Lam Phương – Nhạc sĩ tài hoa

Posted: 26/09/2018 in Tùy Bút / Tản Mạn / Tạp Ghi, Thu Phong
Thẻ:

Thu Phong

Viết tác phẩm đầu tay “Chiều thu ấy” năm 15 tuổi, đến nay nhạc sĩ Lam Phương đã có hơn 200 ca khúc. Nhạc của ông rất phong phú cả về đề tài lẫn giai điệu.

– Về tình trạng chia cắt đất nước, ông có nhạc phẩm “Chuyến đò vĩ tuyến”
– Về đề tài thanh niên, ông có “Nhạc rừng khuya”, “Đoàn người lữ thứ”
– Về nông thôn ông sáng tác: “Trăng thanh bình”, “Nắng đẹp miền Nam”, “Khúc ca ngày mùa”…
– Về lính (nhạc sĩ Lam Phương nhập ngũ năm 1958)  ông viết “Chiều hành quân”, “Tình anh lính chiến”, “Kiếp tha hương”, “Đêm dài chiến tuyến”,”Đêm tiền đồn”
– Về bậc sinh thành, ông viết “ Tạ ơn mẹ”, “Tình mẹ”
– Về thân phận nhạc sĩ viết “Kiếp nghèo”, “Kiếp phiêu bồng”, “Kiếp tha hương”, “Kiếp ve sầu”, “Một mình”, “Thuyền không bến đỗ”
Tình yêu là đề tài nhạc sĩ Lam Phương viết nhiều nhất: “Duyên kiếp”, “Em đi rồi”, “Lạy trời con được bình yên”, “Lời yêu cuối”, “Ngày buồn”, “Nghẹn ngào”, “Phút cuối”, “Thu sầu”, “Tình nghĩa đôi ta”, “Trăm nhớ nghìn thương”, “Mưa lệ”, “Em là tất cả”, “Ngày hạnh phúc”, “Biển tình”…
– Về đề tài ly hương nhạc sĩ viết “Sài Gòn ơi vĩnh biệt”, “Sầu viễn xứ”
– Về tuổi mới lớn, ông có bài “Bé yêu”…

Nếu chia nhạc Việt ra làm 2 loại “trí thức” và “bình dân” dựa theo nhạc sĩ, ca sĩ, người nghe theo đó nhạc “trí thức” là nhạc có giai điệu “gập ghềnh” tương đối phức tạp; có ca từ sâu sắc, sử dụng tính ẩn dụ, tượng trưng, đôi khi phải suy nghĩ mới hiểu hết ý; không dễ sáng tác, không dễ hát và giới thưởng ngoạn thuộc tầng lớp trí thức. Còn loại “bình dân” thì ngược lại: dễ viết, dễ hiểu, dễ hát (và sử dụng điệu belero?)

Với những điều kể trên, người ta có thể xếp nhạc Lam Phương thuộc loại “bình dân”. Cũng cần nhớ là sự xếp loại ấy không liên quan đến giá trị nhạc: không phải loại “trí thức” cao hơn, hay hơn loại “bình dân”.

Về tính chất có thể chia nhạc phẩm của nhạc sĩ Lam Phương ra làm 3 nhóm:

-Nhóm xanh (lạc quan, vui tươi): Các tình khúc thắm đẫm hạnh phúc như “Biển tình”, “Bé yêu”, “Ngày hạnh phúc”. Các ca khúc viết về thanh niên, quê hương miền Nam thanh bình cũng thuộc nhóm này.

– Nhóm tím (lãng mạn và u buồn): các ca khúc viết về tình yêu đượm buồn, man mác buồn, thứ tình yêu “có trăm lần vui, vạn lần buồn” và các ca khúc nỗi buồn nhân thế như “Em là tất cả”, “Tình anh lính chiến”, “Thành phố buồn”, “Duyên kiếp”, “Phút cuối”

-Nhóm xám (đau khổ, bi quan): các ca khúc viết về hoàn cảnh nghèo khổ, cô đơn, cô độc; các tình khúc nói lên sự chia ly, nỗi bi ai, tuyệt vọng. Đó là các ca khúc “Kiếp nghèo”, “Thu sầu”, “Say”, “Vĩnh biệt”, “Mưa lệ” , “Nghẹn ngào”, “Lời yêu cuối”, “Lạy trời con được bình yên”…

Dễ nhận thấy 2 nhóm sau chiếm hầu hết sáng tác của nhạc sĩ.

