Phạm Nhã Dự: Kẻ văng tục văn chương

Posted: 03/10/2017 in Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi, Trần Phù Thế
Thẻ:

Trần Phù Thế


Nhà thơ Phạm Nhã Dự

Tôi gặp Phạm Nhã Dự thiếu một năm nữa là đúng năm mươi năm. Một nửa thế kỷ nói sao mà nghe quá dài, thật là dài.

Dạo đó, tôi phục vụ vùng Gia Định. Hậu cứ đóng quân nằm ở đường Ngô Tùng Châu, Bà Chiểu. Cuối tuần tôi thỉnh thoảng ra Sàigòn chơi, thường uống cà phê, ăn sáng tại nhà hàng Kim Sơn, nằm góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực. Cũng góc đường nầy có Kiosk bán sách báo và tạp chí của cô Nga, người đẹp dáng vóc nhỏ nhắn rất hiếu khách. Quán nầy là nơi tụ tập của anh em văn nghệ trẻ ở nhiều nơi. Nào Tô Đình Sự, Ngô Nguyên Nghiễm, Yên Bằng, Trăng Thệ Hải, Phan Chấn Thanh, Lâm Chương, Lưu Nhữ Thụy, Phạm Nhã Dự, Nguyễn Lệ Tuân, Thuy Miên, Nguyễn Lê La Sơn, Lưu Vân, Nguyễn Thành Xuân, Hà Thúc Sinh, Trần Văn Sơn, Trần Hoài Thư, Nguyễn Tôn Nhan, Trần Phù Thế… Ở đây tôi quen với Phạm Nhã Dự. Từ khi biết nhau, tôi và Dự hể rãnh là cùng các bạn kể trên bày cuộc rượu. Thời đó chiến tranh, chết sống gần kề nên gặp nhau không nhậu mới là chuyện lạ.

Những dạo đóng quân ở ven đô, nhứt là vùng Hóc Môn, tôi hay qua nhà Dự ở Bà Điểm thù tạc với nhau. Lúc ấy Dự cũng thỉnh thoảng ghé qua nơi tôi dừng chân (Dự phục vụ ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung). Dự thường nhắc chuyện một Bà Mẹ tình nguyện theo nấu cơm (nuôi) cho ba đứa con trai đang phục vụ trong đơn vị của tôi. Dự luôn nhắc với giọng xúc động và cảm phục.

Nhà Dự ở trong vườn trầu, toàn trầu với cau. Xanh mướt và thẳng tắp. Nơi đây cũng còn được gọi là ‘Quán Văn’, nơi trước cũng như sau cơn-khủng-hoảng bảy-lăm là chỗ quy tụ anh em văn nghệ ‘xả láng sáng về sớm’.

Một lần, khoảng vào năm 1969, tình cờ sáu tên gặp mặt. Dự rủ rê cùng nhau kéo về nhà hắn, mười-tám-thôn-vườn-trầu. Nhậu một trận đã đời. Sáu thằng cởi trần từ trưa tới chiều làm láng năm lít đế Bà Điểm, có tiếng là rượu ngon nhứt vùng Hóc Môn, Gia Định.

Hình ảnh đó vẫn lưu giữ mãi trong ký-ức tôi. Cho đến không biết bao lâu, khi định cư ở Hoa Kỳ, một hôm tôi viết một hơi về kỷ-niệm, về những khuôn mặt thân ái miên hằng:

UỐNG RƯỢU Ở VƯỜN TRẦU BÀ ĐIỂM

Tô đình Sự

Này Sự, rượu tới phiên mày
Uống say một trận cho đầy cơn mê
Tuổi thanh niên cũng chẳng hề
Thằng ra chiến trận thằng về áo quan

Lâm Chương

Này Chương, sao sớm tan hàng
Ngất ngư uống nữa cho tàn cuộc đau
Tội gì mầy nghĩ mai sau
Chiến tranh có mặt như tao với mày

Yên Bằng

Này Bằng, uống chút mà say
Chúa hay giả bộ kéo dài cuộc chơi
Mày đi lính vác dùi cui
Lính như lính cậu rong chơi Sàigòn

Phạm Nhã Dự

Này Dự, rượu hết hay còn
Đừng chơi tao nhé! Tiếng đồn đế ngon
Nể mày mời lắm nghe con
Bửa nay quyết đấu mất còn sá chi

Lưu Vân

Lưu Vân, mày uống kiểu gì
Uống sao kê tán đáy ly còn chừa
Bây giờ trời mới giữa trưa
Nắng chui nách lá, trầu thưa chỗ ngồi

Sáu thằng cởi áo uống khơi
Hết năm lít đế coi trời bằng vung
(trích “giởn bóng chiêm bao”, tpt)

Phạm Nhã Dự rất mạnh rượu. Trong đám bạn chỉ có Lâm Chương và Tô Đình Sự là địch thủ của hắn mà thôi.

