụ cười thân thiện, vẻ tinh nhanh, mau mắn của anh, không bao giờ tôi quên được. Cũng như một người dược sĩ khác, anh Huỳnh LV, anh TV là người Cần Thơ, nên các anh hết lòng giúp đỡ các bạn mới đến, để họ bớt xa lạ và và quên đi nỗi nhớ nhà.

Về phía các y sĩ, tôi đặc biệt kết thân với hai người bạn, hơn tôi một lớp, một chuyên môn về mắt, anh Lê Tấn L, và một chuyên về tai mũi họng, anh Nguyễn Thế H.

Anh Lê Tấn L độc thân cũng như tôi. Sau một thời gian ăn ở tại Trại Độc Thân dành riêng cho sĩ quan, tôi và anh L thuê một căn phòng trên đường Tự Đức ở chung với nhau. Anh Nguyễn Thế H, ORL, khi ấy đã có vợ, và có được 2 cháu nhỏ. Chị H nhỏ nhắn, rất dễ thương, và 2 đứa bé, khi đó chắc chỉ 5 hay 6 tuổi, một trai, một gái, chạy ra chạy vào chào bạn của bố, mỗi khi chúng tôi tới chơi, ôi, thật là hạnh phúc.

Anh H người Bắc. Anh có ông anh, là một sử gia danh tiếng. Theo chỗ tôi biết, hai anh em anh đều mồ côi mẹ rất sớm.

Chị H người Sadec, có một người mẹ già còn sống ở đấy. Thỉnh thoảng, bác gái ghé thăm con, chúng tôi gặp, chào, được bác coi như con cháu trong nhà. Anh H không kể, nhưng anh L, tôi gọi là L «mắt», vì mắt là chuyên khoa của anh, chơi rất thân với anh từ nhỏ, kể cho tôi nghe chuyện tình duyên của 2 người, nghe rất cảm động. Chị H bị bệnh tim bẩm sinh. Thuở ấy, việc mổ tim còn phôi thai. Thầy thuốc khuyên chị: Nêú còn con gái, đừng lập gia đình, nếu đã lập gia đình, thì đừng có con, nếu đã có một con, thì đừng có hai dứa con.

Anh chị gặp nhau, rồi sinh ra cảm mến nhau. Anh H nhất định xin cưới chị làm vợ. Việc hôn nhân của 2 người bị gia đình cả 2 phía chống đối, ngoài chuyện bệnh tật, lại còn những khoảng cách Bắc, Nam, rất khó vượt qua. Anh H nhất định không bỏ ý cầu hôn, và anh phải dùng đến giải pháp sau cùng, là tự tử để chống đối sự phản kháng cuộc hôn nhân của anh chị. Được cứu sống kịp thời, anh rất quyết liệt thực hiện ý định của mình, lấy chị làm vợ. Cha anh, và mẹ chị H, không làm sao ngăn được, phải cho hai người làm đám cưới. Sau khi thành hôn, họ bỏ ngoài tai lời khuyên của các đồng nghiệp về tim, có đến 2 đứa con. Hình như họ coi thường định mệnh, và chỉ làm theo những lý lẽ tình cảm họ dành cho nhau.

Anh chị H rất dễ thương và tốt với chúng tôi vô cùng. Tôi còn nhớ, có lần tôi bị cảm nặng, không ăn uống gì được, anh chị đem đến nồi cháo nóng, nhất định ép tôi phải ăn để lấy sức, cho mau lành bệnh.

Tôi và L «mắt» độc thân, ham vui, khi thì đi nghe nhạc ở các quán Cà Phê đèn mờ, khi thì đi Vườn Ổi Cầu Bắc lúc cuối tuần, khi thì ra quán Ngọc Lợi, cạnh sân tennis, ăn món tôm càng sauce mayonnaise, ngon đặc biệt, lúc vào Cầu Xéo, ăn rùa rang muối, hoang đàng, bị anh H rầy hoài: Các cậu lo lấy vợ đi, cho ổn định.

Tuy vậy, tháng nào, chúng tôi cũng lại nhà anh chị ăn, ít nhất một vài lần.

Thời gian cứ qua đi từ từ, với những việc làm tại quân y viện. Hồi đó, chiến sự sôi động, có đêm thương binh chở về cả trăm người, đủ thứ thương tích, làm việc mờ người. Công việc nhiều quá, nên anh H nhiều khi đi sớm về muộn, không giúp đỡ được bao nhiêu cho vợ, trong công việc nhà, với 2 đứa trẻ nghịch phá.

Sau cùng, với sự lao lực, việc người ta lo ngại đã xẩy ra: Một cục máu đã từ tim chạy lên não bộ gây ra một tai biến cho chị H. Chị hôn mê bất tỉnh.

Anh H được sự thông cảm của anh y sĩ trưởng, cho phép anh toàn quyền nghỉ để lo cho chị. Chi H được chở về Sài Gòn và điều trị tại nhà thương Grall.

Khi tôi đi phép về Sài Gòn, vào nhà thương thăm chị, thì chị đã không còn biết gì nữa rồi. Người chị chằng chịt các ống, các dây, và việc hô hấp, thì toàn nhờ vào máy thở nhân tạo. Anh H luôn túc trực cạnh giuờng, người gầy rạc đi. Thăm chị xong, trên đường trở xuống Cần Thơ, tôi thấy tự nhiên ứa nước mắt. Tôi biết rằng vấn đề chỉ còn là giờ, là ngày, chứ đừng nói là tháng. Các bác sĩ ở Grall cũng biết là tuyệt vọng. Họ đã hỏi anh H về việc rút máy thở, nhưng anh còn chưa quyết định được.