Có lần, trả lời trong một cuộc phỏng vấn, ông nói  “Có đau thương, có xót xa mới có cảm xúc để viết”. Ông đã nói thực, đa số tác phẩm của ông thể hiện nỗi buồn đau, nỗi khổ của chính ông; và ông đã nói đúng cho sự sáng tạo văn nghệ nói chung.

Nghệ thuật-nhất là văn, thơ, nhạc, ca kịch, phim ảnh, đa số nói lên cái buồn và ít có tác phẩm nào diễn tả niềm vui mà hay được.

Phải chăng do định mệnh của con người? Đức Phật nhận ra bản chất của cuộc đời và ngài đã nói lên: “đời là bể khổ”.

Và phải chăng con người khi sống trong cảnh giàu có, sung túc, hạnh phúc khó sáng tác được?

Thực tế đau khổ là vùng đất để nghệ thuật sinh sôi nảy nở. Sống trong cảnh đọa đày Aleksandr Isavevich  Solzhennitsyn  viết nên “Tầng đầu địa ngục”, Boris Pasternak có tác phẩm “Doctor Zhivago”. “Những người khốn khổ” của Victor Hugo đã miêu tả chân thực thế giới của những người nghèo khổ ở nước Pháp nói chung và ở Paris nói riêng vào nửa đầu thế kỷ 19.

Đời nhạc sĩ Lam Phương, cũng như nhiều người khác, có buồn có vui; tuy nhiên buồn nhiều hơn vui và nỗi buồn đeo đuổi ông, ám ảnh ông không rời. Chính từ nỗi buồn đau ấy ông mang đến cho người nghe những ca khúc đặc sắc nhất của mình.

Bản sắc rất quan trọng trong nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng. Tuy nhiên một “air” nhạc thống nhất có thể khiến người nghe dễ chán nếu nó là sự lập lại hoặc sự nghèo nàn.

Nghe “Nhạc rừng khuya”, “Tình anh lính chiến”, “Khúc ca ngày mùa” của Lam Phương, người ta liên tưởng đến nhạc của các nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Nguyễn Văn Đông, Hoàng Thi Thơ…

Đó là do nhạc Lam Phương rất phong phú cả về đề tài lẫn giai điệu. Dĩ nhiên sự “giông giống” ấy không làm kém giá trị nhạc của ông.

Giản dị, giàu cảm xúc là thuộc tính trong các ca khúc của những nhạc sĩ được xếp vào loại “bình dân” như Trúc Phương, Trần Thiện Thanh, Hoài Linh, Hàn Châu,  Phạm Thế Mỹ…

Nhưng có phải nhạc sĩ Lam Phương không có đặc điểm để có thể “nhận diện”? Bản sắc trong nhạc Lam Phương là gì?

Trước hết người ta thấy ngay đó là chất lãng mạn hết mức, cảm xúc dạt dào, và nếu nghe kỹ người ta thấy tuy giản dị chân chất mà không kém nét sang trọng.

Nhạc Lam Phương rất giàu âm sắc. Dây đàn của ông có khi rung lên rất nhẹ, rất trầm, diễn tả cảm xúc vu vơ, mơ hồ, mông lung, khiến ta buồn man mác.

Nhưng cũng có khi chúng bật lên rất mạnh, rất căng, cơ hồ muốn đứt, đẩy tâm trạng trong ca khúc của mình lên rất cao.

Nhạc Lam Phương làm say, làm mềm lòng người nghe. Có người còn nhận định nhạc của ông là một thứ âm nhạc nha phiến.

Vì sao nhạc Lam Phương có sức thu hút, quyến rũ dường ấy? Chính là vì sự chân thành xuất phát từ cảm xúc thật của ông. Hầu như tất cả nhạc phẩm của nhạc sĩ Lam Phương đều xuất phát từ trải nghiệm của đời ông, từ cảm xúc của chính ông.

