Từ Bùi Ðoàn “Le Silence de Mon Père” đến ca khúc “Bonjour Vietnam”

Posted: 13/02/2017 in Nguyễn Mạnh Trinh, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Nguyễn Mạnh Trinh

cover_le_silence_de_mon_pere

Những nhà văn Pháp gốc Việt đã gây được nhiều sự chú ý của văn giới Pháp. Từ Kim Lefevre với Metisse Blanche, đến Linda Lê với Lame Du Fond, đến Nguyễn Hoài Hương với L’ Ombre Douce và bây giờ năm 2016, với Bùi Ðoàn, và “Le Silence de Mon Père”.

Cô phóng viên khả ái gốc Việt của tuần báo Pháp nổi tiếng L’Obs đã ra mắt tác phẩm mới này do nhà xuất bản L’Iconoclaste phát hành. Cũng chính cô phóng viên này đã đoạt giải Albert Londres 2013 với loạt phóng sự đăng trên báo Nouvel Observateur về hành trình của những người ti nạn vào Âu Châu qua biên giới giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp. Năm 2016 cô đoạt giải Amerigo-Vespucci với tự truyện Le Silence De Mon Père. Và cũng với tác phẩm ấy đoạt giải Porte Dorée vinh danh bởi Viện Bảo Tàng về di dân Pháp.

Giải thưởng Albert Londres với loạt bài “Les Fantômes du Fleuve” đăng trên tuần báo Nouvel Observateur lột trần những sự kiện bi thảm của thế kỷ 21 đánh động đến lương tâm nhân loại. Người Việt tị nạn có lẽ không bao giờ quên được những cái chết của thuyền nhân trên vùng biển Thái Bình Dương. Ðoàn Bùi cũng là người Việt tị nạn nên đã thật cảm xúc khi viết về những người tị nạn vào Âu Châu qua cửa ngõ giữa hai nước Thổ –  Hy Lạp. Cô viết về những bức tường ngăn chận người tị nạn. Cô cũng viết về những xác chết dạt vào bờ biển của những người lưu vong. Những chuyến hải hành đầy sóng gió của những người đi tìm lẽ sống. Nhưng cũng là lợi nhuận béo bổ của những kẻ buôn người vô lương tâm, một vết nhơ khó rửa trong lịch sử loài người. Ðoàn Bùi đã xuất sắc để làm sống lại những bi kịch.

Giải thưởng Porte Doreé (Cánh Cửa Vàng) mỗi năm đều chọn ra một cuốn tiểu thuyết hoặc một tập truyện ngắn viết về đề tài của những người di dân lưu vong. Ðoàn Bùi là tác gỉa thứ bảy đoạt giải.

Trong tác phẩm, cô kể lại và phác họa lại một hành trình đặc biệt của một gia đình người Việt tị nạn sinh sống ở Pháp. Cuốn tiểu thuyết tự truyện này là dịp để tác gỉa tìm hiểu thêm về nguồn gốc của mình và cũng là dịp để thấu đáo thêm về hai nền văn hóa Ðông Tây Việt Nam và Pháp.

Cô đã tâm sự: “Tính cách con người tôi được hình thành qua sách vở. Viết văn là một điều phi thường đối với tôi, một công việc hầu như là thiêng liêng và đó cũng là một thứ mà tôi không thể nào với được tới. Ðó là “một cái gì đó chỉ để dành cho người Pháp bản xứ.. Thế mà, viết văn đã trở thành một nghề nghiệp chính của tôi. Giải thưởng này, tôi xem nó như một sự nhận lại, theo nghĩa là sự hiểu viết thêm một lần nữa.”

Le Silence de Mon Père là một thiên tự truyện mà tác giả là một thiếu nữ Việt Nam lớn lên và trưởng thành ở Pháp. Ở trong những đoạn kể chuyện ấy, tác giả đã lồng vào trong nội dung nhiều thể loại, có khi là những hồi ký, có khi là những đoạn văn có tính điều tra nhiều chất trinh thám, có khi là những đoạn nghiên cứ lịch sử. Nhưng sau mỗi nhân vật, mỗi tự sự, là sự sống động tạo nhiều thân quen cho độc giả. Là chính tác giả, hay là cha mẹ của tác giả, nhiều khi độc giả có cảm giác là người trong cuộc và cái riêng tư ấy nhiều khi lại trở thành nét chung mang của nhiều người tị nạn.

