Mít già bên Hạ Uy Di

Posted: 01/01/2016 in Khổng thị Thanh-Hương, Tùy Bút / Tản Mạn / Bút Ký

Khổng thị Thanh-Hương

elvis_presley

Sau 7 tháng chờ đợi hai đứa tui mới bán được căn nhà không lớn ở một thành phố nhỏ, phía Nam Tiểu Sàigòn. Trong vòng vài tuần, đồ đạc tích tụ từ bao chục năm được phân chia ra nhiều nhóm. Nhóm tặng bà con, nhóm cho “qủa chuông” từ thiện, nhóm bán gara xeo. Những gì còn lại có gía trị tinh thần, gía trị tình cảm thì mang theo. Vốn liếng gom góp trong hai kiện hàng, theo đường thủy, qua Hạ Uy Di trước.

Đầu tháng 3, hai đứa thuê xe lên phi trường quốc tế. Gần 11 giờ đêm hai đứa mới ra khỏi máy bay. Khi đứng đợi chàng ký nhận chiếc xe thuê, tui nghe tiếng chim hót thiệt lạ. Ngộ hén, bên này có một loài chim hót ban đêm sao? Không khỏi tò mò tui hỏi một bà du khách đứng kế bên, “Chim gì vậy bà?” Bà ta cười mỉm, “Con coqui đó, chứ phải chim gì!” Tôi có nghe nói là bên này có cái nạn coqui. Cái gì in ít, thoang thoảng thì người ta kêu là “ngộ”, là dễ thương, là thơ mộng, là lãng mạn. Nhưng nếu cái gì đó không còn thoang thoảng, in ít nữa thì người ta kêu là “nạn”, là “quấy rầy”, là “đồ trời đánh thánh đâm” … Tui muốn nói tới cái “nạn” coqui. Ai sao chớ tui thấy con ếch nhỏ xíu này dễ thương thì thôi. Mỗi lần nó cất tiếng kêu “cồ kí”, “cồ kí” tôi cứ tưởng tượng nó ngước nhìn mình xin xỏ cái gì, với đôi mắt lồi thiệt là to, so với cái diện tích khiêm nhường của đầu, cổ, chân, tay. Qủa thiệt tui đã có một nhận xét hơi sớm về con vật cỏn con này!

Từ phi trường hai đứa kiếm đường tới căn phòng mà chàng đã đặt thuê từ hồi còn ở bên đất liền. Đường lạ buổi tối lại thêm mưa lúc nặng hột, lúc gió lớn khiến cho những con đường lạ hoắc còn bí hiểm hơn. Chàng quẹo tới quẹo lui. Khi thì quẹo sớm qúa, khi thì quẹo lố qúa. Tới ba lần bẩy lượt, vòng tới vòng lui, sau cùng mới tìm được con đường mang tên Kaieie (ba tháng sau tui mới đọc được tên đường trơn tru, không vấp váp.) Đi hoài mà không thấy tới. Đường làng đã nhỏ, quanh co mà lại không có đèn soi cho tài xế! Không nhờ có ánh đèn từ chiếc xe thuê thì có lẽ cả hai đã xuống hố, không có ngày trở về … thăm bà già!

Sau cùng thì hai đứa cũng tới nơi. Căn nhà im lìm nằm trên một khu đất rộng thênh thang, hoang vắng. Không có tiếng sủa ăng ẳng của hai con chó thì có lẽ không ai biết có người cư ngụ ở đây. Căn apartment hai đứa thuê nằm phía tầng dưới của một căn nhà xây theo lối nhà sàn, khoảng hai thế kỷ trước. Loại nhà này có mái tôn, sàn gỗ, trần cao, thích hợp với khí hậu mưa nhiều, nắng ít bên phía đông của Đảo Lớn. Căn apartment có một phòng ngủ rộng rãi. Nó có tới 10 cái đèn. Tám cái trên trần, mà một trong tám cái bóng đèn nằm ngay trên đầu tui, như nhìn chằm chặp vô mặt khi tui mở mắt nhìn trần nhà, suy nghĩ chuyện đời (bởi vậy tui ít suy nghĩ chuyện đời là vậy), hai cái bên đầu giường và một cái trên bàn (hiện là nơi tạm trú của hai cái PC của hai đứa).