Cha ông bỏ mẹ con ông ra đi từ khi ông còn nhỏ dại. Mẹ ông phải vất vả tần tảo nuôi đàn con 6 đứa. Lam Phương là con trưởng, mới 10 tuổi đã một mình lên Saigon để kiếm ăn và giúp gia đình. Từng trải qua cảnh nghèo cơ cực nên ông viết “Kiếp nghèo” rất đạt:

“Đường về đêm nay vắng tanh, Rạc rào hạt mưa rớt nhanh, Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, Mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh, Lầy lội qua muôn lối quanh, Gập ghềnh đường đê tối tăm, Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi”

Rất thương mẹ ( nhắc đến mẹ là ông khóc) ông viết “Tạ ơn mẹ”:

“Ðêm nay nằm nghe sóng vỗ, êm đềm như tiếng mẹ ru, Lời ru của thuở ban đầu, nụ cười tiếng khóc đầu môi, đã làm đời mẹ buồn vui…Ðến khi khôn lớn ra đời, lời mẹ hiền nhớ khôn nguôi…Ðêm nay đường xa đất lạ, gió về ôm ấp biển khơi, quê hương ở tận phương trời. Lời nào thương nhớ cho nguôi những lời nồng nàn trong nôi… sẽ theo con đến cuối đời, ơn mẹ ngàn kiếp chưa vơi..”

Tình yêu với ca sĩ Thúy Nga là mối tình đầu tiên trong đời nhạc sĩ Lam Phương. Hay tin cô kết hôn với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ lúc đang hành quân ở vùng thôn vắng, ông đã vô cùng đau đớn. Cảm xúc ấy ông ghi lại trong nhạc phẩm “Chiều Hành Quân”:

“Một chiều hành quân qua thôn xưa lúc nắng xuân chưa nhạt màu… em tôi đã đi phương nào?… giờ còn tìm đâu hình bóng cũ: em ơi! em về đâu?… Về đâu em ơi lúc tình còn xanh…em vẫn là nguồn sống…nhưng hoa chưa tàn mà lòng ai đã đổi thay…Dù mộng tàn phai trong thương đau vẫn nhớ mãi duyên ban đầu…” 

Tình đầu dỡ dang rồi cũng qua mau. Kết hôn với kịch sĩ Túy Hồng, lòng tràn đầy hạnh phúc Lam Phương viết “Em là tất cả”  và “Ngày hạnh phúc”.

Nhạc phẩm “Ngày Hạnh Phúc” có giai điệu vui tươi, ca từ lạc quan yêu đời, tràn đầy mộng ước tươi sáng:

“…Từ khi sánh vai nên đôi bạn hiền, Đêm về nghe con khóc vui triền miên, Lời ru trong đêm vắng với tình thương chứa chan, Còn mong ước gì vì ta vẫn bên nhau, Ngày em lo nương khoai dưới mưa dầm anh lo cầy cấy, Dù cho bao gian lao nhưng tình nghèo góp sức mà vui, Cầu mong cho mai sau gió đưa thuyền tình về bến mơ, Phút bạc đầu đẹp lòng lứa đôi”

Hôn nhân với Túy Hồng tan vỡ ; đau khổ vì bị phụ tình, ông viết nhạc phẩm mang tên “Lầm”, với những ca từ chua xót:

 “Anh đã lầm đưa em sang đây. Để đêm thường nghe tiếng thở dài, Thà cuộc đời yên trong lòng đất.  Được trở về tiếng khóc ban sơ, Hơn là mang kiếp mong chờ. Anh đã lầm đưa em về đây. Cho tâm hồn tan nát từng ngày. ..Đưa anh vào khổ lụy hôm nay…”

Đến Paris, gặp được tình yêu mới ông viết những nhạc phẩm vui tươi, chan chứa hạnh phúc: “Mùa thu yêu đương”, “Tình hồng Paris”…

Và Lam Phương đã cảm ơn đời cho ông có lại tình yêu:

“Từ ngày có em về, nhà mình tràn ánh trăng thề. Dòng nhạc tình đã tắt lâu, tuôn trào ngọt ngào như dòng suối.…Giờ mình có nhau rồi, đời đẹp vì tiếng em cười.Vượt nghìn trùng qua bể khơi, dắt dìu cùng về căn nhà mới… Xin cảm ơn đời còn nhau…” (“Bài tango cho em”)

