Linh Sơn Bửu Thiền Tự

Posted: 21/03/2017 in Mỹ Trí Tử, Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi

Mỹ Trí Tử

Linh Sơn Bửu Thiền là một ngôi chùa lâu năm của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Ngôi chùa này ngụ tít trên núi cao, thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành. Nếu đi từ Sài Gòn bằng xe khách đến thị trấn Phú Mỹ sẽ mất khoảng 1 giờ 30 phút. Từ thị trấn này đi xe máy khoảng 3 ki lô mét vào đến chân núi, rồi leo 1340 bậc đá mất khoảng 1 giờ 20 phút sẽ lên đến nơi.

Không khí ở đây trong vắt như đang ở một khu rừng rậm nào đó, mọi lo lắng ưu phiền chợt tan biến. Trước mắt là khu rừng cây um tùm, thấp thoáng đó đây là những am nhỏ dành cho các phật tử muốn tịnh tâm tu tập. Ngôi chùa chính nằm khiêm tốn như được bao bọc bởi tiếng chuông ngân nga giữa một không gian trầm mặc, êm đềm và lắng đọng.
Mọi hoạt động trên chùa đúng nghĩa với núi cao rừng sâu, nếu ai chưa quen hoặc không yêu sự tĩnh lặng thì khó mà vượt qua được những bậc đá này.

Đoạn đường leo lên những bậc đá, đến chùa Trung (không phải là ngôi chùa chính), thấy những chú khỉ đu từ cây này sang cây kia. Những cánh tay của chúng dẻo dai và thành thạo đến mê hoặc. Chúng đùa giỡn với nhau như đang làm xiệc, cùng nhau trao những ánh nhìn tinh nghịch. Trông chúng rất đáng yêu và hạnh phúc. Qua xong đoạn đó là tới Bạch Vân Động, những tàng cây rung lên từng đợt như đang chào đón mọi người. Vẫn là lũ khỉ, có cả những chú khỉ con, mặt mũi lanh lợi mà như có đượm vẻ hài hước.

Dù đang là mùa nóng bức nhưng nhìn nụ cười của chúng cũng làm tôi thấy đỡ mệt. Hoa quả trên núi mùa này không có mấy nên chúng có vẻ bị đói. Tuy vậy hình như chúng không hề chờ mong sự bố thí của khách đi đường.

Trong ánh chiều tà còn sót lại chút sắc vàng trên những chiếc lá non, tiếng chuông chùa điểm nhẹ lẫn vào không gian cô quạnh. Sau vài phút trò chuyện với sư thầy, tôi có được một chỗ ngủ lý tưởng trong khuôn viên chùa, nơi dành cho khách ghé thăm.

Có lẽ đây là đêm đầu tiên mà tôi được ngủ một giấc ngon đến như vậy. Sự tĩnh lặng không làm tôi sợ mà còn có cảm giác được thư giãn thực sự. Ba ngày ở đây với những tiếng chuông, mõ, tiếng tụng kinh ấm áp của các sư thầy cùng phật tử, tôi được ăn những bữa cơm chay ngon và uống những ngụm trà thơm. Điều đặc biệt làm tôi thích nhất là sóng điện thoại hầu như không có, nên cảm thấy nhẹ nhàng hơn mọi ngày.

Đêm ở đây thật kỳ diệu. Vầng trăng rằm treo lơ lửng giữa các đỉnh núi tạo nên một bức tranh đẹp và buồn man mác, cảm giác lúc ấy thật khó tả. Hương thơm của hoa sen quyện vào không khí núi rừng và phảng phất nhè nhẹ trong làn gió hiu hiu. Ánh trăng soi mình dưới bóng nước, thỉnh thoảng lại bị méo mó một chút bởi những chuyển động nhè nhẹ của những chú côn trùng nhỏ đang phơi mình trên mặt nước trong vắt.

Sáng sớm là khoảng thời gian dễ chịu nhất trong ngày. Sau lễ tụng kinh, các sư thầy ăn sáng và làm những việc cần làm, còn tôi thì nhâm nhi cốc cà phê dưới tán lá, ngắm ao sen và những chú chim đang bay lượn, hót tiếng hót thanh thoát. Sự yên bình tràn ngập khiến tôi muốn được trú ngụ mãi nơi đây.

Điều cho tôi nhiều thích thú hơn nữa là kho sách của chùa, tất nhiên đều là sách Phật giáo nhưng những quyển sách này vô cùng phong phú. Sách đã giúp tôi hiểu thêm về đạo Phật, hiểu được mình đang có, mình chưa làm được và những gì mình còn nhiều thiếu sót. Tôi bỗng hối tiếc nhiều về một vài điều đã làm, và nhận ra những điều mình cần sửa đổi, trong đó có việc tự làm tổn thương chính bản thân mình hay vô tình làm tổn thương người khác.

Những cánh hoa li ti không tên rơi đầy trên chiếc bàn đá, rơi trên vai áo lam, rơi trên trang sách đọc dở, rơi cả vào tách cà phê đang uống. Hoa rơi nhiều bởi bầy ong rừng sáng nào cũng chăm chỉ hút mật quanh những khóm hoa bên hồ. Đàn cá muôn loài, có được do những lần phóng sanh của phật tử, ngoi lên hớp bọt. Hàng ngàn vạn con cá lớn nhỏ đủ màu sắc chen chúc. Có những con cá lớn bằng bắp chân, nặng cở từ 5 đến 7 kg, thong thả lượn lờ quanh đám lá sen dưới chân tượng Phật Đản Sinh, có vẻ như cả đời vẫn luôn thong thả như vậy.