Và hắn cũng thường hay vui miệng chửi thề. Chẳng thế, chửi thề luôn cả trong văn chương thi phú! Tôi gọi hắn là ‘kẻ văng tục văn chương’.

Thật ra, trong văn chương, tiếng chửi thề thỉnh thoảng cũng được nhà văn dùng đối thoại trong tác phẩm của mình, nhứt là những nhà văn quân đội. Nhưng, trong lãnh vực thơ, thật hiếm thấy những bài thơ chửi thề, mà sau này tôi biết cũng chỉ dăm người, cũng toàn những tay mặc áo kaki. Trước đó, rất lâu, tôi chỉ thấy có thi hào Cao Bá Quát, trước khi ra pháp trường, mới có thơ ‘chửi thề’: “Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời“. Cho đến khi (1971) nghe Dự đọc bài thơ “Buổi Chiều Ở Nghĩa Trang Cà Đú” (mà Dự viết ‘gởi linh hồn mày, Tô Đình Sự’) với tôi là lần đầu tiên, Dự dám xử dụng tiếng chửi thề vào trong bài thơ thực sự, mà lại nhiều lần! Bài thơ khóc bạn với những tiếng chửi thề này gây tôi cảm xúc sâu xa khôn tả!

Trở lại Phan Rang lần nầy nữa
Thăm mày không biết ngắn hay lâu
Thăm mày, đù má, mày đã chết
Hay chỉ thăm cỏ mọc xanh mồ.

Chiều nay sao gió nhiều mày nhỉ
Gió nổi trong tao đến lạnh mình
Đù má, nhang mày sao chẳng cháy
Đốt mãi que diêm đến cạn cùng.

Ngay khi nghe đọc, tôi lặng người vì tiếng chửi (đù má) rất dân dã nầy. Nếu nói thiệt, nó rất ư là thô tục. Vậy mà Dự lại ‘ném’ hai tiếng chửi thề vào vị trí rất đắc địa. Tôi không thể tưởng tượng có mấy “thi gia” dám dùng nó trong thơ như một ngôn ngữ văn chương, nhứt là rất nhiều lần trong một bài thơ, mà lại gây xúc động như vậy! Chắc trước sau chỉ có Phạm Nhã Dự mà thôi!

Tôi đã vô cùng ngạc nhiên xen lẫn thích thú. Dự dùng hai chữ“đù má“khi đứng trước mộ người bạn vừa nằm xuống, người bạn thân của chúng tôi, Tô Đình Sự. Chửi thề đi Dự cho bớt lòng đau:

Bên kia dãy núi trơ thân chó
Cỏ dưới chân tao lại sụt sùi
Mẹ kiếp, vợ mày đang khóc mướt
Con mày, trời hởi, nó cười vui!

Còn tao, tao chẳng cười chẳng khóc
Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người
Đù má, tao chửi thề đây Sự
Chửi suốt trăm năm chửi hết đời.

Mẹ kiếp” cũng gần như tiếng chửi thề. “Vợ mày đang khóc mướt/ Con mày trời hởi nó cười vui”: thật là trớ trêu nghịch cảnh. Chồng chết đương nhiên là vợ quá đau lòng, nhưng mấy đứa con còn quá nhỏ có biết gì đâu nên vẫn cười vẫn hồn nhiên!

“Đù má, tao chửi thề đây Sự / Chửi suốt trăm năm chửi hết đời”: đúng là rất độc và lạ.

Bài thơ “Buổi Chiều Ở Nghĩa Trang Cà Đú” tôi đếm đưoc tất cả là sáu lần tiếng chửi thề mà tác giả đã lập đi lâp lại (tưởng như là cố ý). Để nói lên tình bạn sậu đâm đối với người nằm trong mộ, cái câu “Chửi sưốt trăm năm chửi hết đời” đã thể hiện rõ cái tình bạn thâm sâu của Dự dành cho Tô Đình Sự. Đó chính là tình bạn tri âm tri kỷ, trăm năm khó gặp.