Ông lo sợ, van nài tình yêu đừng bỏ ông lần nữa:

“Tình yêu từ đâu mà tình yêu vội vã chiếm tim ta, Chỉ một lần qua mà đêm đêm hình bóng mãi bên ta, Lời nào dịu êm người đưa ta tìm những giấc mơ xa, Lòng thầm bảo nhau rằng đôi ta gặp gỡ trong kiếp nào…Tình còn chờ ai để con tim vàng võ suốt đêm nay, Tình đừng nhạt phai tình ơi xin tình chớ thêm u hoài…” (“Tình Đẹp Như Mơ”)

Cũng có người cho rằng rằng nhạc Lam Phương là nhạc “sến”. Điều ấy không đúng chút nào. Nếu định nghĩa “sến” (theo nghĩa chê bai ) là nhạc có giai điệu não nuột, ca từ rên rỉ, sướt mướt, bình dân đến mức thô thiển thì không thể gọi bất cứ ca khúc nào của Lam Phương là sến. (Trẻ em hoặc mấy anh xích lô nhại lời nhạc của ông là chuyện khác)

Ngược lại, nhạc Lam Phương tuy được xếp vào loại nhạc “bình dân” nhưng có những ca khúc rất sang trọng.

Nếu bài “Thành phố buồn” (*) <mời nghe Thành phố buồn-Chế Linh hát > cả giai điệu lẫn ca từ đơn giản, mượt mà, “bình dân”  thì với  “Đà Lạt cô liêu” <mời nghe Đà Lạt cô liêu-Hương Lan hát>, Lam Phương có những ca từ không mộc mạc, êm ả mà “gập ghềnh” thường thấy trong các ca khúc được xếp vào loại “trí thức”, “sang”:

Đà Lạt đau! Ai hay? Ai biết?
Nhớ anh thông già hắt hiu
Dâng theo con nước ban chiều
Hồn em cũng lắm tiêu điều.
Còn đâu trăng thanh suối biếc?
Bóng chim xa đồi ái ân
Rừng xanh tan tác cô liêu
Nhớ anh sương phủ bóng chiều.

“Sầu viễn xứ” <mời nghe Sầu viễn xứ-Lưu Hồng hát>, là một nhạc phẩm kết hợp sự sang trọng và giản dị cả trong giai điệu lẫn ca từ, cùng lúc diễn tả nỗi buồn ly hương và nỗi buồn chia cắt trong tình cảm riêng. Ca khúc này có những ca từ rất sâu sắc, lắng đọng, rất đẹp; ngoài ra nó còn đặc sắc ở chỗ khiến người nghe buồn man mác mà sâu đậm, tưởng như mâu thuẫn nhưng rất tự nhiên.

 “Ta đang âm thầm chờ thu. Ta đang đơn lạnh nhìn thu. Mùa thu Paris nghìn năm lá đổ… Ta đi trong lòng nàng thu. Êm êm như lời mẹ ru. Lời ru trên môi hoà trong máu thở, Còn vương trong tim ngày xa đất tổ. Bây giờ mẹ vào hư vô… Một người miền xa ôm sầu viễn xứ. Bước chân lặng câm sáng đi tối về, Cõi buồn nghe dài lê thê, Ta xin gởi trọn niềm đau. Yêu hơn những ngày còn nhau, Tình trong phong ba chìm theo sóng gào, Đời anh gian lao tình em úa màu, Chỉ còn giọt lệ cho nhau”

Trong “Duyên kiếp”, nhạc sĩ Lam Phương viết 4 câu mở đầu tưởng chừng như “sến” và đã bị/được nhại thành “Em ơi nếu mộng không thành thì sao, Mua chai thuốc chuột uống vô rồi đời..”:

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao, Non cao đất rộng biết đâu mà tìm,Đường đời mịt mùng vạn nẻo về đâu, Mong chờ duyên kiếp đưa lối bắc cầu”

Thực ra, có đôi lứa yêu nhau nào mà không lo sợ tình tan vỡ, mộng không thành? Nữ thi sĩ  Minh Đức Hoài Trinh có nói đến nỗi lo sợ này qua 4 câu thơ rất hay “Kiếp nào có yêu nhau, Nhớ tìm khi chưa nở, Hoa xanh tận ngàn sau, Tình xanh không lo sợ”.