Lưu lạc xứ người, làm lại cuộc đời với bàn tay trắng, cái nỗ lực để hội nhập được thúc đẩy bằng nhiều ước vọng. Và với ước vọng đó họ đã vượt qua những trở ngại để làm tốt hơn cuộc sống tinh thần cũng như vật chất. Là cha, là mẹ, ước vọng các con lớn lên và thành công ở xứ người là mục đích của cuộc sống. Nhưng, ở đời sống quá nhiều dị biệt và rào cản đã tạo nhiều xung khắc trong gia đình.

Bùi Ðoàn đã diễn tả thật trung thực những hoàn cảnh ấy. Những suy nghĩ khác biệt giữa hai thế hệ tạo thành những bất đồng khó vượt qua. Rồi cha mẹ nói tiếng Việt trong khi con cái nói tiếng Pháp cũng lại là một rào cản hiển nhiên. Rồi những phản ứng trước đời sống của cha mẹ và con cái cũng khác nhau. Những xung đột có khi ngấm ngầm có khi rõ nét trong đời sống hàng ngày.

Trong gia đình của Bùi Ðoàn che dấu những bí mật mà cô gọi là “động trời” khi đi tìm quá khứ của gia đình, một hành trình mà cô nghĩ là vô vọng và gậy ra nhiều dằn vặt nội tâm. Thực ra, đó chỉ là những điều mà có khi mọi người đều biết nhưng chỉ những người trong cuộc lại không hay. Bùi Ðoàn là chị cả trong nhà. Cô sinh vào năm 1974 nên có những bí mật mà cô không biết và có thể sẽ vào quên lãng vĩnh viễn nếu cha cô không bị tai biến mạch máu não và ngậm ngùi sống trong câm lặng khi tuổi đời mới 68 tuổi. Cô lúc nào cũng luôn suy nghĩ về chân dung của cha mình, một người rất gần gũi mà cũng rất xa cách và nhiều điều không hiểu thấu.

Trong khi kể chuyện, Bùi Ðoàn đã viết: “Tôi cho rằng đối với mỗi người con trong mỗi gia đình thật khó biết được rõ ràng chân dung của người cha vì làm sao chúng ta biết được cuộc sống của ông lúc chúng ta chưa ra đời. Ví dụ tôi nghĩ ông là một người luôn nhớ tới những kỷ niệm về quê hương. Tôi luôn nghĩ là ông hối hận là không thể trở về được Việt nam mà ông yêu dấu ấy. Ðúng là ông đau khổ vì cuộc sống tha hương lưu lạc này. Nhưng ngược lại, có một ẩn số trong đời ông mà tôi không biết khi ông vừa đặt chân lên xứ người là nước Pháp. Lúc đó ông còn rất trẻ mới có 20 tuổi. Tâm trạng ấy có thể là sự phấn chấn mừng rỡ khi khám phá ra một đất nước mới, một quốc gia tân tiến và có thể ông đã chọn sự ở lại và tạo dựng đời sống mới. Nhưng điều này thì bây giờ tôi không thể hỏi và cha tôi không thể giải đáp thắc mắc ấy cho tôi biết được nữa.

Khi đi làm phóng sự về người nhập cư tôi đặt rất nhiều câu hỏi với những người nhập cư tị nạn từ Syria, Algerie, Maroc hay Mali. Thế nhưng những câu hỏi như vậy tôi chưa bao giờ đặt lại với cha mình. Có thể vì các con ông không cùng chung tiếng nói và có thể có những chuyện sẽ dễ dàng cảm thông khi chia sẻ với nhau bằng cùng một thứ ngôn ngữ.

