Pétrus Trương Vĩnh Ký – Non morietur in aeternum

Posted: 19/09/2016 in Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự, Đặng Châu Long

Đặng Châu Long
Kỷ niệm 118 năm ngày mất Học giả Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký

truong_vinh_ky
Học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

Thập niên 1930, ba tôi học trường Pétrus Ký, một ngôi trường được bao bọc bởi bốn con đường: Nguyễn văn Cừ, An Dương Vương, Trần Bình Trọng và Hùng Vương. Năm 17 tuổi, ba tôi mới rời trường vào làm Thư ký ga cho Hỏa xa, đó là năm 1937. Hình ảnh cậu học sinh với bộ áo dài trắng, quần trắng, mũ cối trắng của thời ấy vẫn mãi đọng cùng tôi khi nhớ đến ngôi trường này. Ngày nay, ngôi trường đã thay tên, khu đất rộng mênh mông ngày nào đã thu hẹp lại nhưng trường Pétrus Ký mãi là một trường đầy tự hào cho những học sinh mọi thời. Dù có đổi tên gì thì mọi người vẫn mãi nhớ đến con người tài hoa và đầy nỗi niềm u uẩn này.

Sáng nay, ngày kế của lễ Trung Thu, cũng là ngày giỗ của Pétrus Ký theo âm lịch, chúng tôi ghé đến nhà số 520, Trần Hưng Đạo, Quận 5 Sài gòn để cùng tưởng niệm một con người vốn đã bị lãng quên.

Dù đường này, nơi này hàng ngày, sáng chiều tôi vẫn đi qua, nhưng hôm nay, đứng đây cùng tấc lòng chùng. Cảnh trí hoang sơ đến buồn lòng. Nơi đây sao, nơi từng sống của một nhà bác học từng được thế giới xếp hàng đầu của 18 bộ óc vĩ đại thời kỳ đó. Học giả Jean Bouchot, cuối thế kỷ 19 đã viết: “Trương Vĩnh Ký là một nhà bác học duy nhất ở Đông Dương và cả với nước Trung Hoa hiện đại. Người dân hoàn toàn Nam Kỳ ấy đã sánh kịp với các nhà thông thái xứng đáng nhất của Âu châu trong đủ ngành khoa học…” Émile Littré, nhà văn Pháp, năm 1862 đã viết: “Trên trái đất này rất khó tìm ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Ký. Gặp người Anh, Trương Vĩnh Ký nói bằng tiếng Anh nhuần nhị như người Luân Đôn. Tiếp xúc với người Ý Đại Lợi, người Y Pha Nho, người Bồ Đào Nha… hay người Nhựt Bổn, Mã Lai, Xiêm… Trương Vĩnh Ký đều nói đúng theo âm luật của kinh đô nước đó… Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học vào bậc nhất của thời nay.”

Nhưng buồn thay, con người chẳng màng chính trị này đã bị vùi dập ngay chính quê hương mình.

Ngôi nhà mồ của ông, cũng do chính ông xây đã nói lên nhiều điều. Mộ của ông chỉ là một phiến đá hoa cương vàng nhạt nằm ép sát mặt đất trên có giòng chữ: “Ci-git J.B Truong Vinh Ky Professeur de Langues Orientales Décédé J le 1er Septembre 1898 dans sa 62 année” (Nơi an nghỉ J.B Petrus Trương Vĩnh Ký. Giáo sư ngôn ngữ Đông phương. Mất ngày 1.9.1898, thọ 62 tuổi). Tôi lại nhớ đến mộ phần của một con người cũng khiêm cung như ông, Bác sĩ Yersin. Mộ phần ông cũng bằng phẳng đơn sơ thế này ở vùng hoang vắng Suối Dầu Nhatrang. Dấu ấn ghi lại thời gian hoàn tất trên nóc nhà mồ “Decembre 1898”, chỉ cách ba tháng sau khi ông chết.

