Con đường không mỏi

Posted: 27/07/2018 in Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi, Đỗ Bình
Thẻ:

Đỗ Bình


Nữ sĩ Minh Châu (1922-2014)

Paris vào thu Paris trời trong vắt, những sợi nắng vàng lóng lánh làm những hàng cây bên đường rực rỡ. Mấy hôm nay thời tiết bỗng thay đổi, những cơn mưa tầm tã ngày đêm như trút nước khiến trời đất xám ngắt! Trên đồi Montmartre trong khu họa sĩ, những bức tranh đẹp treo bán cũng được các họa sĩ bọc kỹ lại vì sợ mưa ướt. Paris dù mưa hay nắng sinh hoạt vẫn bình thường, vẫn đông người qua lại, khách du lịch yêu nghệ thuật vẫn đến viện bảo tàng hay lên đồi Montmartre ngắm tranh. Trong cơn mưa ấy, ở một khu phố Paris có một người nghệ sĩ già rất tài danh, có một thời vang bóng vừa qua đời bỏ lại Paris khoảng sắc màu và những sáng tạo để tan biến vào cõi hư vô!

Nói đến nữ sĩ Minh Châu là nói đến một sự đam mê văn học nghệ thuật, một hành trình không mỏi dù tuổi đời và sức khỏe của bà không thể chống chỏi với thời gian.Tôi phải bắt đầu như thế nào khi viết về một người mà tôi quá thân và qúy trọng về nhân cách lẫn tài năng, tôi định sau này dành thời gian sẽ viết về những khuôn mặt làm văn hóa mà tôi đã may mắn được quen biết. Hôm nay sau khi đi thăm bà, nhìn hình dáng cong như vầng trăng khuyết sắp tàn ngồi trên xe lăn do bệnh bại liệt. Thấy bà đang cặm cụi trên những bản tranh, những trang bản thảo thơ mà lòng tôi trào dâng xúc động! Có lẽ bà đang cố chống chỏi với thời gian để hoàn thành tác phẩm cuối đời. Do đó tôi quyết định viết về người nữ sĩ này mà chẳng đợi về sau, như một món quà mang chút ân tình tri ngộ.

Cõi thơ là cõi bồng bềnh, nhưng cõi đời lại trầm bổng! Nữ sĩ Minh Châu đã đi khắp đó đây gần thế kỷ, trải qua những thăng trầm của lịch sử, và theo dòng sử mệnh trôi giạt đến Paris, rồi sẽ dừng ở đây. Ngoảnh lại nhìn những chuỗi đường đã qua, nữ sĩ chợt phát hiện chỉ có tâm hồn nghệ sĩ làm cho đời thêm ý nghĩa. Nhà thơ vốn dĩ đã cô đơn, tuổi gìa càng cô quạnh vì không giải được hết nỗi niềm, cho nên Bà tìm thú vui và tri âm trong những trang bản thảo để nghe lòng mình thổn thức:

Nhìn trăng, trăng lạnh như tờ,
Nhìn mây, mây cũng hững hờ xa xôi.
Gió đâu thoạt đến liên hồi
Bàng hoàng chợt tỉnh giòng đời trôi nhanh!

(“Buồn.” Nhớ Thương)

Sáng sớm ngày 8 tháng 10 năm 2014 tôi được nữ sĩ Quỳnh Liên gọi điện thoại báo tin nữ sĩ Minh Châu Thái Thị Hạc Oanh vừa mất trong đêm, tôi không ngạc nhiên vì biết tuổi đời của bà quá cao lại bệnh tật, sự ra đi lúc này phải chăng là một giải thoát cho bà, nhưng lòng tôi vẫn buồn rười rượi! Cách nay hơn một tuần nữ sĩ Minh Châu nói chuyện với tôi qua điện thoại như một lời trăn trối cuối cùng khiến lòng tôi bùi ngùi. Tôi bàng hoàng vì quanh tôi những người thày, người bạn cao tuổi thuộc lớp đàn anh đã lần lượt giã từ cõi đời, nhóm văn nghệ sĩ chúng tôi cũng vừa đi thăm nhà văn Tô Vũ đã ngoài 92 tuổi, Cụ cùng với một số nhà văn khác như Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh, cố Nhà văn Đạo Cù Trần Tam Tiệp thành lập hội văn Bút VN hải ngoại, và nhà văn Tô Vũ cũng là người cùng với  cố giáo sư Võ Thu Tịnh, nhà nghiên cứu văn học thực hiện những tập thơ cho nữ sĩ Minh Châu. Nhà văn Tô Vũ  đang nằm ở phòng hồi sinh … và đã mất!

Vài Nét Về Nữ Sĩ Minh Châu:

Nữ sĩ Minh Châu Thái Thị Hạc Oanh sinh năm 1922 tại Huế, chánh quán làng Qui Thiện, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ: Cụ Đông Các Thái Văn Toản, Thân mẫu: Cụ Bà Nguyễn Phước Lương Cầm. Tốt nghiệp Quốc gia Cao Đẳng MỹThuật và Sư Phạm Hội Họa. Bà là giáo sư các trường trung học kỹ thuật Huế, Sài Gòn, Régina Mundi. Bà và Bà Trương Thị Thịnh trước năm 1975 là hai nữ họa sĩ và giáo sư chính thức giảng dạy trường Quốc Gia Cao Ðẳng Mỹ Thuật. Năm 1971 bà triển lãm tranh lụa tại Ðại Hàn và Nhật Bản. Năm 1972 đã trưng bày một cuộc triển lãm tranh lụa và sơn dầu tại Alliance Française Sài Gòn, bức tranh Tứ Ðức được ông Nguyễn Tấn Ðời cựu dân biểu VNCH, cựu chủ tịch phòng thương mại Sài Gòn, chủ tịch Tổng giám đốc Tín Nghĩa ngân hàng mua với gía 500.000 đồng để tặng bà vợ. Bức tranh Sắc Sắc Không Không đã được Trung tướng Nguyễn Hữu Có mua với gía 70 ngàn thời đó (năm 1977 khi được gửi tham dự triển lãm salon “Artistes Française” ở Grands Palais, tại Paris.) Bà vốn là hậu duệ trong một gia đình hoàng tộc, trong đó có rất nhiều danh nhân thi sĩ mà thơ của họ còn truyền tụng mãi hôm nay như Tùng Thiện Vương…