Tôi tự hỏi về nguồn gốc của mình đúng lúc cha tôi bị bệnh tai biến mạch máu não. Khi ông bị hoàn toàn câm lặng cũng là lúc tôi sinh ra đứa con gái đầu lòng. Tôi muốn truyền lại câu chuyện này và tôi muốn các con mình tự hào là người Việt Nam. Nhưng tôi lại không thể kể lại bằng tiếng Việt vì chính bản thân tôi cũng đã quên tiếng nói này…”

Cha của Bùi Ðoàn cũng đã phải hết sức nỗ lực trong cuộc sống ở xứ sở xa lạ này. Những năm của thập niên 1960 ghi dấu những nỗ lực học tập và bắt đầu để thành lập một gia đình sống trên xứ Pháp. Ðến năm 1975 thì cắt đứt hoàn toàn với đất nước và giấc mơ trở về không thực hiện được. Gia đình ông gồm vợ chồng và năm đứa con để hòa nhập tốt hơn với xã hội Pháp đã di chuyển về vùng Le Mans, nơi mà gia đình họ Bùi là những người Á Ðông đầu tiên đến lập nghiệp và sinh sống. Dĩ nhiên sự khác biệt về nhân dáng rất dễ nhận ra với cặp mắt xếch và dáng người bé nhỏ. Nhưng những đứa trẻ họ Bùi không phải là những người dễ bị bắt nạt ngay khi ở ngoài phố. Một câu nói mà những đứa con thuộc nằm lòng khi xử thế là: “Nếu họ trêu chọc, các con hãy nói với họ rằng lòng đỏ trứng gà ngon hơn lòng trắng.” Ý nói mầu da vàng ngon hơn mầu da trắng. Nhưng lời khuyên ấy không thuyết phục được những đứa con nhà họ Bùi. Bùi Ðoàn đã nhớ lại và kể như thế trong thiên tự truyện này. Cô vẫn muốn thành một người Pháp nói trôi chảy một thứ ngôn ngữ thông dụng của cuộc sống với mọi người.

“Tôi vẫn nhớ như in một kỷ niệm về tiếng Việt khi còn nhỏ. Tôi muốn mình giống như các bạn Pháp cùng lớp. Một lần cha tôi nói tiếng Việt và tôi nhìn thấy người Pháp qua đường ngoái lại nhìn. Tôi xấu hổ vô cùng vì tôi không muốn người ta tò mò quay lại nhìn chúng tôi.

Dĩ nhiên là khi lớn lên tôi lại cảm thấy xấu hổ vì đã xấu hổ với tiếng Việt, ngôn ngữ của cha mẹ mình, tiếng nói của đất nước mà tôi xuất thân. Bây giờ khi nhìn lại quá khứ tôi xấu hổ vì không biết nói tiếng Việt, vì không thể trả lời bằng tiếng Việt, trong khi tôi là người Việt Nam.”

doan_bui_2
Bùi Ðoàn

Bùi Ðoàn kể lại trong trường học ở Pháp, mấy đứa con trong gia tộc họ Bùi đều thông minh và học rất nhanh rất sáng. Các môn học nhất là môn toán theo gien cuả gia đình nên chiếm phần xuất sắc. Họ đã tưởng tượng ra những tương lai rực rỡ, tốt nghiệp từ những trường Hành Chính Quốc Gia để theo đuổi nghiệp chính trị hay các trường Bách Khoa nổi tiếng. Mà người mơ ước tương lai cho các con chính là người mẹ. Bà mẹ của Bùi Ðoàn là người “dám giết người vì các con”. Giống như những gia đình Việt kiều ở lâu trên đất Pháp bà không muốn gia đình mình bị coi là thuộc lớp người “thuyền nhân boat people” sang Pháp sau. Là một phụ nữ trí thức, can đảm và đầy cá tính nên đóng vai ngươì chủ gia đình cả về đối nội lẫn đối ngoại. Do đó, bà đã lấn át vai trò của người chồng, người cha trong gia đình. Ông cha thì thường xuyên bận rộn vì công việc ở sở, luôn luôn về trễ nên ít có thời giờ để ý đến công việc trong nhà.

Bùi Ðoàn viết: “Trong một thời gian dài tôi muốn được là con gái của mẹ nên tôi trở nên xa cách với cha hơn và ít quan tâm đến những chuyện bên nội. Còn mẹ tôi gần gũi với chúng tôi sẵn sàng bảo vệ che chở cho con cái. Vì bà muốn điều tốt đẹp nhất cho con cái là thành công trong trường học và xã hội Pháp. Bà đã không bắt buộc chúng tôi học tiếng Việt. Chính vì vậy chúng tôi đã có những kết quả học hành tốt đẹp và dễ dàng hòa nhập vào đất nước Pháp nơi chúng tôi bắt đầu gây dựng cuộc sống riêng của mình.