Cửa phụ lại là cửa chính ngày nay, hướng đường Trần Hưng Đạo, nhà mồ ghi một dòng chữ Latin: “Miseremini Mei Saltem Vos Amici Mei” (Xin hãy thương xót tôi, hỡi các anh chị là những người bạn tôi), câu này trích từ Cựu ước theo Thánh Job 19:21-27 thuật lại việc bị Thương đế và loài người ruồng bỏ: “Xin thương tôi, xin thương xót tôi, hỡi các anh là những người bè bạn, vì chính tay Thiên Chúa đã đánh tôi! Tại sao các anh bắt chước Thiên Chúa, mà đi săn đuổi tôi, và vẫn chưa no nê với máu thịt của tôi sao? Ôi, những lời tôi nói đây, phải chi có người chép lại, phải chi có người ghi vào sách, có người đục bằng sắt, trám bằng chì, tạc vào đá cho đến muôn đời!….” Lời khẩn van sao quá bi thống của nhà học giả cả đời chỉ biết dùng văn tải đạo. Với hơn 120 tác phẩm để đời đã khiến ta có thể cúi đầu ngưỡng phục một học giả tiên phong thời phôi thai chữ quốc ngữ. Chưa nói ông là chủ biên đầu tiên của tờ Gia Định Báo của nước nhà. Hai câu đối hai bên cửa là:

Lưu bì văn dự dị thiên địa
Ủy thế linh thần tại tử tôn

Nghĩa là:

Tiếng thơm ngưng đọng trong trời đất
Ý chí lưu truyền tại cháu con
(Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường)

Hai cánh cửa hướng sau và hông đường Trần Bình Trọng cũng là hai giòng chữ Latin. Mặt sau là “OMNIS QVI VIVIT ET CREDIT IN ME NON MORIETUR IN AETERNVM, E.v.s jean”. Câu lấy trong Ego sum resurreectio et vita nói về sự phục sinh và sự sống: “qui credit in me, etiam si mortuus fuerit, vivet/et omnis qui vivit et credit in me, non morietur in aeternum” (Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin ta sẽ sống đời đời). Mặt trước, hướng Trần Bình Trọng, nay đã đóng kín cửa ngoài có giòng Latin: “Fons Vitae Eruditio Possidentis” (Tri thức là nguồn sống cho ai sở hữu nó), và đôi câu đối:

Văn chương hồi địa trục
Khí phách quán thiên đường

đã nói lên khí phách của ông.

Chúng tôi dự định vào thắp cho ông một nén hương tưởng niệm tại bàn thờ của nhà bên hông, nhưng thật tiếc, ngôi nhà ấy đang trong thời kỳ dọn và sửa sang lại nên chỉ đành lấy tâm tưởng nhớ ông. Nói ngày giỗ của ông tổ báo chí thì cháu gọi bằng cố tại khuôn viên này cũng không hay. Đa số những người làm báo đều không biết. Ô hô, thương thay cụ Pétrus Ký.

Những giòng chữ bi thống, những niềm tự hào ẩn giấu sau các câu đối của lăng mộ ông đã lẵng lặng kể lại nỗi niềm. Như ông, chỉ ngậm ngùi và không biện minh cho mình điều gì. Tôi chợt nhớ lại câu đối của Nguyễn Phúc Ưng Thiều (1893-1975), cháu đích tôn của Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh, đắp trên cổng trường Pétrus Ký:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt
Tây Âu khoa học yếu minh tâm

Tam cương, ngũ thường nên khắc vào xương cốt
Khoa học Âu Tây cần phải ghi tạc vào lòng

Đem chính sự áp đặt lên những nhà khoa học rõ quá cay nghiệt. Nước non mình bao giờ mới biết đứng lên bước tới sánh cùng năm châu bè bạn, hay chỉ một lòng thù hận mãi khắc ghi ?

Đặng Châu Long
16-08-2016
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.