Tản bộ ban mai

Posted: 17/01/2017 in Khổng thị Thanh-Hương, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Khổng thị Thanh-Hương

khong_thi_thanh_huong

Những ngày không tình nguyện tại Viện Dưỡng Lão, chúng tôi rủ nhau đi bộ sau khi uống xong ly cà phê. Sáng nay chàng hỏi, “Mauka hay makai/Lên núi hay xuống biển?” Rút bàn tay khỏi túi áo ấm, tôi chỉ về phía trái. Thế là hai đứa đi bộ lên phía đỉnh đồi con đường làng Ka’ie’ie. Trời mùa đông bên Đảo Lớn năm nay lạnh hơn năm ngoái, lạnh đủ để dân hải đảo giở áo ấm ra mặc. Chiếc áo len mầu đỏ có mũ tôi mang theo gần hai năm trước, nay chỉ đã xoạc vài đoạn nơi cổ áo và mầu bên ngoài đã nhạt hơn bên trong.

Mới bước xuống con dốc cách nhà chỉ vài chục bước, lòng tôi cảm thấy sảng khoái chi lạ. Ngụp lặn trong bầu không khí trong lành của con đường làng, tôi cảm thấy hạnh phúc làm sao, dù chỉ là một nỗi vui nho nhỏ. Nhỏ nhoi như khi thấy kim đồng hồ xăng đã chuyển từ “E” về “F” từ bao giờ; như khi thấy chàng đứng trong bếp, chăm chú làm sandwich cho hai đứa ăn trưa, khi tôi đi Lễ về; như khi nghe tiếng mẹ khỏe chứ không yếu ớt như hôm trước; khi thấy số phôn của gia đình hiện lên trên màn ảnh điện thoại; khi nghe tiếng một người bạn từ bên kia bờ đại dương, đã nhớ tới kẻ ở bên này hay khi nghe tiếng chim kêu chíu chít trong vòm cây.

Nếu nhân cách hóa được vạn vật chung quanh, tôi có thể cảm được niềm vui của tia sáng mặt trời trên biển, luồng gió mát mơn trớn trên má, trên môi, tiếng dế chưa hoàn toàn tỉnh giấc, tiếng đàn bò ới nhau gọi đàn từ trên đỉnh đồi, tiếng gà cục tác xa xa, tiếng dê be be trong sân nhà Heidi và tiếng heo con tìm mẹ trong lùm cây. Để phụ họa với nỗi vui đồng nội trong buổi sáng tinh sương, đàn chim ríu rít rủ nhau đi tìm mồi, dòng suối lúc róc rách, khi ầm ầm (tùy theo vị trí của suối khi chảy theo đường làng) hơi nắng ấm trên lưng và ngay cả bóng của hai đứa ngả về phía trước, dường như cũng đang cùng hòa tấu bản nhạc tôi đặt tên là “Hạnh Phúc”.

Vì trời khô ráo nên tôi thấy được mặt trời như một qủa cam bằng lụa điểm vàng 24K óng ánh, bao phủ một vùng biển của Vịnh Hilo. Khí lưu huỳnh từ núi lửa quyện vào không gian khiến mây có thêm mầu vàng cam ấm áp và tươi thắm.

Trên nền trời xanh lốm đốm từng cụm mây trắng, nhìn như ai đó đã tinh nghịch ngắt từng nhúm kẹo bông gòn rồi thẩy tung lên không gian. Con chuồn chuồn cánh cam bay lượn trên bụi gừng Costus Comosus cánh đỏ, bông vàng như những con két hai mầu vàng đỏ chu mỏ tò mò nhìn khách bộ hành. Ngay cả đôi chim Nghệ Saffron cũng cam đậm hơn thường ngày. Những trái cam, trái quýt góp phần với mầu cam của biển, của mây. Sáng nay, mầu cam làm chủ cảnh vật. Sự khám phá này khiến tôi nhớ tới bộ phim truyền hình Orange Is the New Black năm nào.

Trời đêm qua không mưa cho nên đường làng khô ráo. Tôi không phải thật thận trọng, dọ dẫm từng bước ngắn trên đường làng trơn ướt, điểm nhiều viên đá nhỏ và hột hoa, tưởng ngây thơ vô tội, nhưng có thể làm bước chân ai lỗi nhịp, trợt té. Bầy chim tôi đặt tên Peeps (như kẹo marshmallow Peeps bầy bán vào mùa Phục Sinh) nhỏ bằng nửa con gà con, đang đong đưa trên những ngọn cỏ oằn mình chịu đựng; những bông Bụt đỏ không ngượng ngùng khép kín như trong ngày mưa, đang lung lay trong gió như những viên pháo đại nổ bung vào ngày Tết.

Vừa đi, tôi nhìn cảnh vật hai bên đường. Ngang tầm mắt là những qủa ổi chín mọng như đang mời gọi, từ khu vườn nhà John và Christine. Dù John khuyến khích “muốn hái bao nhiêu thì hái,” tôi chặc lưỡi tiếc của vì ổi nằm tuốt phía sau một dẫy bụi cây rừng không tên, bên cạnh nhóm cỏ sắc như dao lam và đám hoa mắc cở đầy gai bé tí bằng đầu kim. Thêm vào đó, những tảng cỏ đuôi chồn, cỏ lau cao hơn đầu người nằm kế bên một rãnh mương càng ngày càng rộng vì mưa mấy tuần liên tiếp. Bù lại cho việc hái ổi vườn nằm ngoài tầm tay, tôi nhờ chàng bứt cho vài qủa ổi rừng, đang bắt đầu chín vàng. Ổi rừng to bằng đầu ngón chân cái, thơm và có vị ngọt. Vào mùa ổi, lúc nào đi bộ tôi cũng có năm sáu qủa trong tay. Lau sơ lên áo, tôi vừa đi vừa thưởng thức những qủa ổi thơm, trong khi các giác quan khác làm việc không ngừng.