Ðây cũng là một lý do giải thích sự phân chia vai trò trong gia đình chúng tôi. Cha tôi được cho là người luôn buồn nhớ quê hương, luôn thiên về truyền thống người Việt và gắn bó với Việt Nam hơn. Trong khi đó mẹ tôi lại là hiện thân của một bà mẹ Pháp của nếp sống hội nhập của tương lai mà bà đã phác họa và gây dựng cho cả gia đình mình.

Trái với tính tình của mẹ tôi thích nói chuyện, cha tôi là một người trầm lặng ít nói. Nghề nghiệp của ông trong bệnh viện phân tích những tế bào ung thư tạo cho ông một thói quen suy nghĩ hơn là nói và chỉ nói khi cần thiết như kết luận một vài điều gì chẳng hạn. Có lẽ thói quen nghề nghiệp đã tạo ra tính tình trầm lặng ấy mà cũng có thể là do những xung đột văn hóa, xung đột giữa các thế hệ và ca ûvới qúa khứ mà ông đã bỏ lại ở quê hương.

Với tôi gần như những lý do này giải thích sự im lặng của ông. Sự im lặng của ông cũng là do chúng tôi, những đứa con của ông đã gây ra. Vì bất đồng ngôn ngữ. Trong suốt thời gian trưởng thành tôi đã đi ngược lại với cha tôi một cách vô thức, chống lại ngôn ngữ của cha mẹ mình để hòa nhập vào xã hội Pháp và để trở thành một người Pháp thực thụ như những người khác. Ðây chính là sự chia rẽ, Cha tôi nói tiếng Pháp vói giọng người Việt hay chúng tôi chỉ trả lời ông bằng tiếng Pháp. Chính vì muốn hòa nhập và trở thành người Pháp thực thụ mà chúng tôi từ chối bản sắc Việt Nam.

Sự im lăng của cha tôi, tôi nghĩ rằng là do lịch sử của đất nước, lịch sử của gia đình với nhiều nỗi đau trong quá khứ. Và chúng tôi thường không nhắc đến những chuyện đau buồn hay phức tạp. Chính vì vậy ông buộc phải im lặng về lịch sử gia đình. Và những sự kiện xảy ra ở Việt Nam và việc ông phải đi tị nạn phải sống tại Pháp. Và có một danh tính ngoại quốc hoàn toàn mới cũng buộc ông im lặng.”

Cha mẹ của Bùi Ðoàn sau này cũng có trở về Việt Nam để thăm lại quê hương. Và chính Bùi Ðoàn cũng có về quê nhà để làm thiên phóng sự về Ðiện Biên Phủ và cũng là một dịp để tìm hiểu điều tra về quá khứ của người cha. Trong chuyến đi năm 2014 cô cảm thấy rất đơn độc khi về quê nội.

Cô viết: “Tôi chỉ có một mình và tôi muốn cha mẹ tôi cũng có mặt ở đó với tôi đến là nhường nào… nhất là khi tôi về ngôi làng nơi ông bà của cha tôi được an táng. Và tôi chắc rằng cha tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy những mộ phần này tự nhiên tôi nhớ cha tôi vô cùng. Tôi là người đầu tiên trong gia đình đến thắp hương cho ông bà và tôi tự hứa: “Phải đưa cha tôi đến đây để ông có thể thắp hương tổ tiên ông bà, điều mà trước đây không làm được do nhiều biến cố lịch sử của đất nước.”

Vì thế Bùi Ðoàn tổ chức một chuyến về thăm quê hương cho cả ba thế hệ. Thế hệ mà Bùi Ðoàn gọi là “đầu gà đít vịt” một chỉ danh khá ngộ nghĩnh chỉ hai đứa con gái lai Âu Á của cô thế hệ “chuối” mà Bùi Ðoàn là đại diện. Ðây là cách so sánh để chỉ những đứa con Châu Á sinh ra tại Pháp, bên ngoài thì vàng như vỏ chuối nhưng bên trong thì ruột trắng. Ðã có rất nhiều Việt Kiều Pháp mang phong cách hoàn toàn Pháp trừ mỗi khuôn mặt và một chút giáo dục theo Á Ðông.