Nếu những câu ca ấy là sến thì mấy ai trong chúng ta khi yêu mà không sến? Tôi tin rằng khi người ta quá yêu nhau, người ta sẽ trở thành “sến”

Ngay cả với bài hát “Nắng đẹp miền Nam” là nhạc phẩm viết về đề tài nông thôn, ông cũng có những ca từ hay bất ngờ:

“Đây trời bao la ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh. Ta cùng chen vai đem tay góp sức tăng gia cho người người vui hòa. Đường cày hôm nay lên tràn bông lúa mới ôi duyên dáng đồng ơi! Đến mai sẽ là ngày muôn hạt chín lả lơi mình ngắm nhau cười”.

Cánh đồng duyên dáng! Bông lúa lã lơi! Chữ dùng thật đúng, thật hay.

“Sầu ly hương” cũng vậy, từ ca từ đến giai điệu xa với phong cách nhạc bình dân:

“…Chiều năm xưa vui tươi, gió reo ca vang trên môi cười, Tình kết liên muôn người, Thuyền trôi trong lênh đênh, trùng dương xa mông mênh, Lạnh buốt đến thê lương sầu hoài hương, Buồm vương theo sương lam, hoài đi quê ly tan, Ngàn sóng vang lên niềm tin ngàn”

Nhạc sĩ Lam Phương có nhiều ca từ đầy hình ảnh, rất hay, rất đẹp và sâu sắc.

Ngay từ bản nhạc đầu tay “Chiều thu ấy”  người ta đã tìm thấy những ca từ đậm chất văn chương:

“Nhìn mây bay, hồn lâng lâng theo gió lay hương mùa say”, “Mùa trăng mơ chiều thu xa vắng”, “Mùa vui êm như chiều say trăng”, “Hồn lâng lâng làn hương thu sang”

Và hãy đọc/nghe lại:

“Đà Lạt đau! Ai hay? Ai biết?”, “ Nhớ anh thông già hắt hiu, Dâng theo con nước ban chiều”, “Mùa thu Paris nghìn năm lá đổ”, “Ta đi trong lòng nàng thu”,” Êm êm như lời mẹ ru. Lời ru trên môi hoà trong máu thở”, “Bước chân lặng câm sáng đi tối về”,“Đây trời bao la ánh nắng mai hé đầu ghềnh lan dần tới đồng xanh”…

Không có nhiều nhạc sĩ vừa bình dân vừa sang trọng, được cả giới bình dân lẫn trí thức yêu thích như Lam Phương.

Nhạc Lam Phương đa dạng bậc nhất! Lam Phương tài hoa bậc nhất!

“Say” và “Bé yêu” là 2 ca khúc đặc biệt của Lam Phương. Ca khúc “Bé yêu” <mời nghe Bé yêu-Thùy Hương hát > khiến người nghe liên tưởng đến ca khúc “Xin cho anh số nhà” của Trần Thiện Thanh.

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác ca khúc “Xin cho anh số nhà” không có gì lạ. Ông có nhiều bài hát về tuổi mới lớn.

Còn “Bé yêu” làm chúng ta ngạc nhiên. Sầu khổ, buồn bã như vậy mà có thể viết ra giai điệu nhí nhảnh hồn nhiên vui tươi đến thế! Và  dường như Lam Phương viết nhạc phẩm này lúc ông đã già!

Như trên đã nói, sau cuộc hôn nhân tan vỡ với Túy Hồng, Lam Phương đến Paris để ‘tỵ nạn tình yêu”. Giống như lúc mới sang Hoa kỳ, nhạc sĩ của chúng ta đã làm nhiều việc chân tay nặng nhọc để kiếm sống. Nếu ở Hoa Kỳ ông nổ lực để giữ gìn tình yêu đã có thì ở Pháp ông nổ lực để quên đi tình yêu ấy. Và Thần ái tình đã xúc động, đền bù cho ông một mối tình khác, một phụ nữ tên Diệu (?)  đến với ông, là nguồn cảm hứng để ông viết những nhạc phẩm vui tươi, chan chứa hạnh phúc.

