Đường thi cảm dịch

Posted: 17/08/2017 in Nguyễn Minh Thanh, Thơ

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

1.
Trừ Dạ Hữu Hoài

Ngũ canh chung lậu dục tương thôi,
Tứ khí thôi thiên vãng phục hồi.
Trướng lý tàn đăng tài khứ diệm,
Lô trung hương khí tận thành hôi.
Tiệm khan xuân bức Phù Dung chẩm,
Đốn giác hàn tiêu Trúc Diệp bôi.
Thủ tuế gia gia ưng vị ngoạ,
Tương tư na đắc mộng hồn lai?

MẠNH HẠO NHIÊN (689-740)

Nỗi Nhớ Đêm Giao Thừa

Đồng hồ chuông đổ giục năm canh
Thời tiết âm thầm luân chuyển nhanh
Hương hết lò im tro ướp lạnh
Lửa tàn đèn tắt gió khua mành
Phù Dung gối tựa Xuân đầm ấm
Trúc Diệp ly nâng rượu nhạt tanh
Nắm níu năm qua nhà chẳng ngủ
Nhớ nhau hồn mộng… cũng thôi đành…!

2.
Vạn Tuế Lâu

Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế lâu,
Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu.
Niên niên hỉ kiến sơn trường tại,
Nhật nhật bi khan thuỷ độc lưu.
Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh,
Lô tư không tự phiếm hàn châu.
Thuỳ kham đăng vọng vân yên lý,
Hướng vãn mang mang phát lữ sầu.

VƯƠNG XƯƠNG LINH (khoảng 698-756)

Lầu Vạn Tuế

Dãi dầu sương gió biết bao lâu
Sừng sững bên sông Vạn Tuế lầu
Năm lụn vui nhìn non đứng đó
Tháng tàn buồn ngắm nước về đâu…?!
Họp đàn vượn sóc leo đồi vắng
Nhập bọn vạc cò lội bãi sâu
Mây khói lên cao trông vợi vợi…
Dương tà bóng ngã… khách ươm sầu…!!

3.
Võng Xuyên Biệt Nghiệp

Bất đáo Đông sơn hướng nhất niên,
Quy lai tài cập chủng Xuân điền.
Vũ trung thảo sắc lục kham nhiễm,
Thuỷ thượng đào hoa hồng dục nhiên.
Ưu lậu tỳ khưu kinh luân học,
Ủ lũ trượng nhân hương lý hiền.
Phi y đảo tỷ thả tương kiến,
Tương hoan ngữ tiếu hành môn tiền.

VƯƠNG DUY (699-759)

Nhà Riêng Ở Võng Xuyên

Tròn năm chẳng dịp viếng non Đông
Về trúng vụ Xuân đang vỡ đồng
Màu cỏ ươm mưa xanh biếc biếc
Sắc đào bóng nước đỏ hồng hồng
Học hành giới luật sư ông thạo
Hiếu hạnh gương làng cụ lão thông
Khoác áo mang giầy đi gặp bạn
Cười vui… trước cổng thỏa thuê lòng

4.
Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

THÔI HIỆU (704?–754)

Lầu Hoàng Hạc

Cưỡi hạc người xưa bóng mịt mờ
Để lầu Hoàng Hạc đứng trơ vơ
Hạc vàng một thoáng mù tăm tích
Mây trắng ngàn năm mãi lửng lơ
Sông biếc Hán Dương cây lộng bóng
Bãi xanh Anh Vũ cỏ ươm mơ
Chiều rồi quê cũ phương nào nhỉ?
Khói sóng ơ hờ… ai ngẩn ngơ…!!

5.
Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài

Phượng Hoàng đài thượng, Phượng Hoàng du
Phượng khứ, đài không, giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân Bạch Lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu..!!

LÝ BẠCH (701 – 762)

Lên Chơi Đài Phượng Hoàng Ở Kim Lăng

Phượng đài cao vợi Phượng về chơi
Phượng vắng đài trơ nước vẫn trôi
Ngô điện cỏ hoa che kín lối
Tấn triều áo mão hóa hoang đồi
Thanh sơn ba ngọn trời chia nửa
Bạch lộ một cồn nước rẽ đôi
Mây phủ vầng dương mờ ánh sáng
Trường An khuất dạng khách bồi hồi…!!