Chuyến đi ấy đã hòa giải được những xung đột những bất đồng cả những bí mật mà Bùi Ðoàn gọi là “bí mật động trời”? Cha mẹ cô đã có thể chỉ cho các cháu quê hương của họ, những nơi mà họ đã từng sinh sống. Dù cha mẹ không tìm lại đất nước mà họ biết trong những năm từ 1960. Dù họ đã còn rất bỡ ngỡ trước sự thay đổi không ngờ đến của đất nước. Riêng Bùi Ðoàn vẫn thấy được sự nhẹ nhàng và nguôi ngoai trong lòng với lịch sử của đất nước và lịch sử của gia đình. Cô kết luận chuyến đi ấy đã làm lành với quá khứ và làm cầu nối tương lai cho thế hệ sau của cô…

Nhưng có thật trở về thăm quê hương có phải là một phương cách hòa giải như Bùi Ðoàn viết?

Nhiều người trở lại Việt nam nói bây giờ cảnh và người thay đổi nhiều lắm. Nếu muốn đi tìm kiếm lại cảnh cũ thì khó lắm, hầu như không thể nào. Thành ra, có người trở về nhiều lần nhưng những hình ảnh hiện tại chỉ nhắc nhở đến quá khứ đã xa, kỷ niệm đã mất.

pham_quynh_anh_2
Phạm Quỳnh Anh

Bonjour Vietnam; Nhạc và lời: Marc Lavoine; Tiếng hát: Phạm Quỳnh Anh

Mấy ngày nay, tình cờ, tôi được nghe một ca khúc, và cái cảm giác như sóng vỡ bờ ấy đã làm tôi thẫn thờ trong giấc mộng du nào. Như một “người đi trên mây”, đọc một bái báo có hình ảnh của con đường cũ, đã rung động. Thế mà, nghe bản nhạc của một người ngoại quốc viết về quê hương mình, do một thiếu nữ Việt Nam nhưng phát âm Pháp ngữ rất chuẩn, lại bồi hồi và xao xuyến gấp bội. Những điệp khúc, như lời thiết tha. Những ngôn ngữ như lời thầm thỉ. Dù rằng những hình ảnh như chiếc trực thăng cuồng nộ trên bầu trời làm tôi thấy có một điều gì lấn cấn trong tâm. Cái hình ảnh tuyên truyền của những người phản chiến thiên Cộng ấy đã thành một hình ảnh tiêu biểu cho chiến tranh chăng? Sao không có những hình ảnh khác như hầm chôn người ở Huế, hay đại lộ kinh hoàng ở Quảng Trị…? Nhưng cảm giác ấy thoáng mau bởi vì người viết lời là một người ngoại quốc, không có tâm thức và trái tim Việt Nam.

Lời của Bonjour Việt Nam có nét bình dị nhưng nói lên được cái tâm cảm nhớ nhung quê hương của những người xa xứ. Có thể nói tuy Marc Lavoine là người ngoài nhưng như mang tâm cảm của người ở bên trong đã sống cùng, đã thở với và chung nỗi niềm.

Trường hợp Marc Lavoine và “Bonjour Việt Nam” cũng là một tiêu biểu. Dù bản nhạc chưa được hoàn chỉnh lắm theo như tác giả, nhưng khi được Phạm Quỳnh Anh hát thì được ngưỡng mộ rất nhiều. Ít có bản nhạc gây ra tâm cảm phấn khích cho người nghe như thế. Vào web- site Google.com, search ở Phạm Quỳnh Anh, tôi down load và in ra tới gần cả trăm trang những nhận xét của mọi người bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Tất cả như cùng chia sẻ với người viết nhạc và người trình bày nhạc một tâm cảm lạ lùng, của những nỗi niềm mà khi nghĩ lại, giống cá nhân tôi. Nghĩa là, của một đại dương bề mặt thì yên tĩnh nhưng ở bề sâu dưới đáy thì lại cuồn cuộn vỡ bờ. Không hẳn là tình hoài hương, cũng không hoàn toàn là những lời than trách, nhưng trong âm điệu, có một điều gì trong veo, của tình tự dân tộc sâu lắng xuống, thành cung bậc làm cho thăng hoa những suy tư, những liên cảm.