Thừa hưởng cái phẩm chất văn học của các bậc tiền bối trong gia tộc, Minh Châu làm thơ ngay từ lúc còn trẻ, số lượng thơ cho đến lúc cuối đời cả ngàn bài, nhưng nhà thơ loại bỏ rất nhiều, chỉ tuyển chọn hơn trăm bài đắc ý chứa những nỗi niềm về quê hương để lưu lại cho đời. Đặc sắc nhất là một số bài thơ Mới và thơ Ðường, ở thể thơ đó Minh Châu đã dùng những ngôn ngữ của hội họa đưa vào dòng thơ cổ điển để bài thơ của mình có màu sắc ngôn ngữ hình tượng giúp vần thơ nhẹ nhàng trong không gian rộng lớn, theo luật, giữ luật nhưng lại lướt trên luật hòa theo dòng cảm xúc thành ngôn ngữ sáng tạo. Với những hình ảnh tuyệt vời của thiên nhiên trong con mắt nghệ sĩ có cảm nhận và sự rung cảm khác nhau. Cũng là ngôn ngữ thơ, nhưng ngôn ngữ trong thơ Thiền khác với ngôn ngữ thơ tình, thơ quê hương, thơ đấu tranh, thơ thiên nhiên…Một bài thơ ngoài ý tưởng ra, dù trong thơ loại thơ nào cũng cần phải có chất nhạc và họa để bài thơ được hay. Câu thơ Thiền của Thiền Lão Thiền Sư (đời thứ sáu, dòng Vô Ngôn Thông):

Trúc thúy hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân

tạm dịch:

Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân
.

Minh Châu nhìn thiên nhiên như một bức tranh cảnh, ngôn từ giáp ở đây không phải là ngôn ngữ thơ nhưng qua con mắt họa sĩ đó là đường nét màu sắc:

Biển rộng bao la giáp với trời,
Nước trong, xanh ngắt tận mù khơi.
Mây vàng lơ lửng, trăng toàn vẹn,
Cát bạc mênh mông, cảnh tuyệt vời …

(“Biển.” Quê Hương Là Tình)

Biển thì mênh mông trời lại cao vòi vọi, nhưng trong không gian tạo hình nét cọ của người họa sĩ đã làm loãng sắc màu, giao hòa thiên nhiên đưa trời biển nối liền nhau. Với ngoại cảnh đó, nhà thơ Minh Châu không theo những lối dùng chữ quen thuộc như: trăng già, trăng đầy, trăng tròn, trăng mộng, trăng khuyết, trăng non…những ngôn ngữ ấy có chứa thanh âm điệu nhạc, dù có thật nhưng dưới con mắt thi sĩ vẫn là ảo. Ở đây Minh Châu dùng từ: trăng toàn vẹn đúng niêm luật nhưng thanh âm hụt hẫng, không làm cho cho câu thơ có tiếng ngân, vút cao theo vần điệu, vì ngôn ngữ đó không phải thơ. Nhà thơ đã cố ý dùng hình ảnh đó qua ngôn ngữ ấn tượng của hội họa mang tính ẩn dụ để diễn tả một phần tâm cảnh là nỗi lòng. Toàn vẹn là trạng từ: một trạng thái có được đầy đủ các thành phần, không thiếu hụt, không mất mát. Nhà thơ đã dùng hình ảnh đó để diễn tả cảm xúc mà chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được trăng ở một trạng thái đặc biệt đầy cảm xúc để dệt thành vần thơ. Vốn là một họa sĩ vầng trăng dưới mắt Minh Châu có sắc thái riêng, ánh trăng tỏa làm vàng những áng mây, cảnh sắc như bức họa, giống hình ảnh trăng nơi quê nhà không mất mát nét cũ, hồn xưa, đó là vầng trăng quê, vầng trăng toàn vẹn trong lòng người ly hương.

Là người yêu nước, thi sĩ mang tâm trạng kẻ tha hương bị lạc lõng giữa xứ người, cô đơn trong nỗi niềm hướng vọng về cố quốc nên nhìn trăng nhà thơ nhớ quê nhà, chợt xúc cảm đã thả hồn nhập vào trăng:

Chiều êm đồi vắng áng mây trôi,
Một cánh chim bay lạc giữa trời.
Mờ ảo trăng non vừa lố dạng
Thương ai đơn độc suốt đường đời.

(“Đơn Côi.” Quê Hương Là Tình)

Đã lâu nhà thơ Minh Châu không làm những bài Đường thi để trình làng, hoặc gởi những tạp chí, thỉnh thoảng nữ sĩ mới làm những bài thơ Đường xướng họa chỉ để tạc thù với các bạn. Nhà thơ Minh Châu theo khuynh hướng thơ mới, Bà mạnh dạn bỏ qua những niêm luật quá gò bó của dòng thơ cổ điển, bỏ đối , thả lỏng luật để biến thể hòa vào trào lưu theo sự chuyển xoay của dòng thi ca thời đại, hầu có thể diễn đạt hết những cảm xúc trong tâm hồn. Thơ Minh Châu không những đẹp về ý mà còn được thể hiện qua nét họa trong thơ, màu sắc của chất họa được ẩn chứa ở bóng chữ, ý câu trong thơ. Kể từ ngày nữ sĩ lìa xứ sở ra đi, bà đã mang theo quê hương trong tim. Bà sống với ký ức qua thơ nên chẳng cần về chốn cũ mà vẫn có thể sưởi ấm tâm hồn; vì quê hương đã là nỗi nhớ ẩn sâu trong tâm hồn nữ sĩ, giúp nhà thơ dệt lên tác phẩm mang tên Thi Họa Hương Lòng.