Phòng khách có một cái ghế sô-pha có thể biến thành giường cho hai người nằm, một ghế bành, một TV, một lô-vờ-sít và bốn cái đèn trên trần nhà, hai cái đèn trên bàn nhỏ và, như là chưa đủ sáng, chủ nhà cho thêm một cái đèn nữa, loại mà người Mỹ kêu là floor lamp. Tui đếm tới đếm lui thì thấy tổng cộng là bẩy cái đèn trong cái phòng khách nhỏ xíu này! Căn phòng apartment này có nhiều đèn không kể nổi. Trong bếp có sáu cái đèn. Phòng tắm thì chỉ có bốn bóng đèn mà thôi! Từ bữa dọn vô tới giờ, tui chưa có dịp hỏi chủ nhà tại sao gắn qúa nhiều đèn, trong khi tiền điện bên này rất mắc?

Bếp được trang bị đầy đủ với tủ lạnh hai cánh cửa, tha hồ để thức ăn mà không lo thiếu chỗ. Chén đĩa, nồi niêu xoong chảo đủ cho hai người dùng trong nguyên một tuần mà không cần phải rửa chén. Điều này tui thiệt là ưng ý. Cứ đi tới đi lui cười mỉm chi. Phòng tắm có hai vòi tắm (lạ với tui). Sau này mới biết là bên này có nhiều người thích tắm ngồi chồm hổm.

Chủ nhà là người Mỹ gốc Nhật tên là Ken. Ken có hai con chó. T-Tay thuộc giống Chihuahua. Cyrus thuộc giống gì không rõ. Nó nhỏ như con nai con, nhìn từa tựa như con Snowy trong truyện bằng tranh Tintin. Cyrus nhẩy như nai, nhưng không phóng như những con chó bình thường khác.

Cuộc sống trên con đường làng Kaieie vẫn bình thường, không có gì là hấp dẫn: Hai đứa thức giấc theo thời khóa biểu của chủ nhà, vì Ken thức sớm để chuẩn bị đi làm. Anh chàng đi tới đi lui, kéo ngăn tủ, đóng cửa tủ, vặn vòi nước trong phòng tắm hay trong bếp. Đôi khi sơ ý làm rớt chiếc giầy hay cái gì đó khiến trái tim hai đứa muốn văng ra ngoài, vì sàn gỗ mỏng trên lầu. Thức dậy rồi, hai đứa coi tin tức rồi đọc email, ăn sáng, rồi đi xuống nhà bếp, mở cửa phòng để đồ đạc kế bên cho hai con chó của chủ nhà sổ lồng. Từ ngày Ken bị hàng xóm mắng vốn vì hai con chó, tuy nhỏ nhưng không biết mình nhỏ thó, đã nhe răng rượt hàng xóm chạy thụt mạng, khi anh chàng này đẩy con đi vòng vòng, Ken nhốt hai con chó cưng mà bất trị vào phòng này, khi vắng nhà.

Vậy là mỗi sáng hai con T-Tay và Cyrus được vài chục phút chạy theo hai đứa tui đi lên con dốc. Lý do tui nói tụi nó chạy theo, không phải tụi tui có sức chạy nhanh hơn hai con cún (làm sao sức người gìa chạy nhanh hơn sức chó), là vì T-Tay và Cyrus, sau khi được thả ra từ căn phòng chật ních đồ đạc đã chạy như bay lên dốc, ngừng lại dọc đường thám thính những gì có thể nhúc nhích được, trong những bụi rậm, rồi lại chạy qua mặt hai đứa tui. Như một trò chơi.