Nhưng định mệnh buồn không buông tha Lam Phương, tình yêu lại đến rồi lại đi: người phụ nữ ấy đã tình nguyện đến để an ủi, để chia sớt nỗi buồn tưởng khôn nguôi của ông chưa được bao lâu lại bỏ ông ra đi. Vốn nhạy cảm, yếu đuối ông không chấp nhận “tình yêu như cánh chuồn chuồn, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay” ông lại rơi vào khổ đau. Vết thương lòng vừa mới lành, một lần nữa lại bị xé toạc, lần này đau hơn cả lần trước.

Và ông làm một việc bình thường như nhiều người đàn ông khác trong tình cảnh tương tự: uống rượu. Rựơu là một thức uống kỳ lạ, đầy mâu thuẫn. Người ta nhờ nó để hổ trợ tinh thần, cả khi ngỏ lời yêu thương lẫn khi thốt ra lời xách mé; người ta tìm đến nó để bộc lộ, chia sẻ niềm vui lẫn khi muốn vơi đi nỗi buồn.

Tuy nhiên, kẻ mượn rượu giải sầu chỉ đạt được ý định khi say thực, nghĩa là đến mức nằm thẳng cẳng, quên trời quên đất.

Nhạc sĩ đau khổ của chúng ta bảo mình say, nhưng thực ra ông không hề say. Và điều ấy chính là bi kịch: Uống để quên đi nỗi cay đắng trước tình đời đen bạc, để vơi bớt nỗi buồn đau, ông lại càng buồn, càng đau hơn.

Lam Phương đã viết “Say” <mời nghe Say-Gia Huy hát > với những ca từ không thể cay đắng, xót xa hơn:

Ta say, trời đất cũng say.

Đúng! ai đó nếu đã say thì “trời đất cũng say” theo.

Ta điên vì những buồn phiền.

Có thể, quá buồn phiền khiến ai đó hóa điên. Nhưng nhạc sĩ có thực say, và có điên không?

Ta buồn ta chán sự đời.
Vì đời bạc tựa như vôi.
Đêm nay nằm ngủ ngoài hiên.
Quanh ta có mảnh trăng hiền.
Ta ôm lòng đất vào tim.
Say trong giấc ngủ, cho quên đi kiếp làm người.

Dường như ông đã say, vì người tỉnh ngủ trong nhà chứ không nằm ngoài hiên.

Tình đưa vào biển khơi, sóng nào cướp tận tay tôi.
Nhớ những đêm lẻ loi, những phút người vui nỗi sầu nay ai có hay.
Ôi trần thế khổ đau, tình trước tình sau, biết tình nào đến bạc đầu.
Ta biết ta đã già, nên người đã vội bỏ ta đi.
Đêm nay rượu ít mà say. Hay say vì hiểu lòng người.

Đến đây thì đã rõ: nhạc sĩ chưa điên, vì người điên không còn ý thức, sung sướng, hay khổ đau; ông cũng không say rượu, vì ông uống không nhiều, mà ông “say vì hiểu lòng người”! (Một chữ dùng khá lạ)

Nhạc sĩ lụy tình, đau khổ đến mức nằm ngoài hiên dưới trăng mà ôm lòng đất vào tim để quên đi kiếp làm người; ông kêu lên ai đã cướp tình yêu trên tay mình, rằng nỗi sầu của ông có ai hay biết. Ông đau khổ đến mức thấy cả trần thế khổ đau.

Cuối cùng, người ta nghe ông kêu lên thống thiết:

Ta cầu cho kiếp sau này, được làm cỏ dại xanh tươi.

Xưa, buồn nhân tình thế thái, thi sĩ Nguyễn Công Trứ đã thốt lên “Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”

Thi sĩ xưa chỉ “xin”, có nghĩa là “vui lòng cho tôi”, tiếp sau đó là nói lên điều mình xin một cách bình thường.