Sông Hương ấp ủ niềm thương nhớ,
Núi Ngự sầu dâng mộng bẽ bàng
Huế đẹp mơ màng bao luyến tiếc
Tình riêng khắc khỏi gởi mây ngàn…

(“Xuân Nhớ.” Nhớ Thương)

Đèn le lói trên đường lưu lạc
Chợt nghe lòng man mác cô đơn

Có lẽ ít ai biết người đã đồng tâm và đồng hành với nữ sĩ trong sáng tác; đẩy những cảm hứng để bà dệt thành những vần thơ, chất họa; người đó là bác sĩ Hùynh Minh Châu phu quân của bà. Ông là người không làm thơ, vẽ tranh nhưng lại biết cảm nhận cái hay cái đẹp trong thơ, trong họa. Có lẽ nhờ những năm du học ở Paris bác sĩ Huỳnh Minh Châu đã tiếp xúc với văn minh văn hóa Âu Châu, đọc qua nhiều sách báo về văn học nghệ thuật của Pháp nên kiến thức uyên bác. Chính ông đã bình những bài thơ của bà, nhờ đó thơ bà ngày càng khởi sắc. Sự nghiệp văn học nghệ thuật của bà trải dài hơn nửa thế kỷ qua những tác phẩm mà chủ đề luôn gắn bó giữa quê hương và tình yêu bằng ngôn ngữ sắc màu tạo hình. Những tác phẩm tranh Lụa đã đưa tên tuổi của Minh Châu Thái Thị Hạc Oanh vào vị trí tầm vóc hàng đầu trong nền nghệ thuật nước nhà. Là một khuôn mặt quen thuộc trong giới sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam tại Paris và hải ngoại. Bà là thành viên của Ba Lê Thi Xã, hội thơ do giáo sư Cao Văn Chiểu và luật gia Nguyễn Xuân Nhẫn đồng sáng lập, một hội quy tụ nhiều trí thức, khoa bảng, như giáo sư đại học, bác sĩ, luật gia, học giả, dịch giả … nhưng có tâm hồn thơ nên có nhiều người đã thành danh trong làng thơ ngày trước và hiện nay.

Nhiều người trong Ba Lê Thi Xã đã khuất như: Nhà thơ Cô Đầu Ðào Trọng Ðủ, nhà thơ Hương Bình Cao văn Chiểu, nhà thơ Hàm Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn, nhà thơ Bằng Vân Trần Văn Bảng, nhà thơ Ðoàn Ðức Nhân, Nhà thơ Huỳnh Khắc Dụng, nhà thơ Lương Giang Phạm Trọng Nhân, nhà thơ Phượng Linh Ðỗ Quang Trị, nhà thơ Thường Xuân Nguyễn Đình Đạo, nhà thơ Việt Hoài, nhà thơ Song Thái Phạm Công Huyền, nhà thơ Hương Giang Thái Văn Kiểm, nhà thơ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái, nữ sĩ Vân Nương Trần Thị Vân Chung, nữ sĩ Minh Châu Thái Thị Hạc Oanh, nữ sĩ Liên Trang Phạm thị Ngoạn (Ái nữ Cụ Phạm Qùynh), nữ sĩ Thanh Liên. Những người còn sống như, nữ sĩ Quỳnh Liên Công Tằng Tôn Nữ Quỳnh Liên, nữ sĩ Phạm Thị Nhung, nhà thơ Khuê Trai Vũ Quốc Thúc, nhà thơ Phương Du Nguyễn Bá Hậu,Tạ Dương Hồng Lê Khắc Phẩm, nhà thơ Hoài Việt Nguyễn Văn Hướng, nhà thơ Hồ Trọng Khôi, nhà thơ Ðỗ Bình (ít tuổi nhất).

Sau khi hai nhà thơ Hương Bình Cao Văn Chiểu và Hàm Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn mất, nữ sĩ Minh Châu tiếp tục chăm lo vườn thơ. Hội Thơ Ba Lê bắt đầu khởi dựng từ năm 1982 và chính thức ra đời năm 1985, bắt nguồn từ những vị trong Hội Cao Niên Việt Nam, trụ sở của hội là một tòa nhà cao tầng tại số 14 Bd de Vaugirard, Paris 15è do tòa thị chính Paris cấp. Ngày đó tuy còn trẻ nhưng người viết thường lui tới Hội Cao Niên vì nơi đó quy tụ những người đồng cảnh tị nạn, những tâm hồn yêu nước rất thiết tha với quê hương, và thường mượn phòng của hội cao niên để sinh hoạt văn hóa. Trong một buổi họp các bạn thơ để đặt tên nhóm thơ, nhà thơ Hương Bình tức GS Cao Văn Chiểu đề nghị hội thơ tên : Ba Lê Thi Xã, nhà thơ Hàm Thạch tức Luật gia Nguyễn Xuân Nhẫn : “Tôi đề nghị là Hội thơ Ba Lê”, ông nói tiếp: “Hội Thơ Ba Lê, hay Hội Ba Lê Thi Xã gì cũng như nhau, nhưng Ba Lê Thi Xã nghe có vẻ âm hưởng hội thơ thời vua Tự Đức của thi sĩ Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, mà nhà thơ Cao Bá Quát đã có câu thơ chế diễu:

Ngán thay cái mũi vô duyên / Câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An!

