Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Phạm Tự Trọng

Lời giới thiệu của Lão Ngoan Phan Ni Tấn:

Tôi quen biết và sinh hoạt văn học nghệ thuật với Hà Thúc Sinh đã 1/4 thế kỷ. Anh là một ngưòi đa tài, với hơn 20 tác phẩm, từ Thơ, Văn, Nhạc đến Dich Thuật. Trí Nhớ Đau Thương là tập thơ đầu tay của anh, xuất bản năm 1967, nhưng tập Dạo Núi Mình Ta (thơ 1972, tái bản 1973) mới thực sự tạo nên tên tuổi một Hà Thúc Sinh.

Là cựu sĩ quan QLVNCH, sau ngày mất nước anh bị bắt đi tù cải tạo 5 năm. Vượt biên đến Mỹ năm 1980, tiếp tục cầm bút viết Đại Học Máu, một trong những hồi ký cải tạo gây tiếng vang trên văn đàn hải ngoại, đồng thời là một cái gai gây nhức nhối cho bạo quyền Hà Nội lúc bấy giờ. Nhưng âm nhạc vẫn là “tiếng động” của Hà Thúc Sinh, một phương tiện truyền thông dễ đi vào lòng người. Đặc biệt tập nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh được anh thực hiện qua giọng hát “gọi hồn” của Khánh Ly, nói lên thân phận nghiệt ngã của một kiếp người sinh tử dưới gông cùm của bạo quyền Hà Nội.

Để nhìn rõ hơn về con người đa tài này, kính mời Quí vị đọc Đêm Việt Nam (đính kèm), một bài nhận định bằng sự mẫn cảm sâu sắc, một cảm xúc chân thành của Phạm Tự Trọng, người bạn tù cải tạo một thời với Hà quân.

Trân trọng,

Lão Ngoan
(more…)

Thụy Khuê

Tình hình từ tháng 12/1956 đến tháng 2/1958

Nhân Văn Giai Phẩm hoạt động từ tháng 8/1956 đến tháng 12/1956. Cuối tháng 12/1956, các tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới… bị đình bản. Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội, với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” phong trào NVGP.

Tuy nhiên Trung Quốc vẫn tiếp tục phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên Đảng Lao Động chưa có chính sách dứt khoát đối với trí thức văn nghệ sĩ: đến đầu tháng 4/1957, Hội Nhà Văn (trước đây là Hội Văn Nghệ) được chính thức thành lập, với Tô Hoài làm Tổng thư ký kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn, và một số thành viên cũ của NVGP như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn còn được bầu vào ban chấp hành.
(more…)

Vũ Ánh

Những đoản khúc của người góa phụ can đảm này được cất lên cùng với tiếng thở dài và những dòng nước mắt lặng lẽ trong những đêm thanh vắng, của những ngày tháng cũ, và của cả những ngày tháng hiện tại. Tôi đã nghe những đoản khúc nhẹ nhàng ấy nhiều lần trên làn sóng phát thanh của Đài Văn Nghệ Truyền Thanh và sau này trên các luồng sóng của một vài đài phát thanh khác. Nhưng khi đọc lại Lối Cũ Chẳng Sao Quên của Bích Huyền mới thấy trọn vẹn được bối cảnh những tùy bút mà bà mô tả.
(more…)

Huỳnh Ngọc Chiến

Bắt chước rập khuôn theo bất kỳ người nào, dẫu đó một thiên tài vĩ đại, thì cũng chỉ tự đánh mất đi sự độc sáng của mình, không làm cho ta được là chính ta. Chỉ khi ta được chính là ta thì tâm mới bắt đầu phát huy diệu dụng. Một chiếc lá vẫn hiện hữu linh diệu như một khu rừng mênh mông. Tinh thể một hạt sương vẫn bao la như cả khung trời đang soi chiếu trong nó. Con chim sẻ nhờ có đường bay riêng của mình nên nó được mãi là con chim sẻ, chứ đâu phải do nó cứ lẽo đẽo bay theo sau cánh đại bàng? Cảnh tượng trong thiên nhiên đẹp là nhờ muôn hồng nghìn tía, phồn tạp đa dạng, còn sự đồng dạng rập khuôn chỉ có đối với cát trong sa mạc hay lau lách ven sông.
(more…)