Tâm hồn và thể xác tôi đổi mới mỗi khi bộ trên con đường làng nằm trên núi lửa Mauna Kea này. Thính giác và thị giác là hai giác quan được no đầy nhiều nhất. Đôi tai tôi như được gắn thêm một máy khuếch đại âm thanh để nghe rõ tiếng suối chảy ào ào dưới vực sâu, như dòng xe cộ; tiếng chim ó Hawaiian đập cánh “phùm phụp, phùm phụp” trên không, đang tìm mồi; tiếng kêu quen thuộc của đàn Peeps trong lùm cây ở giữa cánh đồng, tiếng ếch coqui “cồ kí, cồ kí” trong vòm cây, sát đường làng; tiếng ếch to bằng hai bàn tay, kêu “ồm ồm” như thiền nhân; tiếng máy bay trực thăng chở du khách đi coi thác nước hay núi lửa. Một khúc đường làng được ướp đẵm mùi hương của Pikaki, một loại hoa từa tựa hoa Nhài bên ta và mùi ngai ngái của đất, vì mới bị lật lên bởi lũ heo rừng đêm qua, khi chúng xới lên để tìm sâu, ốc hay củ.

Hôm nay gió Mùa đã trở lại. Cây cỏ như thêm sức sống. Những ngọn dừa, ngọn tre, ngọn trúc, khuyng diệp, cây Vong, cây Ngọc Lan rủ nhau lắc lư, xột xoạt trong gió. Hình như có đứa chế ra một điệu vũ mới để đón gió Mùa. Gia đình nhà nhện, từ mái hiên tầng trên, đong đưa theo gió, đang cố sức bám chặt vào những sợi giây tơ mỏng manh nhưng dính chặt như keo. Nhìn như một nhóm người đu giây thiện nghệ trong gánh xiệc, chúng đáp xuống những cành cây Hapu’u phía dưới, tiếp tục công trình thêu tơ liên lỉ. Những sâu bọ, côn trùng rơi vào bẫy nhện, trông giống những viên ngọc đính trên một chuỗi vòng đeo cổ, làm nữ trang cho một người con gái, chuẩn bị xiêm y đi dạ vũ.

Những hình ảnh và tiếng động quen thuộc này đưa trí tôi trở về buổi sáng sớm tinh mơ hôm nào. Thức giấc vào khoảng ba bốn giờ sáng, chúng tôi chói cả mắt khi trông thấy ánh trăng đã lần theo song cửa sổ để vào phòng từ bao giờ. Sẵn dịp, hai đứa thay áo ấm, mang theo cái đèn pin để đi dạo dưới ánh trăng. Đây là một kinh nghiệm đầu tiên, kể từ ngày dọn sang Đảo Lớn. Ánh trăng bao trùm vạn vật. Những ngọn cỏ, ngọn cây như tắm bạc. Mặt đường lóng lánh như được rọi sáng bởi một ánh đèn từ cung điện Hằng Nga. Dưới ánh trăng, khung cảnh đêm-chưa-qua-ngày-chưa-tới mang một sắc thái thật lạ lùng. Những bụi cây từ xa nhìn như những tấm hình ai vẽ trên giấy cạc-tông rồi cắt ra rồi ịn lên nền trời mầu bạc; những bụi cây chụm đầu vào nhau thành một tấm hình lập thể, đứng im lìm dưới ánh trăng; gốc cây Albezia, một loại cây mà tiểu bang đang cố gắng diệt vì hại những thực vật chung quanh, đã bị tôi dùng dao răng cưa cứa đứt hôm nào đã không thấy đâu, vì gốc nằm sâu dưới đám cỏ mới; tiếng sột soạt của tàng gừng bên đường như có ai đi bên cạnh, ngoài chàng!

Trong những buổi đi bộ trên đường làng, dù vào buổi sáng sớm, hay dưới ánh trăng hoặc khi mặt trời đã lên cao, bao giờ chúng tôi cũng khám phá ra điều mới lạ. Một con giun đầu tam giác (khi bị đứt sẽ sinh sôi nẩy nở như sao biển,) mầu hoa tím tôi chưa thấy bao giờ, tiếng hót lạ của một loài chim hay một tảng rêu trông như một miếng thảm cũ, mọc chơ vơ trên mui chiếc xe ủi đất bỏ hoang. Những con chim này, những cánh hoa kia có thể đã hiện diện bên con đường làng, để cùng muôn vàn thọ tạo ngày đêm “hát mừng Đấng Tạo Hóa.” (Lời Bố tôi.) Chỉ có tôi là người không nhận ra sự có mặt của chúng mà thôi.

Khổng thị Thanh-Hương
Nguồn: Tác giả gửi bài và ảnh

Đã đóng bình luận.