Nữ sĩ Minh Châu Thái Thị Hạc Oanh liền phát biểu: “Tôi là cháu của Tùng Thiện Vương đây, còn chị Quỳnh Liên là cháu của Tuy Lý Vương, chúng tôi được mời đến tham dự hội thơ chứ đâu phải là người khởi xướng mà liên quan đến chuyện ngày trước. Dùng danh xưng Ba Lê Thi Xã nghe nó thơ và khiêm tốn, còn dùng Hội Thơ Ba Lê sợ sẽ đụng chạm, biết đâu ở Paris còn có những hội thơ khác!” Từ đó nhóm thơ mang tên: Ba Lê Thi Xã.

Cách nay một năm, nữ sĩ Minh Châu muốn làm sinh nhật lần cuối 92 tuổi, trước đó tôi đã từng làm sinh nhật cho bà với đầy đủ văn nghệ sĩ ở Paris. Lần này bà chỉ muốn vài người: nữ sĩ Quỳnh Liên, phu nhân cố GS Cao Văn Chiểu và nữ sĩ Hồng Trang Nữ phu nhân cố BS Nguyễn Duy Phán, hai nhà thơ này tuổi đời cao hơn nữ sĩ Minh Châu và là bạn thiếu thời của nữ sĩ mà không một buổi họp thơ nào tại tư gia nữ sĩ lại thiếu hai người bạn tri kỷ này. Hôm ấy còn có họa sĩ Nguyễn Xuân Túy, và anh Duy Quang, người con trai duy nhất của nữ sĩ. Sau ngày đó không lâu người con của bà qua đời vì bệnh tim, do đó nữ sĩ Minh Châu lại càng cô độc hơn!

Bà ao ước muốn thực hiện tác phẩm để đời nên tự tay trình bày và hàng ngày chăm sóc tác phẩm. Bà kêu gọi bằng hữu văn nghệ giúp tay chăm sóc để tác phẩm chóng thành hiện thực. Trong suốt thời gian mười mấy năm đã có biết bao nhiêu văn nghệ sĩ vì qúy trọng tài của bà và đã đến thăm và sẵn lòng tiếp tay với bà in ấn tác phẩm, nhưng tất cả đều phải khép lại lòng thiện chí, vì bà quá cầu toàn, lại nguyên tắc và khó khăn, cầu kỳ trong việc thực hiện tác phẩm. Bà muốn những bức họa nổi tiếng một thời được in chung trong tập thơ, và màu sắc phải do bà kiểm soát trong khi sách lại in ở Mỹ, hoặc Hồng Kông! Tôi đã đưa những văn nghệ sĩ đến nhà thăm bà và có thiện chí như: Nhà báo GS Đặng Văn Nhâm ở Đan Mạch, Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh, Nhà văn, họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật ở NaUy, Nhà thơ Như Hoa Lê Quang Sinh ở Texas, Danh họa, Nhà thơ Vũ Hối ở Virginia, Nhà thơ Hà Bỉnh Trung ở Virginia, Nhà thơ, họa sĩ Lưu Nguyễn Đạt ở Virginia, Nhà văn Nguyễn Thùy ở Thụy Sĩ …. Tôi cũng đã đưa Bà gặp gỡ những nhà văn nữ hiện sống ở Mỹ và có nhiều tác phẩm: Nguyễn Thị Ngọc Dung, Dư Thị Diễm Buồn, Hoàng Xuyên Anh, Nguyễn Phan Ngọc An … và một số bạn văn Paris hy vọng họ sẽ giúp bà hoàn thành tác phẩm, nhưng tất cả đều ngần ngại vì sự khó tính và kỹ lưỡng của bà. Lòng say mê văn học nghệ thuật của bà đến độ tuyệt đối khiến tác phẩm cuối đời dang dở không thể thực hiện được!

Bà gọi tôi lên nhiều lần muốn tặng một số tranh, nhưng tôi đều từ chối, tôi nghĩ số tranh đó nên tặng cho tòa thị chính, viện bảo tàng thì đúng hơn. Tôi còn nhớ bài thơ bà viết tặng tôi đã lâu, đó là một đồng cảm về tình quê hương:

Ngàn dặm cách biệt cố hương,
Tình quê u uẩn nhớ thương não nề.
Thu đông mấy bận đi về
Hoài trông non nước u ê cõi lòng
.
(Thanh Hương Các, Ba Lê 1997)

Tôi không thể quên ngày anh chị em văn nghệ sĩ Paris tổ chức ra mắt thi tập Bóng Quê của tôi, nữ sĩ Minh Châu viết lời bình và được mời giới thiệu thi tập. Thời gian đó BS Huỳnh Minh Châu bệnh nặng, nằm trị trong nhà thương. Chúng tôi nghĩ nữ sĩ Minh Châu sẽ không đến, nhưng bà vẫn đến vẫn lên diễn đàn giới thiệu tác phẩm và ở lại cho đến khi chấm dứt bà mới vào nhà thương. Bà rất trọng chữ tín và rất giữ tín. Vì quá nguyên tắc nên bà trở thành một người khó tính nhất Paris, việc gì có bà tham dự là phải rõ ràng, và có nhiều việc chỉ mới gợi ý bà đã phân tích khiến sự việc trở nên phức tạp! Ngoài tính tỉ mỉ và sự uyên bác,bà còn liên quan đến một số chuyện về văn học, lịch sử nên đã có một số nhà nghiên cứu, học giả tìm đến bà vì có nhiều chuyện bà là người trong cuộc, họ trao đổi với bà để hiệu đính lại những điều nhầm lẫn hay bổ túc những điều còn thiếu xót. Những vị thức giả đó đều hoan hỷ sau khi trao đổi, và nhận bà là chị em kết nghĩa.