Từ nhà Ken lên tới đỉnh đồi chỉ có ba căn nhà: nhà “dê” vì có nuôi dê. Người thuê nhà là một người đàn bà da trắng tên Heidi. Ngoài 5, 6 con dê, Heidi còn có hai con mèo. Mỗi khi đi ngang nhà này hai con chó phóng như bay vào sân nhà người ta, đứa chặn trước, đứa chặn sau để hăm dọa con mèo khốn khổ. Cũng may, con mèo nhanh chân. Hai con chó nhỏ người nhưng to miệng không bao giờ nắm được một cọng lông tơ nào của con miêu. Sau bao nhiêu lần kêu la, ra lệnh mà không có kết qủa, chàng của tui quyết định cặp nách mỗi đứa một bên, khi đi ngang nhà “dê”. Chưa hết, kế nhà Heidi là nhà của Albert, một người đàn ông tuổi trạc 60, cũng ở một mình. Albert cũng có vài con mèo. Cho tiện việc sổ sách, chàng của tui ôm hai con chó đi qua nhà Albert luôn. Sau khi đi qua một quãng, khi thấy an toàn cho những chú miêu thì mới thả hai đứa cẩu xuống. Chúng lại lăng xăng chạy nhảy, hít hà, đánh hơi heo rừng hay những con chuột đồng trên hai bên đường làng. Khi biết được có heo rừng hay trông thấy đàn bò nằm nhai cỏ thì hai con chó thi nhau sủa. Khi cảm thấy thị uy đàn bò đã tạm đủ thì chúng ngừng, để lại không gian tĩnh lặng cho hai đứa. Căn nhà cuối cùng của George và Christine có hai con chó to và rất hung hăng. Vì thế cho nên, để tránh cảnh khóc chó chết, người và cẩu quay trở lại trước khi lên tới giang sang của hai con chó to xác.

Thông thường một ngày của tụi tui bắt đầu là như vậy đó. Vào những ngày chẵn trong tuần, chàng và tui ráng tập hít đất, situp để cho có mang tiếng là có tập thể dục. Cái máy tập thể dục Soloflex vẫn còn nằm trong nhà kho, cùng với sách, album hình, nhật ký đời tui, áo quần, không giầy dép (vì những đôi giầy cao gót, những đôi bốt cho mùa đông, những áo len dầy nặng đã được đem tặng trước khi khăn gói qủa mướp sang thiên đàng hạ giới.) Một vài tiếng sau, tui sửa soạn đi nhà thờ. Hồi mới sang, vì có nhiều việc giấy tờ dưới phố cho nên chàng hay đi Lễ với tui, sau khi xong việc. Nhưng khi lo xong các giấy tờ cần thiết cho cuộc dời nhà, anh chàng nói, “Thôi, tui không cần đi với cưng nữa, cưng đi mình ên đi.” Thế là con nhỏ lái xe đi Lễ một mình. Đi mà run. Trước khi lên đường, con nhỏ viết xuống tên đường, ráng nhớ khúc nào quẹo phải, khúc nào quẹo trái. Dặn lòng là khi đi qua cái cây cầu có cái thác nước đổ ầm ầm thì nhớ đổi len để mà quẹo phải. Sau khi quẹo phải, và qua tiệm sách mà hai đứa ghé qua trong tuần đầu khi mới sang đây, thì sẽ đi qua bưu điện và thư viện. Kế đó là một quán ăn có tên Drive Inn (chứ không phải Drive In) thì quẹo trái. Đi một quãng ngắn, thấy tháp chuông nhà thờ là tới nơi. Đó là lộ trình của tui, từ nhà tới nhà thờ.

Còn tên đường thì còn khuya tui mới nhớ. Hình như tên gì cũng có ít nhất hai chữ A, hai chữ I, hay hai chữ K, hoặc đôi khi như muốn làm khó người mới tới (như tụi tui), cho luôn 5 nguyên âm một lèo (như tên đường KAIEIE). Ở bên này hơn 4 tháng tui chưa nhớ được cái tên đường quẹo vô từ quốc lộ 19 (tương tự như PCH bên mình) để tới nhà thờ. Ai da. Nếu không có những toà nhà cao hai tầng để tui làm mốc, có lẽ khó lòng lắm mới tới được nơi. Sau một vài ngày tự lái xe đi nhà thờ, chàng nhờ tui ghé Island Mailbox Internet Cafe (IMIC) lấy thơ. Cái này dễ ẹc. Chỉ quẹo trái từ sân nhà thờ, rồi quẹo phải đường Kinoole. Khi đi qua Mc Donald, qua cái đài phát thanh có chữ K bắt đầu với hai chữ XX rồi thêm chữ gì nữa, rồi qua một cái công viên nho nhỏ, bao giờ cũng có một cái xe van treo đủ thứ lời chửi ông tổng thống cờ hoa thì sửa soạn quẹo trái. Liền sau đó phải quẹo vô sân đậu xe của IMIC. Sân đậu xe của nơi này nhỏ xíu. Khi nào hên có chỗ đậu. Bữa nào xui, người ta đậu hết chỗ. Nhỏ tui phải bấm đèn ê-mờ-gen-xi lên, rồi ba chân bốn cẳng, chạy tới thùng thơ, trong tay nắm sẵn chùm chìa khóa, với tư thế sẵn sàng. Năm thì mười họa mới có một hai cái bills và quảng cáo và rất nhiều quảng cáo. Nói đến quảng cáo, tui phục sát đất cái sở bưu điện. Sau khi biết địa chỉ mới của hai đứa, mấy cái quảng cáo từ bên đất liền, vượt trùng dương, tiếp tục làm ngộp thở cái hộp thơ tí hon của hai đứa. Không có thư riêng, tui cũng không lấy làm buồn, vì thời đại nguyên tử ai mà còn viết thư? Thời này, bao nhiêu nỗi niềm nhung nhớ gia đình, bạn hữu đã được gửi vào cái máy nhỏ bằng bàn tay đó. Nhờ cái xì-mạc phôn mà trước khi đi qua bên này, tui chỉ cho bà già cách “tếch”, để khi “má không muốn nói chuyện thì tếch cho con.”