Ðiệp khúc “Un jour, j’irai là bas” (Một ngày nào, tôi sẽ trở về nơi chốn đó) nhắc đi nhắc lại thật đã trong không gian chùng xuống những giây thần kinh rung động. Nghe đi nghe lại, vẫn chưa chán, mà đôi khi, còn làm kéo dài thêm cái giây phút của một người còn nuối tiếc một điều gì linh thiêng lắm mà nhất thời chưa định hình được. Lời nhạc lôi vào một cảnh thổ nào, tuy quen thuộc nhưng vẫn thấy hấp dẫn bởi những bất ngờ sẽ gặp, sẽ đến. Lãnh thổ của những người thích chơi vơi, phiêu lưu trong cái bềnh bồng của quá khứ lung linh trong tâm tư. Nghe Phạm Quỳnh Anh hát, tưởng như một người của một xứ nói tiếng Pháp hát, nếu không có chữ Việt Nam với phát âm nghe rõ dấu nặng của chữ Việt. Nhưng lại có một cảm giác xen vào, nếu nghe Phạm Quỳnh Anh, một cô bé sống và lớn lên ở xứ người mà hát được bằng ngôn ngữ Việt Nam thì hay biết bao! Dù rằng, cô bé ấy đã đi song hàng giữa hai nền văn hóa, giữa hai đời sống và hai ý niệm….

Marc Lavoine đã gửi gấm những điều gì trong nốt nhạc và ca từ của “Bonjour Viêt Nam”? Thực ra, từ hình ảnh, đến ngôn ngữ đều bình dị. Nguyên bản là:

Bonjour Việt Nam

Racontes moi ce mot étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née
Racontes moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses me dire
Je ne sais de toi que des images de la guerre
Un film de Coppola et des hélicoptères en colère.
Un jour j’irai là bas
Un jour dire bonjour à mon âme.
Un jour j’irai là bas
Pour te dire bonjour Việt Nam
Racontes moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds
Qui me porte depuis que je suis neé
Racontes moi ta maison, ta rue
Racontes moi cet inconnu
Les marchés flottants et des sampans de bois
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre
Un film de Coppola et des hélicoptères en colère.
Un jour j’irai là bas
Un jour dire bonjour à mon âme
Un jour j’irai là bas
Pour te dire bonjour Việt Nam
Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes perès
Les femmes courbées dans les rizières pour mes merès
Dand la prière, dans la lumierè revoir mes frères
Toucher mon âme, mes racines, ma terre
Un jour j’irai là bas
Un jour dire bonjour à mon âme
Un jour j’irai là bas
Pour te dire bonjour Việt Nam
Te dire bonjour Việt Nam.

Bản chuyển ngữ được phỏng dịch như sau:

Vẫy chào Việt Nam

Kể cho tôi nghe cái tên khó gọi
Khi nằm nôi thuở mới chào đời
Kể về những triều đình xưa cũ
Ðôi mắt xếch dấu vết một thời.
Nói rất nhiều những điều khó ngỏ
Khi Việt Nam hình ảnh chiến tranh
Những trực thăng lưng trời cuồng nộ
Phim Coppola khói lưả ngút quanh
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chào thân mến linh hồn quê hương
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chỉ một câu Việt Nam yêu thương
Nói với tôi màu da, mái tóc
Ðôi chân nhỏ từ lúc sơ sinh
Nói với tôi ngôi nhà thân thuộc
Những hẻm đường, làng mạc bao tình
Phiên chợ nổi họp trên sông nước
Thuyền tam bản trời đất lênh đênh
Sao chém giết vẫn hoài trí nhớ
Những đoạn phim khói phủ trời xanh
Những trực thăng lưng trời cuồng nộ
Quê mẹ tôi quặn thắt đoạn đành
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chào thân mến linh hồn quê hương
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chỉ một câu Việt Nam yêu thương
Tôi sẽ về ngôi chùa lạy Phật
Nguyện cầu thay cho người cha xa
Nhìn thiếu phụ khom lưng trên đất
Gửi ân cần lời mẹ thiệt thà.
Cùng nguyện cầu dưới vầng trăng tỏ
Ðêm anh em hội ngộ thiết tha
Dãi tấm lòng về nơi cố thổ
Ðất linh thiêng nguồn cội một nhà
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chào thân mến linh hồn quê hương
Một ngày nào tôi về chốn đo
Chỉ một câu Việt nam yêu thương.
Một ngày nào tôi về chốn đó
Chào Việt nam yêu dấu lạ thường.