Tôi may mắn thường được nghe bà kể chuyện đời và những câu chuyện văn chương nghệ thuật. Bà giải thích: “Thường nhật mỗi khi nói đến tranh lụa người ta hay lẫn lộn loại vẽ batik (vẽ lụa theo phương pháp Javanaise) hay vẽ lụa theo lối trang trí (décoration) trên áo, trên khăn quàng, cà vạt khăn bàn … khi vẽ xong phần trang trí, lụa được đem hấp để giữ cho khỏi phai. Lối vễ này thường thấy trong mỗi quận Paris, ở đó có những lớp dạy vẽ ngắn hạn, mỗi khóa chừng ba tháng”.

Tôi hỏi: “Theo cô vẽ lụa trong ngành hội họa Việt Nam có gì đặc biệt?”

Nữ sĩ Minh Châu cười tỏ vẻ hài lòng về câu hỏi. Bà nhấp tách nước trà thấm giọng và nói tiếp: “Ðó là môn học chính trong chương trình trường Quốc Gia Cao Ðẳng Mỹ Thuật, mà giá trị ngang với các môn học chính khác như: Môn Sơn Dầu, Ðiêu Khắc, Sơn Mài, vì tại nơi đây đã phát xuất lối vẽ lụa và được công nhận như một môn học chính thức”.

Ðược biết trường Mỹ Thuật có từ thời Pháp thuộc và được tiếp nối đến sau này. Các sinh viên muốn theo học đều phải có bằng tú tài, và qua kỳ thi tuyển về năng khiếu vẽ. Chương trình học tương tự như những trường Mỹ Thuật tại Pháp, và có thêm vài môn thích hợp với tâm hồn bản xứ là môn vẽ lụa và vẽ sơn mài.

Tôi hỏi: “Vẽ lụa và vẽ sơn dầu cái nào khó hơn?”

Bà trả lời: Vẽ lụa có phần khó khăn hơn vẽ sơn dầu bởi vẽ lụa cần nhiều chi tiết khi thực hiện như tránh xóa bỏ, sửa đổi đường nét, tránh đổi màu. Trong khi đó vẽ sơn dầu chúng ta có đổi màu thêm hay bớt theo sở thích gam màu của họa sĩ. Theo tài liệu cô đã được đọc khi còn ở VN và khi còn dạy ở trường thì môn vẽ lụa gia nhập chương trình có thể vào năm 1923, 1924 thuở sơ khai của trường Mỹ Thuật Ðông Dương (Hà Nội). Giáo sư J. TARDIEU là vị giám đốc đầu tiên của trường Mỹ Thuật. Cô được nghe họa sư Tôn Thất Ðào một trong những người tốt nghiệp các khóa đầu của trường, ông là tác giả nhiều họa phẩm lụa giá trị cũng như các vị giáo sư tiền bối Lê Văn Ðệ, Nguyễn Văn Long .… Ông kể lại: Nguồn gốc tranh lụa là do tình cờ của một sinh viên thời đó (xin thuật lại với mọi dè dặt). Khi ông ta thực hiện một tác phẩm theo lối thủy mạc, vẽ xong ông không vừa ý liền đem đi rửa, mong sửa đổi đôi chút. Trong lúc rửa một phần màu thấm vào lụa, một phần trôi bớt, hình nét tự dưng trở thành mờ mờ, ảo ảo, nhẹ nhàng, khiến cho tác phẩm trở nên đặc biệt có một giá trị mới lạ xưa nay chưa từng thấy. Hồi đó ông ta chưa ý thức được sự việc này nên đem tranh thu vào một góc. Ðến lúc thày bảo góp bài, ông đưa bức vẽ ra nhưng trong lòng rất băn khuăn, e dè! Nhưng khi giáo sư J. Tardieu nhìn thấy tác phẩm không những đã không rầy la, mà còn ôm choàng lấy học trò tỏ lời khen ngợi đã có được sáng kiến mới mẻ, rồi khuyến khích tiếp tục dựa trên cách thức vẽ thường ngày mà bổ túc cho hoàn hảo thành một lối vẽ riêng chỉ có ở Việt Nam. Tranh lụa ra đời từ đó và xem như môn học chính tại trường,và được phổ biến khắp nơi.

Giọng Huế của bà rất êm và nhẹ nhàng như lời ca dẫn tôi vào thế giới đầy sắc màu. Bà thấy tôi im lặng tưởng tôi không muốn nghe nên nói: “Ðỗ Bình đọc thơ cho cô nghe.”

Tôi vội vàng nói: “Thôi! Cô cứ nói tiếp đi, em đang lạc vào thế giới sắc màu! Theo cô bức tranh lụa nào tuyệt hảo nhất thời ấy?”

Bà trả lời liền mà không suy nghĩ : “Bức tranh lụa tuyệt hảo nhất là bức : Người Ðàn Bà Nằm Võng của họa sĩ Lê Văn Ðệ.”

Ðôi mắt già mờ mờ ngước ra khung cửa như nuối tiếc một quãng trời xa xăm đã trôi mất. Bà ngậm ngùi than: “Chiến tranh và thời gian… bao nhiêu đổi dời tại quê nhà, không biết bức tranh đó còn hay mất ?!”

Tôi hỏi: “Sự khác biệt giữa tranh thủy mạc và tranh lụa?”