Ngày tháng lẳng lặng trôi qua, không có gì đáng kêu là biến cố. Cho tới một ngày kia, hai đứa phải kiếm chỗ dọn vì gần tới ngày phải dọn ra khỏi nơi mà hai đứa đã ở hơn 3 tháng.

Chuyện đi tìm chỗ mới cũng thiệt là nhiêu khê. Có phòng không có sàn nhà, chỉ tráng ximăng lồi lõm. Màn cửa rách lủng lỗ tùm lum như một cánh đồng trúng bom, vì chuột cắn (lời của chủ nhà chứ không phải của tui). Có nơi người mướn chưa dọn ra, đồ đạc còn lổn ngổn trong phòng ngủ, phòng tắm, phòng khách. Siêu hơn nữa là ngay phòng khách một tẩu hút cần sa nằm tơ hơ trên bàn, như mời mọc khách. Nơi khác thì lại không có một món đồ gì để xài. Không bàn, không ghế, không giường, không cả một tấm nệm! Đã vậy, chủ nhà còn đưa điều kiện phải phụ họ cắt cỏ. Khi hỏi có máy cắt cỏ hay không thì bà chủ nhà nói sẽ mua cho cái máy cầm tay để … tỉa cỏ. Có nơi, trước khi bước vào, chủ nhà hỏi chàng cao bao nhiêu. Sau khi biết được chiều cao của chàng của tui, bà ta nói, “cẩn thận coi chùng u đầu”. Hóa ra cái trần nhà thấp hơn chiều cao của chàng khoảng hai “in”. Sau cùng gọi được chỗ kia, nhìn thấy hình trên on-lai tương đối khang trang cho nên hai đứa xin tới coi. Sau khi lái tới trúng đường rồi mà không làm sao kiếm được số nhà. Khi đi chàng lại không đem theo xeo phôn, “vì tui nhớ số nhà rồi”.   Đi tới, đi lui cả 5, 6 lần vẫn không tìm được nhà. Tui nói không sao, để em gọi chủ nhà. Gọi hoài chủ nhà cũng không buồn nhấc phôn. Tui bèn … tếch. Tếch tới tếch lui cũng không nhận được một chữ nào của nàng trả lời. Thất vọng và ngạc nhiên, hai đứa lái về. Lái về mà lòng cũng ấm ức. Tại làm sao mà bà này không chịu cầm phôn khi có người tới coi nhà vậy cà? Về tới nơi hai đứa mới khám phá ra là: Số nhà chàng nhớ lộn! Số phôn tui ghi sai!