Theo lời kể Phạm Nhã Dự, cũng đồng cảnh gần như tất cả bạn bè chiến hữu, Dự đã theo học “Đại Học Máu”* (tù cải tạo) gần bảy năm. Ra tù, trong nhà không còn gì để bán, Dự làm đủ nghề để sống. Bửa đói bửa no. Từ dạy Anh văn, làm phân bón, mở xưởng muối, rồi lập quán cốc độ nhựt qua ngày. Một thời gian dài nửa tỉnh nửa mê!

Phạm Nhã Dự nổi tiếng hào sảng, thích kết giao bằng hữu, nhứt là những cuộc rươu trong giới lưu linh văn nghê văn gừng Sài gòn. Dự kể, khoảng năm 1987, có lần vào buổi chiều hắn và Cung Tích Biền đến quán Chín Thái (bạn thân của Dự) ở trên kinh Nhiêu Lộc, gần Lăng Cha Cả, giữa khu Bảy Hiền và phi trường Tân Sơn Nhứt. Trước khi nhậu Dự chợt nhớ nhà thơ Phù Hư cũng ở gần quanh đó nên gọi Phù Hư qua nhậu cho rậm đám. Bữa rượu kéo dài tới gần một gìờ sáng. Phù Hư về trước. Dự chở Cung Tích Biền ra trước đường Hoàng văn Thụ, kêu xích-lô. Biền ngất ngưỡng, không đồng ý, bắt Dự phải chở về nhà ở đường Nguyễn Huệ, Sài gòn. Dự phân trần, năn nỉ Biền về bằng xích-lô vì Ngã Tư Bảy Hiền nằm ở giữa Bà Điểm và Sài gòn. Nếu chở Biền về Nguyễn Huệ rồi về Bà Điểm thì quá xa. Tới sáng mất đi!

Nhưng Cung Tích Biền nhứt định không chịu, bảo đích thân Dự phải chở về. Dự cương quyết không chở. Hai ông thần men ngồi bệt xuống vệ đường cự cải nhau tiếp diễn. Đến nổi ông xích lô lên tiếng giảng hòa. Rồi, Cung Tích Biền đứng vụt dậy, tụt quần xuống, chửi, “đù má, Dự đếch chơi ngon, c. tao hè”. Đêm đó, theo lời kể của Cung Tích Biền, anh bảo ông xích-lô chở nhầm vào trụ sở công an phường gần nhà, lẫn quẫn gần bốn/năm giờ sáng mới về chung cư (Nguyễn Huệ) .

Cuộc chơi bạt mạng đó còn được Dự ghi lại mấy câu thơ:

Ông đứng dậy tụt quần, Đù Mẹ
Chửi thằng nhã- dự đếch chơi ngon
Giữa khuya thanh vắng còn hai kẻ
Uống rượu và quên chuyện mất còn!

Bài thơ trên có cái tựa “Cung Tích Biền”, đó là tên của một nhà văn nổi tiếng trước năm bảy-lăm ở Sàigòn, cũng là người bạn lâu năm của Dự từ khi cả hai còn độc thân, lúc mà Cung Tích Biền còn đóng ở hậu cứ Ngã Tư An Sương, thường ghé qua mười-tám-thôn- vườn- trầu nhậu nhẹt đình đám.

Và bài thơ trên cũng là bài thơ thứ hai hiếm hoi mà nhà thơ Phạm Nhã Dự đã dùng tiếng chửi thề trong tập thơ của mình.

Đọc hai câu “Giữa khuya thanh vắng còn hai kẻ/ Uống rượu và quên chuyện mất còn” của bài thơ tứ tuyệt trên tôi cảm thông sâu xa tâm tư của Dự. Đi tù về, tâm trạng của kẻ gãy súng tháng tư lúc nào cũng mơ hồ tự trách mình, dù đó là cộng nghiệp, là vận mệnh chung của cả một dân tộc, một quốc gia!

Trong bài “Xuân Tha Hương Nhớ Bạn” có năm bài thơ ngắn tứ tuyệt. Mỗi bài là tên của một người. Tất cả đều là bạn rượu văn nghệ thân thiết của Dự. Phần trên tôi đã điểm danh nhà văn Cung Tích Biền. Vậy bây giờ xin điểm tiếp coi nhà thơ chúng ta đã viết gì cho mỗi bạn rượu:

Nguyễn Đạt

Quán vắng chun bàn ông ngủ tỉnh
Còn quanh dăm đứa gật gù say
Đơn Dương có lạnh, ông còn lạnh?
Gió tuyết mưa phùn đây trắng bay!

Đọc lên thấy ngay hình ảnh Đạt của Đơn Dương xứ lạnh, của tính cách những tay hảo hán chơi bất cần đời, nhậu xỉn chun xuống bàn ngủ tỉnh bơ!