Nữ sĩ Minh Châu: Tranh thủy mạc là những bức tranh vẽ bằng mực tàu như tranh thủy mạc Trung Hoa, Nhật Bản, Ðại Hàn, nói chung tranh Á Ðông. Màu thường nằm trên mặt lụa, và màu do những chất đá làm ra …. Có nhiều đề tài vẽ theo lối học thuộc lòng cho nên chúng ta được chứng kiến ngay trước mắt khi họa sĩ muốn biểu diễn cho xem. Nét phóng nhanh, bay bướm, cũng thật đẹp. Riêng tranh lụa Việt Nam màu thấm vào sớ lụa, vì trong khi vẽ lụa được rửa nhiều lần nên trông trong suốt. Ðó là những điểm đặc biệt không vẽ theo lối thuộc lòng. Khi sáng tác thì tuần tự theo từng giai đoạn như đã thực hiện cho một bức tranh sơn dầu. Kết luận tranh lụa Việt Nam chịu ảnh hưởng của hai lối vẽ Á Ðông và Tây Phương, nhưng vẫn giữ được một sắc thái hoàn toàn Việt Nam.

Tôi thấy câu chuyện kéo dài sợ bà mệt định ngưng, nhưng bà hiểu ý tôi liền nói: “Ta trối cho em đó! Gắng nhớ sau mà viết!”  Nghe những lời của bà lòng tôi chùng lại, hồn rưng rưng lệ, thương bà và nhớ mẹ nơi quê nhà. Tôi cố ngăn dòng cảm xúc để hỏi tiếp: “Cách thức thực hiện một tác phẩm lụa?” Bà nhỏen miệng cười rất tươi nói : Thực hiện một tác phẩm lụa cũng giống như thực hiện một bức tranh sơn dầu phải qua những phần chính sau đây: Trình bày- Bố cục -Ðường nét,-Màu sắc- Sự sống động toàn diện. Vẽ tranh lụa đòi hỏi người sáng tạo một tâm tình kiên nhẫn, rất công phu, nhiều tỉ mỉ hơn là thực hiện một bức sơn dầu. Vấn đề chọn màu linh động, nhất là lối hòa hợp giữa các màu đạt đến mức độ màu theo ý muốn. Hình ảnh và đường nét trong bức tranh phải tuyệt đối hoàn hảo, bởi lẽ khi thực hiện không thể sửa được. Có thể nói: “Hạ tịch bất hồi”cho lối vẽ lụa thuần túy. Lối vẽ lụa ở các trường Mỹ thuật Sài Gòn, Huế lụa được căng lên khung gỗ, cho một lớp hồ thật mỏng, nếu không khéo “pha hồ “ thì lụa khó ăn màu, khi vẽ đường nét nhoè ra, đôi khi màu loang không thấm vào được lụa thay vì hồ đúng mức, màu chấm đến đâu sẽ thấm nhẹ nhàng vào lụa. Họa sĩ bao giờ cũng vẽ trên lụa ướt, đôi khi đợi lụa tiu tiu. Lụa phải chọn thứ dệt đều sợi, tránh những phần có gút vì khi thực hiện màu sẽ đọng lại mất phần giá trị tác phẩm. Có thể nói một tác phẩm lụa hình nét phải thật đúng, không sửa, không tẩy.Tranh vẽ hoàn tất chỉ còn những mảng màu hòa hợp với nhau một cách thần tình, kỹ thuật thật điêu luyện làm cho khi nhìn bức tranh thêm xúc cảm, thêm hồn (âme), không phân biệt được mặt trái, mặt phải của bức tranh.

Tôi chợt thấy bài thơ trong tập bản thảo, bài: “Thơ cho Huế”. Tôi cầm lên rồi ngâm cho nữ sĩ nghe. Tôi thấy khuôn mặt bà lộ những nét hân hoan. Tôi hỏi: “Cô xa Huế lâu rồi chắc nhớ Huế lắm phải không?” Bà còn đang xúc động vì bài thơ của mình, mỉm cười nói: “Huế là máu thịt của cô, là tiếng nói luôn theo bên mình …. Nhưng chao ôi … thế mà vẫn nhớ Huế da diết chi lạ!”

Bà quên sao được kinh thành Huế năm xưa; thời hoàng kim còn thấp thoáng trong nỗi nhớ được thể hiện qua thơ, trong họa của bà về một ký ức tuổi thơ với biết bao kỷ niệm đẹp của gia đình. Thân phụ của nữ sĩ là một trong những quan nhất phẩm đại triều. Trong số những tấm hình được trưng bày trên bàn, tôi thấy hình của vua Bảo Ðại và Nam Phi hoàng hậu, bên cạnh là tấm hình thân phụ của bà đưa vua Bảo Ðại lúc còn trẻ sang Pháp. Nữ sĩ Minh Châu thấy tôi im lặng trầm tư liền hỏi: “Em đang suy nghĩ gì thế?” Tôi trả lời: “Em thoáng nghĩ về ngày lễ cầi siêu cho vua Bảo Ðại khi chợt thấy tấm hình của vua trên bàn.”

Bà Minh Châu bỗng thở dài và khẽ ngâm câu thơ:

Ðời ví tựa bóng câu qua cửa,
Giàu sang rồi cũng lại sắc không.
Văn chương thi phú bạn lòng,
Rượu vui, trăng ngắm, mơ mòng nàng thơ
.

Câu thơ của nữ sĩ Minh Châu đầy triết lý như một tiếng thở dài về kiếp người phù du. Lòng tôi bâng khuâng nhìn bà như những chiếc lá thu cuối mùa mà liên tưởng đến người mẹ nơi quê nhà làm hồn rưng nước mắt!

Thời gian vẫn trôi lặng lẽ ! Huế và quê hương ở rất xa nhưng tâm tình chốn xưa vẫn còn trên những trang bản thảo. Làm sao kéo chậm lại thời gian để nữ sĩ nhìn thấy tác phẩm cuối đời? Rồi đây những họa phẩm tranh của bà có cùng chung số phận như những bức tranh nổi tiếng của các vị họa sĩ tiền bối trôi giạt về đâu?! Tôi chợt nhớ ngày vua Bảo Ðại băng hà, bỗng có nguồn tin loan nhanh trong giới sinh hoạt: “Những người muốn dự đám tang của vua Bảo Ðại phải có thiệp mời”.