Sau cùng thì việc phải đến đã đến. Dù hết lòng hết dạ lo cho người vợ mà anh hết lòng thương yêu, anh H cũng phải trở về Cần Thơ, một mình!!! Chị đã ở lại trong một nghĩa địa lạnh lẽo, bỏ lại một người chồng suy tàn, và 2 đứa trẻ mồ côi, cũng cùng một số phận như cha của chúng, hỡi ôi.

Tôi và L «mắt» không biết làm gì chỉ biết lâu lâu rủ anh đi uống cà phê. Cho anh đỡ buồn. Bà ngoại 2 đứa trẻ phải bỏ Sadec về để giúp anh nuôi 2 đứa con. Hình như cụ cũng hơi cằn nhằn, có lẽ cụ sợ rồi con rể sẽ với ngày tháng, có vợ mới, rồi bỏ bê 2 cháu của bà. Chắc bà cụ cũng xa gần trách móc gì đó, tôi thấy anh H có vẻ buồn.

Chúng tôi cũng tưởng rằng thời gian là phép mầu giúp người ta lãng quên.

Mỗi khi rảnh rỗi, chúng tôi đều rủ H đi uống cà phê, nghe nhạc, và mong anh ngoai nguôi, khuyây khỏa, để đến một lúc nào đó chọn được một người đàn bà tử tế dễ thương, thay mặt chi H để nuôi 2 cháu côi cút nên người. Nào ngờ, trong một đêm trực tại quân y viện, người ta chở vào phòng cấp cứu anh H. Anh đã dùng một khẩu súng nhỏ, bắn vào đầu một viên đạn, để đi tìm lại người vợ thân yêu của mình nơi chín suối.

Khẩu súng của anh, tôi biết. Đó là một khẩu Browning. Súng đàn bà, để tự vệ thì đúng hơn. Đậy là quà tặng của một người bạn cùng lớp, y sĩ nhẩy dù. Người bạn này hiện nay hình như sống tại Paris.

Tôi không còn gì để nói về những chuyện về sau, chỉ nhớ là trong đêm gác xác của anh, được đem về quân y viện để an táng, tôi xỉu!

Chuyện tình của anh chi H đẹp, đáng ca ngợi hay đáng phiền trách, thực sự tôi không hiểu. Tôi chỉ biết rằng cuộc đời vẫn trôi đi, như nước chẩy, như mây trôi.

Và tôi cũng theo dòng đời mà trôi nổi đến tận xứ Montréal.

Tôi gặp lại tại thành phố này anh Trương Thanh S, y sĩ, em ruột anh Dược Sĩ Trương Thanh V, người vừa gọi để nói chuyện với tôi. Anh S. đến Montréal sau tôi, cũng rất vất vả mới trở lại nghề. Anh kiếm được một chỗ làm tại Tiểu Bang Nouveau Brunswick, tưởng đã yên thân. Một ngày mùa Đông, anh chị lái xe về thăm các con ở Montréal gặp tai nạn. Cả hai vợ chồng đều nằm lại bên xứ người.

L «mắt» sau 1975 ở lại Cần Thơ với tôi, cùng đi học tập cải tạo một thời gian, sau này về Vũng Tầu hành nghề trở lại.

Tôi và L «mắt» có thể coi như anh em. Tôi biết chắc anh là cháu Luật Sư Nguyễn Văn H một thời là một nhà lãnh đạo của Việt Nam Công Hòa, chủ tịch Thương Nghị Viện, Phó Tổng Thống….

Vậy mà một nguồn tin khác nói anh có cha là một ông kẹ của Công Sản, cỡ Lê Đức Thọ, và ngay sau 75, đã có người của cha anh phái về gặp anh. Dù tin này có thực, tôi biết một điều, một điều rất chính xác, bạn tôi, L«mắt», không thể nào là một người CS, không bao giờ. Anh hiện mới được định cư tại Houston Texas, vì con gái anh hiện là một y tá tại Mỹ, bảo lãnh cho vợ chồng anh qua. Hồi 1975, cả hai đứa tôi đều độc thân. Cũng bình thường, cả tôi nữa, bây giờ 2 đứa con đều đã trở thành dân Canadiens chính hiệu, tự lập, và không còn biết, không cần biết cha chúng đã khốn khổ thế nào trong cuộc chiến Việt Nam 1954-1875.

Thật là tai hại, cái Đảng Cộng Sản, mắc toi, mắc dịch.

Thế hệ của chúng ta là một thế hệ lẽ ra có thể giúp đỡ nước VN rất nhiều. Chiến tranh đã tàn phá cuộc đời chúng ta, biến chúng ta thành những kẻ bị lưu đầy trên mọi nẻo đường của Thế Giới, hay sống vật vờ tại Việt Nam.

Bạn Trương Thanh V thân mến.

Chúng ta ngày nay tan tác, bạn ở Paris, L.V bên Úc, và tôi Montréal, cách nhau một đại dương. Và ước muốn thuở xưa của mấy đứa mình, là khi về già và hưu trí, tụ tập lại, xuống Bến Ninh Kiều, nhậu với nhau một vài chai la de, ăn cua rang muối cũng không thực hiện được .

Nghĩ đi nghĩ lại, tuy chết trẻ, vợ chồng H có cái may mắn là khỏi biết đời sống sau này dưới thời XHCN, khi cả nước xuống Hố. Âu cũng là, nói theo nhà văn Hoàng Hải Thủy, Định mệnh đã an bài!!!

Trần Mộng Lâm
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.