Lê Triều Điển

Ông mang tranh tặng, ta mang nặng
Bằng hữu chi giao, ông vẽ sao?
Châu thổ bây giờ sông nước lụt
Bao nhiêu thảm cảnh vẽ nên màu!

Dương Trữ La

Đưa ta đi Mỹ, ông chết giấc
Đò đời còn lại ở lòng nhau
Rượu chìm rượu nổi dăm thằng ngất
Đời đã muộn màng chuyện bể dâu!

Thơ Dự đề tặng bạn, không giống như thường thấy ở các nhà thơ khác, ở đây đọc lên sẽ thấy ngay con người mà Dự có ý đề tặng. Đọc Lê Triều Điển ai cũng nhận ra một họa-sĩ vùng sông nước Cửu Long, chân tình cùng bạn bè khi rời xa quê hương!

Điểm thú vị nữa là cách chơi chữ trong câu đầu: “mang tranh” đối với “mang nặng” (điệp ngữ với hàm ý vật chất đối với tinh thần). Độc đáo hơn, tác giả còn ‘đẩy’ họa sĩ nhà ta vào thế khó “phải vẽ tình bằng hữu” vốn xưa nay hình như chưa có họa sĩ nào nghĩ tới!

Đến Dương Trữ La thì nói về thâm sâu đời sống hơn. Một Dương Trữ La chơi “xả láng” đúng nghĩa nhứt trong những tay “xả láng” văn nghệ Sài gòn đã cuối đời “ngồi ôn lại chuyện bể dâu”. Dương Trữ La chia tay với người phối ngẫu tuyệt vời, về sống buồn thiu dưới vùng Duyên Hải xa xăm. Khi hay tin Dự mời gặp mặt trước khi rời quê hương, anh tức tốc theo đò lên Cầu Chữ Y ngay chiều hôm đó. Uống đến hai ba giờ sáng, anh lại xuống đò xuôi về Duyên Hải. Sau này anh kể lại anh đã ói vật vã suốt đường về. Dự quá cảm động, viết gởi anh mấy vần thơ này. Khi nhận được, anh bảo anh ngồi ngơ ngẫn, thẫn thờ suốt cả buổi chiều hôm đó “thấm thía đời mình”!

Sau cùng của các tứ tuyệt là nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm. Nghiễm là cầu nối giữa các anh em văn nghệ miền Nam thời bấy giờ và cả bây giờ.

Ngô Nguyên Nghiễm

Ông thiền mấy bậc tu thành đạo
Đã chán chường chưa cuộc tỉnh say
La Hán bao giờ về núi Thất
Hay nợ văn chương vẫn lụy hoài?!

Bạn ta Ngô Nguyên Nghiễm. Đọc qua thấy ngay một Ngô Nguyên Nghiễm đam mê văn chương, đạo mạo như thiền sư /A La Hán xuất thân vùng địa linh Thất Sơn huyền bí. Tuy nhiên, tinh ý sẽ thấy tác giả đã dùng ẩn dụ và nói lái thật tuyệt và thú vị ngay câu đầu: “Ông thiền mấy bậc tu thành đạo”. Câu rất dễ hiểu, diễn rất đạt chân thân Nghiễm. Nhìn sâu, phân tích chữ sẽ thấy ‘Thiền’ là phương pháp tĩnh tọa, mà ‘Thiền’ cũng là tên thật của nhà thơ Ngô Nguyên Nghiễm. Riêng ba chữ cuối của câu đọc ngược lại đã tạo thành giai thoại trong bạn bè thâm giao!

Ngoài cái độc đáo của ‘kẻ văngtục vănchương’ với tiếng chửi thề nhẹ nhàng và tự nhiên khi khóc bạn làm ngỡ ngàng và khuấy động mối cảm xúc thật sự người đọc, Tôi còn rất “chịu” thơ tứ tuyệt của Phạm Nhã Dự. Lời thơ khinh bạt bất cần đời. Ý thơ thâm trầm xoáy vào lòng người đọc nỗi niềm u hoài không nguôi. Đùa với bạn bằng những ngôn ngữ đời thường nhưng khi đọc lên vẫn để lại dư âm hoài hoài bất tận!

Tuyệt vời bạn hiền, một đời thơ, một hồn thơ, cho tuổi “thất thập cổ lai hy”.

Trần Phù Thế
South Carolina, Sept. 11, 2017

(*) Tác phẩm của Hà Thúc Sinh, Ký, Nhân Văn, Hoa Kỳ 1985.

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.