Một khúc film thoáng nhanh trong đầu, ngày đó tôi muốn đến tiễn đưa vị vua cuối cùng của triều nhà Nguyễn lần cuối, như chút tình của người dân đối với một ông vua. Tôi thương cảm đời của một vị vua chìm nổi theo vận nước đổi xoay, đành phải sống lưu xứ và gởi thác nơi quê người. Nghĩ đến ông mà xót xa cho những thân phận lưu vong! Tôi liên lạc với với một số người, nhưng ai cũng đều nhận được nguồn tin trên. Họ lấy làm tiếc vì không nhận được thiệp mời! Tôi liên lạc với ông Tổng thư ký Văn Phòng Liên Lạc Các Hội Đoàn Người Việt Tự Do tại Pháp thời đó, ông cho biết cũng không có giấy mời. Tôi nói: “Mình cứ đến anh Dương Văn Lợi ạ! Tôi nghĩ đám tang vua Bảo Ðại hành lễ ở nhà thờ, chắc nhà thờ không ngăn cản người đi dự lễ đâu?”

Bên kia đầu giây điện thoại Kỹ sư Dương Văn Lợi nói: “Chưa chắc đâu! Họ không muốn người ngoài tham dự nên thể nào cũng đòi có giấy mời.”

Tôi liền trả lời: “Tôi có liên lạc với một số người trong hoàng tộc họ cho biết không có vụ đòi giấy mời. Họ cũng rất ngạc nhiên về nguồn tin trên!”

Ông Dương văn Lợi nói: “Nếu thế thì mình đi.”

Hôm ấy trời Paris không lạnh, nhưng nền trời âm u, buồn bã. Mưa trút nước xối xả nhòa cả đường phố. Có phải đây là những giọt lệ của trời đưa tiễn một người đi nên làm mưa, không gian như có chút gì âm hưởng mưa trên xứ Huế. Chúng tôi vào nhà thờ chẳng một ai hỏi giấy mời. Trong thánh đường đã đông người, tuyệt đại đa số khách đều là người Pháp, tôi bỗng thở dài, trong lòng dấy lên nỗi buồn! Paris rất đông người việt, một vị vua băng hà chỉ có bấy nhiêu người đồng hương đến tiễn đưa sao?! Thật là quái ác cái nguồn tin thất thiệt đòi giấy mời đó!

Xong lễ phép xác, một người đàn ông mặt buồn rầu bước ra về. Tôi tiến lại gần nữ sĩ Minh Châu hỏi nhỏ : “Người vừa đi là Hoàng Tử Bảo Thắng phải không cô ?”

Nữ sĩ nói: Cô cũng mới trả lời giáo sư Vũ Quốc Thúc và hiền tài Lê Trung Cang câu này. Ðó là Hoàng Tử Bảo Long. Cô còn đưa ý kiến: Vua Bảo Ðại theo đạo thờ cúng tổ tiên, nên cô thử hỏi Hoàng Tử Bảo Long, nếu có một số người muốn xúc tiến tổ chức 49 ngày cho vua Bảo Ðại, xem ông có đến tham dự không? Nói rồi cô đến Hoàng Tử Bảo Long hỏi ý kiến, và ông trả lời là rất sãn sàng và đã cho địa chỉ để liên lạc.

Do đó tại tư thất của bác sĩ Nguyễn Duy Tài mới có cuộc họp quy tụ một số nhân sĩ trong cộng đồng để thảo luận việc xúc tiến tổ chức. Mọi người có mặt biểu quyết, nhiều ý kiến thuận, một số ý kiến bất đồng viện lý do không hề thấy người trong hoàng tộc tham gia trong công cuộc đấu tranh chống độc tài Cộng Sản. Không ngờ trong số những người dự phiên họp có ông bà dược sĩ Phạm Ðăng Lý và phu nhân là dược sĩ Công Tằng Tôn Nữ Mộng Hoa, cả hai là những khuôn mặt đấu tranh nổi tiếng và kiên trì ở Paris. Như thế những lời đồn là sai sự thật! Người trong hoàng tộc có tham gia trong công cuộc đấu tranh tại Paris như mọi người, nhưng không muốn nhân danh hoàng tộc mà chỉ vì lòng yêu nước yêu tự do. Vì ý kiến bất đồng nên cuộc họp không có kết quả. Do dó mới có cuộc họp ở nhà bà Minh Châu. Ông Bảo Hưởng và bà Minh Châu đã liên lạc với một số nhân sĩ: gồm có đại diện Hoàng tộc là Ông bà Bửu Phúc ở Nice lên, Hiền tài Lê Trung Cang, ông Phan Quốc Uy, giáo sư Nguyễn Vô Kỷ, nghệ sĩ Thúy Hằng và tôi. Qua những phân tích về xu thế chính trị và tâm lý quần chúng, mọi người chừng như e ngại, sợ tổ chức sẽ bị thất bại làm tổn thanh danh của vua Bảo Ðại. Tôi thấy tình trạng thảo luận càng kéo dài sẽ làm nản lòng thêm những người hiện diện, do đó liền nói: “Nếu các vị bằng lòng xúc tiến, tôi xin hứa sẽ mời được 300 người.” Lời phát biểu của tôi đã đánh tan mọi sự e ngại, và phiên họp đã có kết quả. Ông Bảo Hưởng sẽ chịu tất cả mọi chi phí và đứng làm trưởng ban tổ chức cùng ông bà Bửu Phúc, những người khác sẽ tiếp tay. Ông Phan Quốc Uy cho biết: “Trong nghi thức Phật giáo, theo lời kinh, để tỏ tấm lòng chữ hiếu, bắt buộc người con phải lạy cha mẹ quá cố.”