Nay trong đau khổ tột cùng, người nhạc sĩ tài hoa và vô cùng nhạy cảm của chúng ta chỉ muốn làm cỏ dại!  Và ông đã “cầu”, nghĩa là van nài, “cầu khẩn” để “được” điều mình muốn.

Lam Phương đã quyết liệt hơn, tha thiết hơn Nguyễn Công Trứ.

Nhưng thôi, so sánh người nay với người xưa là khập khiểng.

Trở lại câu cuối trong nhạc phẩm “Say”, người ta tự hỏi sao không phải là hoa?

Có lẽ vì hoa chắc chắn được người ta yêu thích và chọn, nhưng không có gì bảo đảm lâu dài, có thể một thời gian sau người ta bỏ đi để chọn một thứ hoa khác; cỏ dại thì yên bình trên đồng hoang, con người không chạm đến, cỏ dại không có ai phụ bạc, không biết khổ đau.

Quá đau khổ Lam Phương muốn lánh con người càng xa càng tốt?

Nhạc Lam Phương được hầu hết ca sĩ  Việt Nam hát trong đó có đủ mặt danh ca: Hà Thanh, Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Sĩ Phú…Và các ca sĩ được nhiều người yêu thích, ái mộ như Họa Mi, Thanh Thúy, Thanh Lan, Ý Lan, Kim Anh, Chế Linh…

Các ca sĩ nổi tiếng hàng đầu hải ngoại như  Thùy Dương, Lưu Hồng, Ngọc Hạ, Trần Thái Hòa đều hát nhạc của ông.

Nhiều ca sĩ nổi tiếng cùng hát một ca khúc: “Duyên kiếp” được cả Ý Lan và  Thùy Dương hát; “Em đi rồi”– Họa Mi, Khánh Hà, Ái Vân; “Kiếp nghèo”– Khánh Ly, Như Quỳnh; “Nghẹn ngào”– Thanh Lan, Kim Anh, Họa Mi; “Thành phố buồn”– Chế Linh, Don Hồ, Đàm Vĩnh Hưng, Nguyễn Hưng, Tuấn Vũ; “Tình nghĩa đôi ta”– Kim Anh, Duy Quang; “Trăm nhớ nghìn thương”– Khánh Hà, Khánh Ly; Chiều hoang vắng- Phương Dung, Trúc Mai, Hùng Cường; “Chiều hành quân” Thanh Thúy, Duy Khánh, Tuấn Vũ, Elvis Phương, Trường Vũ; “Mưa lệ”  Trần Thái Hòa, Ngọc Lan; “Em là tất cả” Anh Khoa, Ngọc Lan; “Ngày hạnh phúc”: Thanh Lan, Tâm Đoan, Hương Thủy, Ngọc Liên, Minh Tuyết…

Đặc biệt hơn hết là vợ ông- kịch sĩ Túy Hồng, đã hát nhiều ca khúc của ông hay không kém các ca sĩ chuyên nghiệp các nhạc phẩm “Tình anh lính chiến”, “Chiều tàn”, “Đèn khuya”, “Mộng ước”…

Và có một điều đáng chú ý: Túy Hồng có hát 2 ca khúc mang tựa “Tình Nghĩa Đôi Ta Chỉ Thế Thôi”, và “Phút Cuối”. Phải chăng là điềm báo hôn nhân đổ vỡ?

Lúc nhạc sĩ Lam Phương còn ở Việt Nam (trước 1975), các hãng dĩa nhựa như Dư âm, Sóng nhạc, Asia… đều tranh nhau ký hợp đồng với ông.

Ra hải ngoại, Lam Phương đã được mời lưu diễn nhiều nơi ở Hoa kỳ, Gia Nã Đại, Pháp, Úc…

Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện 4 chương trình nhạc Lam Phương:

Paris By Night 22: 40 năm âm nhạc Lam Phương
Paris By Night 28: Lam Phương 2 – Dòng nhạc tiếp nối – Sacrée Soirée 3
Paris By Night 88: Lam Phương – Đường về quê hương
Paris By Night 102: Nhạc yêu cầu Lam Phương

Có những trang mạng lập ra chỉ để phổ biến nhạc Lam Phương như  tabert1975.com, Saigonocean1.com.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia bản tiếng Việt nhận xét Lam Phương là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc miền Nam Việt Nam.