Tưởng là việc thuê căn phòng này đã không thành, vì hai đứa phải trả nhà sáng Thứ Bẩy, mà người chủ mới chỉ cho coi nhà vào Thứ Bẩy. Ai dè, sáng sớm Thứ Sáu, cô nàng gọi. Cô ta nói vì đau cổ nên ở nhà, không đi làm. Nếu muốn đến coi thì đến liền. Hai đứa lè lẹ lái xe tới coi. Sau khi đi qua cái khu nhà mà hai đứa lái qua lái lại ngày hôm trưóc, hai đứa còn leo lên ba, bốn con dốc và đi cho tới đường cụt và thêm một khúc đường một chiều nữa, tụi tui mới đi vào một khu đất với nhiều hoa thơm cỏ lạ. Chủ nhà trồng cả chục loại dừa. Dừa nước, dừa xiêm xanh, xiêm lửa, xiêm lùn, dừa thân cam đỏ … Hoa thì có hoa tôm màu vàng, hoa bông bụt … Có những loại hoa tui chưa thấy bao giờ trong đời. Coi thơ mộng và đẹp mắt như lạc vào một vườn bách thảo. Coi căn phòng thì đồ đạc trưng bầy ấm cúng. Phòng nào thứ nấy. Phòng khách thì có kệ để sách, trăm cuốn tha hồ đọc, kể cả các nguyệt san về vườn tược, du lịch. Phòng tắm, phòng ngủ đều sạch sẽ ngăn nắp. Tới lúc dòm tới cái tủ lạnh thì hỡi ơi, tui chưng hửng vì nó nhỏ làm sao! Mở cánh cửa ra thì còn tệ hại hơn. Tủ lạnh không cao đủ để vừa một ga-lông sữa! Trời đất! Tui mới đi chợ Farmer’s Market ngày hôm thứ Tư. Mua nào rau xàlách, rau cần, rau thơm, giá sống, cải bắp thảo … chỗ đâu cho tui để những bó rau này. Còn một ga-lông sữa nữa. Làm sao cho vừa?

Đứng nhìn cái tủ lạnh dành cho các sinh viên trong khu đại học xá tụi tui phân vân không biết tính sao? Mướn hay không mướn? Nghĩ lại cái khó nhọc của việc tìm phòng, tụi tui đành chấp thuận thuê căn apartment này. Mọi sự rồi hậu tính.

Đêm đầu dọn tới, hai đứa không ngủ được. Tiếng ếch, tiếng dế hòa tấu ngay bên đầu giường. Ở chỗ cũ, cây cối trồng xa vách tường, hay ít nhất không kế sát phòng ngủ. Ở đây, khác biệt một trời một vực. Con coqui là một loại ếch được nhập cảng vô thiên đàng hạ giới này từ những tay thủy thủ đem cây cối đến từ Puerto Rico. Mới đầu tui thấy tiếng chúng dễ thương. Cố qui. Cố qui. Nhưng từ ngày dọn tới đây, tiếng con cô qui không còn dễ thương nữa. Đêm thứ hai, hai đứa có kinh nghiệm hơn, đóng cửa sổ lại. Đêm nay ngủ được hơn đêm qua, tuy thiếu gió trời. Tiếng dế hòa với tiếng ếch cô qui không còn điếc ráy như đêm đầu.

Đó là nạn cô qui. Giờ cho tui nhắc tới nạn muỗi mòng bên này. Vì mưa đã nhiều mà cây cỏ đầy rẫy cho nên nếu ai không xịt thuốc trừ muỗi chung quanh nhà thì nên chuẩn bị để cho những chiếc phản lực cơ tí hon “làm thịt”. Từ hồi qua đây tới giờ, hai đứa đã thử bao nhiêu là phương cách tự nhiên để trừ muỗi. Chà tỏi tươi lên tay, chân. Ngâm tỏi với nước để xịt lên người. Đặt những cây citronella chung quanh cửa ra vô. Trồng sả, trồng tỏi nơi mảnh vườn đằng sau nhà … Thế mà không có gì ngăn cản được sự tấn công của đàn muỗi. Trong mảnh vườn tí hon tại nhà cũ tụi tui có trồng vài cây rau, củ cải, húng quế, ngò thơm. Khi chiểu xuống, có lúc muốn hái một vài cành làm cơm, nhưng trực nhớ giờ tranh tối tranh sáng là giờ của … muỗi, con nhỏ đành đứng trong bếp nhìn ra thèm thuồng, ăn tưởng tượng.

Giờ đây, sau gần 9 tháng ở bên này, đời sống tạm ổn định, dù nhà vẫn chưa mua được. Hai đứa nhận đến tình nguyện cho một viện dưỡng lão, hai lần một tuần. Dùng khả năng nghệ thuật hạn hẹp của mình để giúp trang trí căn phòng ăn của họ, tùy mùa, tùy lễ, ngoài việc thăm hỏi những cụ già sống chuỗi ngày còn lại trong đơn chiếc.

Khổng thị Thanh-Hương
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.