6.
Đăng Cao

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

ĐỔ PHỦ (712-770)

Lên Đài Cao

Vượn hú trời cao gió dập dồn
Bờ trong cát trắng lũ chim muông
Trùng trùng nước biếc ào ào chảy
Điệp điệp lá vàng tất tả tuôn
Thu uá dạ sầu muôn dặm nhớ
Đài cao sức yếu một thân buồn
Gian nan dầy dạn sương pha tóc
Lắm bịnh hoành hành rượu phải buông…!!

7.
Giang Thượng Phùng Hữu Nhân

Cố quốc quy nhân tửu nhất bôi,
Tạm đình lan trạo cộng bồi hồi.
Thôn liên Tam Giáp mộ vân khởi,
Triều tống Cửu Giang hàn vũ lai.
Dĩ tác Tương Như đầu phú kế,
Hoàn bằng Ân Hạo ký thư hồi.
Đáo thời nhược kiến đông ly cúc,
Vi vấn kinh sương kỷ độ khai.

ĐỖ MỤC (803 – 852)

Trên Sông Gặp Lại Bạn

Nước cũ bạn về chuốc chén vui
Mái chèo tạm gác dạ bùi ngùi
Xóm chiều Tam Giáp mây liên khởi
Mưa lạnh Cửu Giang sóng cuộn trôi
Phú viết Tương Như nên học lấy
Thơ hồi Ân Hạo hãy theo thôi
Khi nào hoa cúc bờ đông nở
Ướm hỏi sương ươm mấy độ rồi…?

8.
Lưu Thần, Nguyễn Triệu Du Thiên Thai

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,
Vân hoà thảo tĩnh quýnh vô trần.
Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
Thuỷ mộc không nghì mộng hậu thân.
Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
Bất tri thử địa quy hà xứ,
Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.

TÀO ĐƯỜNG (?-?)

Lưu Thần, Nguyễn Triệu Nhập Thiên Thai

Lối đá Thiên Thai mới trắng ngần
Cỏ lan sạch mát áp tường vân
Khói chan ráng đỏ quên tiền sự
Cây lộng dòng xanh tưởng hậu thân
Thánh thót sườn non gà gáy nguyệt
Vang vang cửa động chó nghinh xuân
Chẳng hay diễm điạ là đâu nhỉ
Lần đến Đào Nguyên diện chủ nhân

9.
Cẩm Sắt

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
Lam Điền nhật noãn ngọc sinh yên.
Thử tình khả đãi thành truy ức,
Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.

LÝ THƯƠNG ẨN (813-858)

Đàn Cẩm Sắt

Năm chục dây Cẩm Sắt hợp duyên
Mỗi dây mỗi trục hệ hoa niên
Trang Sinh hồn mộng mơ hồ điệp
Thục Đế lòng xuân gởi đổ quyên
Thương Hải trăng thanh châu nhỏ lệ
Lam Điền nắng ấm ngọc sanh yên
Tình này ví đã thành giai niệm
Xin giữ trong tim chút nỗi niềm…

10.
Quá Linh Đinh Dương

Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,
Can qua liêu lạc tứ chu tinh.
Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,
Thân thế phù trầm vũ đả bình.
Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng,
Linh Đinh dương lý thán linh đinh.
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

VĂN THIÊN TƯỜNG (1236 – 1282)

Qua Biển Linh Đinh

Cay đắng kinh qua lắm cảnh tình
Bốn năm xiêu lạc lụy đao binh
Tả tơi mành gió đau hồn nước
Tan tác bèo mưa xót phận mình
Thác Hoàng Khủng trập trùng khủng khiếp
Biển Linh Đinh lai láng linh đinh
Xưa nay ai sống mà không chết
Để tấm lòng son rạng sử xanh…

GA, Hạ đỏ 8/8/2017
Nguyễn Minh Thanh cảm dịch và cẩn bút
Nguồn: Dịch giả gửi

Đã đóng bình luận.