Còn Wikipedia bản tiếng Anh ghi: “ David Lan Pham Two Hamlets in Nam Bo: Memoirs of Life in Vietnam Through Japanese … Page 98 2008 “Phạm Duy, Lam Phương, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng were the most well known composers at that time.”

“…Nhạc sĩ Lam Phương đi vào lòng tôi, vào thế hệ của tôi như một dấu ấn, không xóa nhòa được. Tôi lớn lên với những bài hát của Lam Phương. Qua nhạc của mình Lam Phương đã in đậm dấu ấn của ông vào nhiều thế hệ người Việt lớn lên ở thập niên 50, 60, 70 và cả những năm sau này…

Muôn vàn cảm ơn Lam Phương, người nhạc sĩ tài hoa đã cho đời nhiều bài nhạc thật khó quên, đã cho riêng tôi khi nghe lại những bài nhạc thời thanh bình cũ, thấy VN vào những năm 50, 60 thật tươi đẹp và hạnh phúc. Người ta chỉ có thể đi ngược lại dòng thời gian trong những giấc mơ, đôi khi tôi muốn nằm mơ thật nhiều”. Phát biểu như vậy, tôi tin thính giả Thanh Vân không những nói lên tâm tình của mình mà còn của rất nhiều người khác.

Phần tôi, nhạc sĩ Lam Phương có nhiều nhạc phẩm tôi thích lúc còn trẻ, đến bây giờ vẫn còn thích: “Đà Lạt cô liêu”, “Nắng đẹp miền Nam”, “Ngày tạm biệt”, “Tình anh lính chiến”, “Thu sầu”, “Duyên kiếp”, “Chiều hoang vắng”, “Sầu viễn xứ”, “Say”.

Lam Phương  xứng đáng có tên trong danh sách 10 nhạc sĩ hàng đầu Việt Nam hiện nay.

Kiếp nhân sinh sinh lão bệnh tử, nhạc sĩ Lam Phương giờ đã 77 tuổi, đang mắc bệnh tai biến mạch máu não, phải ngồi xe lăn.

“…Bị tai biến mạch máu não và liệt nửa người. …ông gặp rất nhiều khó khăn nhưng cũng nhận được vô vàn tình cảm. Từ chuyện người em gái bỏ cả cửa hàng ăn bên Pháp bay sang Mỹ để chăm sóc cho anh, đến chuyện một người yêu nhạc từ bên Úc mua cho ông một căn nhà và ngày nào cũng gọi điện để bắt ông phải nói chuyện. Bà còn đến tận nơi, vứt chiếc xe lăn ra xa để bắt ông tự đi. Những tình cảm đó giúp nhạc sĩ Lam Phương dần bình phục”  (Wikipedea tiếng Việt)

Sự đóng góp cho âm nhạc Việt Nam của nhạc sĩ như thế là quá đủ. Tôi không mong ông tiếp tục cống hiến cho người yêu nhạc những tác phẩm giá trị, chỉ mong ông hồi phục. Và có được cuộc sống an lành trong những ngày còn lại của cuộc đời trong tình yêu thương.

Thu Phong
(SG, tháng 7-2014)

(*) Wikipedea tiếng Việt cho biết ca khúc này được Lam Phương bán với giá 12 triệu đồng. Thời điểm đó, lương gồm cả phụ cấp của một vị đại tá quân đội vào khoảng 50 ngàn đồng, lương một vị giám đốc cũng tầm đó.

Cũng cần biết thêm (để hiểu tính cách con người Lam Phương): báo điện tử Lao động trong bài viết tựa “Chuyện tình đẹp như thơ, buồn như nước mắt của nhạc sĩ Lam Phương – ca sĩ Túy Hồng” cho biết sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975nhạc sĩ La m Phương bước lên tàu “Trường xuân” đi tỵ nạn với hai bàn tay trắng, bỏ lại 2 căn nhà lầu, 1 xe hơi mới toanh và số tiền trong trương mực ngân hàng khoảng 30 triệu đồng, lúc đó vàng 9999 khoảng 36.000 đồng/lượng (nghĩa là gần  900 lượng vàng)

Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.