Đêm 16, ánh trăng nửa đen nửa trắng, đẹp lạ lùng, và ngắm trăng hôm này có lẽ là đẹp nhất trong đời. Thì ra là Nguyệt Thực. Mặt trăng dần bị che khuất hoàn toàn rồi lại dần hiện ra, trong sáng, lung linh, như gột rửa đi cái đen tối, vầng trăng dường như sáng hơn thường lệ sau khi gạn đục khơi trong. Lòng người đang vướng nặng chợt hân hoan hơn: cái u tối khi đã qua đi, tương lai sẽ tươi sáng.

Lời sư thầy Pháp An đều đặn trong đêm thanh tịnh. Lịch sử ngôi chùa như hiện lên từ quá khứ tới vị lai: Thế kỷ 17, một ni sư tên là Diệu Thiện ẩn tu trên núi đã cứu thoát chúa Nguyễn khỏi sự truy đuổi của quân Tây Sơn. Để đền đáp công ơn của ni sư, sau khi lên ngôi, vua đã sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu, sắc tứ cho chùa là Linh Sơn Bửu Thiền Tự. Tiếp đời ni sư Diệu Thiện, hòa thượng Từ Thuận cũng đã đắc đạo, cứu nhân độ thế, thường hạ sơn trên lưng chúa Hổ. Sau chiến tranh chống Pháp, chùa bị hư hại nhiều, được các hòa thượng và thượng tọa qua nhiều đời trùng tu lại trong bao khó khăn về kinh phí lẫn do địa thế hiểm trở. Khi được hiểu thêm về lịch sử ngôi chùa, chúng tôi ai cũng cảm thấy viên mãn được đặt chân đến đây, lòng phẳng lặng và bình yên đến kỳ diệu.

Hôm sau, qua lời thầy Pháp Huệ kể và hình dung dáng thầy lúc đó đang còng lưng ra sức, lưng áo ướt đầm, tay nâng những tảng đá lớn cùng với công nhân xây những bậc đá quanh chánh điện, tôi mới thấy sự gian khó khi trùng tu chùa. Vật liệu đưa lên núi vô cùng khó khăn, vác 1 cái ba lô trên 3 kg lên đến chùa Tổ đã phải mất hơn một giờ rã rời, huống gì những vật liệu cồng kềnh, những bao xi măng 50kg, thế nhưng sắc mặt của những công nhân lại nhẹ nhàng đến kỳ lạ. Những đôi vai trần đầy hình xăm trổ của một thời ngang dọc còn hằn những vết chai, đối chọi với những gương mặt dường như dịu đi qua những bài Pháp được thầy Huệ bật lên trong buổi làm việc. Những buổi niệm kinh cũng có sự hiện diện của những con người lao động chân tay này. Dường như đạo Phật đã ngấm vào họ sau 3 năm lao động mệt nhọc, với cơm chay và kinh kệ, tâm họ cũng dịu nhẹ đi qua những bài Pháp nhiệm mầu.

Những buổi tối bên ấm trà, những câu chuyện đời, chuyện người, với anh Hóa, chú Tâm, anh Bảo…cùng những người tôi không thể nhớ hết tên. Họ vui vẻ sau một ngày lao động nặng nhọc, họ hát, họ đàn ca. Những câu chuyện, những triết lý đầy tính nhân văn sâu sắc được nghe từ những người thợ hồ, thợ điêu khắc và những người phu đá lam lũ cho tôi nhiều bất ngờ thích thú.

Đêm cuối cùng, bên ấm trà mạn mà anh Hóa đã mang từ quê lên, chú Tâm thổi tặng “đồng nghiệp” bài Lòng mẹ. Tiếng tiêu của chú nghe thanh thoát, réo rắt, vượt lên non ngàn, hòa vào ánh trăng hạ tuần, lùa vào từng hang đá, ngọn cỏ, tầng rêu. Tiếng tiêu của người phu đá như thay lòng người con xa xứ gửi đến gia đình yêu thương làm lòng người chùng lại, không ai bảo ai, mọi người đều im lặng thưởng thức. Sương đêm xuống ướt đẫm thảm cỏ bên hông điện Tì Lô Giá Na, tiếng cá hớp trăng, tiếng vượn hú giữa đêm vắng, tiếng chim ăn đêm, tiếng lá khô rơi xen giữa tiếng tiêu tạo nên thứ hợp âm độc đáo giữa cô tịch.

Hành trang rời Linh Sơn, ngoài cuốn Kinh Pháp Hoa thỉnh của thầy Pháp Huệ, cuốn Hoa Sen Trên Tuyết thầy Pháp Thường tặng, còn có tràng hạt và bộ áo lam của chú tiểu Phúc Hòa và với một tâm hồn thanh thản. Có lẽ tôi sẽ nhớ hoài những ngày ở Linh Sơn. Lòng thầm hẹn một ngày trở lại.

Mỹ Trí Tử
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.