Ở điểm này ông Bảo Hưởng cho biết: “Chân Hoàng Tử Bảo Long hiện nay bị gẫy không thể qùy lạy được, tôi có thể qùy lạy thay cho Hoàng Tử Bảo Long được không?” Một điều quan trọng nữa là Hoàng Tử Bảo Long phải đọc một bài điếu văn bằng tiếng việt trong buổi lễ. Ai cũng biết Hoàng Tử Bảo Long đã rời quê hương từ lúc còn nhỏ, nên e ngại nhưng không nói ra.

Sau khi ông Bảo Hưởng gởi thiệp mời đi, chỉ một tuần lễ đầu đã có hơn một ngàn người gọi điện thoại sẽ đến tham dự, qua tuần lễ sau số thiệp mời phải in thêm. Hôm 05/10/1997 tại chùa Vincennes đã long trọng tổ chức ngày đại lễ thất tuần cho vua Bảo Ðại. Số người đến dự lên đến trên 3 ngàn người; hầu hết những khuôn mặt sinh hoạt nổi tiếng trong cộng đồng đều tham dự. Phần nghi thức tế lễ do một ban nghi lễ cổ truyền, cùng những vị đại diện tôn giáo. Những bài điếu văn mang tính lịch sử làm sáng tỏ thêm về nỗi lòng của một vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, do giáo sư Vũ Quốc Thúc, thẩm phán Nguyễn Quốc Hưng, nhà thơ HồTrọng Khôi đọc gây xúc động người tham dự; trong đó có đủ lứa tuổi từ các cụ già tuổi đã ngoài tám, chín mươi, và có các cháu thanh thiếu niên sinh sau năm 75. Sự đông đảo đã nói lên tình cảm thương mến cũa dân chúng đối với vị vua cuối cùng của Việt Nam.

Tôi thấy bà Minh Châu là người đứng sau nhắc nhở những điều cần thiết về thủ tục nghi lễ với các Hoàng Tử, Công Chúa. Trước linh cửu của vua Bảo Ðại, các Hoàng Tử Bảo Long, Bảo Thắng, các Công Chúa Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung, và Hoàng Tử Bảo Hưởng đều mặc tang phục. Ðiều làm cho những người có mặt xúc động, Hoàng Tử Bảo Long qùy lạy suốt buổi hành lễ và đọc bài điếu văn bằng tiếng Việt giọng Huế nghe rất cảm động.

Cõi thơ là cõi bồng bềnh, nhưng cõi đời lại trầm bổng! Nữ sĩ Minh Châu đã đi khắp đó đây gần thế kỷ, trải qua những thăng trầm của lịch sử, và theo dòng sử mệnh trôi giạt đến Paris, rồi sẽ dừng ở đây. Ngoảnh lại nhìn những chuỗi đường đã qua, nữ sĩ chợt phát hiện chỉ có tâm hồn nghệ sĩ làm cho đời thêm ý nghĩa. Nhà thơ vốn dĩ đã cô đơn, tuổi già càng cô quạnh vì không giải được hết nỗi niềm, cho nên nữ sĩ tìm thú vui và tri âm trong những trang bản thảo để nghe lòng mình thổn thức:

Nhìn trăng, trăng lạnh như tờ,
Nhìn mây, mây cũng hững hờ xa xôi.
Gió đâu thoạt đến liên hồi
Bàng hoàng chợt tỉnh giòng đời trôi nhanh!

Thu năm nay anh chị em văn nghệ sĩ Paris cùng nhau họp mặt sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề Paris Chiều Tưởng Nhớ để vinh danh những tác giả và tác phẩm vang bóng một thời, nhưng lại vắng nữ sĩ Minh Châu, bà đã đi sớm hơn buổi hội ngộ ít ngày! Ngoài trời lá thu đã vàng nhưng chưa rụng nhiều, bà đã lìa cõi trần khi những chiếc lá vẫn còn trên cành. Nữ sĩ ra đi không kịp làm thơ để ca ngợi cái đẹp của thiên nhiên vào mùa thu, và cũng không còn chờ đợi những người bạn thơ đến nhà họp bạn bình thơ, vì nữ sĩ đã theo những chiếc lá bay vào cõi vô tận. Chiều hôm tiễn đưa bà về nơi yên nghỉ, trời Paris nắng đẹp, hàng cây trong nghĩa trang rực lá vàng. Trước mộ nữ sĩ Minh Châu, hai người tuổi hạc là nữ sĩ Quỳnh Liên và nữ sĩ Hồng Trang Nữ đứng ngẩn ngơ vì thương tiếc bạn. Sự xúc cảm đã thành thơ, và đã đọc trước mộ:

Khép mi lệ vẫn tuôn dài
Tiễn người khuất bóng nhớ hoài cố nhân.

(Quỳnh Liên)

Ra đi chẳng nói một lời
Để mình ở lại suốt đời thương đau
Bài thơ dang dở chưa thâu
Oánh ơi xin hẹn gặp nhau thiên đàng.

(Hồng Trang Nữ)

Bà ra đi là giải thoát hết khổ đau mà kiếp người ai cũng phải trải qua lúc tuổi già bệnh tật. Tôi không làm thơ vì sợ bài thơ không đủ diễn tả tấm lòng ngưỡng mộ về bà, nên viết đôi dòng từ đáy lòng như tâm khúc để tưởng nhớ về một người bạn thơ, một ngưòi Thày đã đồng hành trên con đường chân thiện mỹ.

Đỗ Bình
Paris 20 tháng 10 năm 2014
Nguồn: Bài do nhà văn Khổng thị Thanh Hương chuyển

Đã đóng bình luận.