Bản nhạc như thôi thúc một buổi trở về. Có một lời hứa hẹn. Tôi sẽ về. Sẽ về để thấy yêu vô vàn quê hương. Ðể thay người cha thắp nén nhang thơm lên bàn thờ Phật để nguyện cầu những điều tốt đẹp nhất. Ðể thay lời người mẹ, ân cần nhắc nhở tới những thiếu phụ gập mình dười đồng sâu, khổ cực một đời. Câu văn trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư vẫn còn âm vang: “Không có nơi nào đẹp bằng quê hương.” Dù rằng, quê hương ấy tả tơi vì bom đạn, vì khói lửa làm đen tối cả một khoảng trời. Chuyện chiến tranh bây giờ đã thành quá khứ, nhưng cái bóng đen ấy vẫn cón ám ảnh nhiều người. Vẫn còn những bi thảm tiếp tục. Vẫn còn những chia phân trong hồn người…

Riêng với tôi, cảm xúc đã tạo cho mình những câu tự vấn. Người đi? Người ở? Người về? Tôi có phải là người thật lòng yêu quê hương xứ sở không? hay chỉ là trong đầu môi chót lưỡi? Ai mà chẳng muốn về thăm quê nhà. Ai mà chẳng yêu đất nước và mong mỏi quốc gia hùng cường tân tiến? Thế mà, sao bây giờ, tôi chỉ tự hứa với mình. Sẽ có một ngày trở về. Còn bây giờ, thì chưa …

thuong_phe_binh-vnch
Thương phế binh VNCH

Gần đây tôi có đọc một lá thư của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn từ Việt Nam. Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:

“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh – những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Ðại Bàng, những Bắc Ðẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường… các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?

Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng, quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Ðại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễnh chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn 5 sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”

Ðọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…

Nghe nhạc Marc Lavoine với tình tự quê hương Việt Nam qua tiếng hát Phạm Quỳnh Anh, đã là những giây phút hạnh phúc tuyệt hảo hiếm có trong đời. Tôi như đã trở về quê hương tôi bằng tâm tưởng. Tôi ngỡ mình như một người trẻ tuổi trở về, thay lời cha lời mẹ cảm tạ đất nước. Tôi ngỡ mình đang trong hành trình về nguồn, dù có thể rằng mãi mãi tôi sẽ chỉ là người luôn ở lề đường, cả nơi mình lưu lạc xứ ngưới và nơi lạc lõng xứ mình. Tôi có thể quên đi một thời chiến tranh, của lúc mà anh em một nhà hằm hè chong mũi súng nghinh nhau bởi biết rằng tất cả chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến ủy nhiệm. Cái hình ảnh những chiếc trực thăng cuồng nộ bầu trời của nhạc Bonjour Việt Nam ấy hình như chỉ tượng trưng cho một phía. Còn nhiều hình ảnh khác, tượng trưng của bên kia, của cuộc chiến nhân dân tàn bạo, tuy chưa nhắc đến nhưng đã sẵn từ liên tưởng. Nghe đi nghe lại bản nhạc thấy thấm thía, cả nỗi buồn lẫn nỗi đau, cả hạnh phúc và thất vọng.

Ðọc lá thư, nghe bản nhạc, những suy tư xen kẽ nhau. Quê hương đẹp lắm, hãy về, hỡi người đã ra đi, lời nhạc thủ thỉ. Nhưng, người về, trở lại quê xưa, đừng làm người phản bội, đừng đóng vai tuồng áo gấm về làng, đừng cợt đùa trên nỗi đau người khác, bức thư nhắc nhủ. Người đi, người ở, người về? Thôi thì, cứ hãy bắt đầu một giấc mơ đẹp của người đi tìm lại hình bóng quê hương. Tôi bắt đầu nghe lại. Nhạc Marc Lavoine, giọng hát Phạm Quỳnh Anh. Bonjour Việt nam: “Un jour j’irai là bas. Un jour dire bonjour à mon âme. Un jour j’irai là bas. Pour te dire bonjour Việt nam. Te dire bonjour Việt Nam…”

Nguyễn Mạnh Trinh
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.