Trần Văn Sơn


Thi sĩ Hà Thúc Sinh

1.
Ta lục lại trong ngăn kéo cũ
Bụi và buồn lẩn khuất mớ thư xưa

Lòng đã mở sao người không dám bước vào, sợ gì khi dòng đời vẫn trôi, những hệ luỵ ràng buộc giữa người và người, người và đời như giọt sương mai lấp lánh trên những nụ hoa tàn tạ rơi vào quên lãng. Ngăn kéo cũ, mớ thư xưa tưởng như đã bị chôn vùi, khuất lấp theo cát bụi thời gian, tưởng như đã nằm im trong ngăn kéo ký ức, bỗng sống dậy mãnh liệt ở mọi nơi mọi miền, trầm sâu vào lòng dân tộc.

Hai câu thơ của Hà Thúc Sinh sâu lắng và đầy hoài niệm, mở toang cánh cửa của một thời đã qua. Thời trăn trở, bất an, điêu linh, nghiệt ngã. Thời quê hương ngập tràn khói lửa chiến tranh. Thời của những hồi chuông báo tử. Thời của người lính trận sống sót trở về nhìn lại cảnh cũ người xưa. Thành phố hấp hối từng giờ. Lòng người nặng trĩu sống còn. Có chăng là trong ngăn kéo cũ còn lại mớ thư xưa bám đầy bụi bặm ố vàng, chất chứa nỗi buồn muôn thuở.
(more…)

Thụy Khuê

Những bài viết chủ yếu trong Nhân Văn Giai Phẩm gồm hai loại:

Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủtự do tư tưởng.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

Trước năm 75, tôi đã đọc Lữ Quỳnh với những Cát vàng, Sông sương mù, Vườn trái đắng, cùng một số bài viết đăng rải rác trên các báo văn nghệ Sài Gòn. Đọc và chỉ biết có vậy, chưa hề gặp nhau lần nào, mặc dù cùng chung trên tờ Ý Thức.

Cách đây 2 năm, Lữ Quỳnh bất ngờ về ăn tết với chúng tôi. Vậy là đã “kiến kỳ hình”. Với giọng nói nhỏ nhẹ, chừng mực của anh, chúng tôi nói chuyện văn chương, nhắc lại chuyện làm báo văn nghệ thời trước, chuyện bạn bè bên này, bên kia, những hoang tưởng và thỏa hiệp…
(more…)

Thụy Khuê

Trong vòng 4 tháng, từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 12/56, phong trào đòi hỏi dân chủ và tự do tư tưởng bùng lên với hai tờ báo chính: Nhân VănGiai Phẩm do nhà xuất bản Minh Đức (Trần Thiếu Bảo) in hoặc giúp đỡ in ấn. Phần lớn những người viết cho Nhân Văn đều có mặt trên Giai Phẩm và ngược lại.

Nhân Văn Giai Phẩm do hai nhóm bạn song song hợp tác điều hành:

Nguyễn Hữu Đang, Trương Tửu, Trần Thiếu Bảo là ba người bạn, trong kháng chiến, đã từng chủ trương việc xuất bản lại các tác phẩm có giá trị thời tiền chiến (nhưng bị loại trừ sau cách mạng) như Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, v.v…

Hoàng Cầm, Lê Đạt, hai người bạn thân đã tranh đấu đòi tự do sáng tác từ những ngày đầu trong quân đội cùng với Trần Dần, Tử Phác, năm 1955, và làm tờ Giai Phẩm mùa xuân.

Năm người này là những viên gạch nền móng, bằng những cố gắng xây dựng của họ, từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1956, đã quy tụ được một số đông văn nghệ sĩ trí thức, họp thành phong trào NVGP.
(more…)

Trần Kiêm Đoàn

Lâu nay, nhiều người được đọc một bài viết nhan đề: “Lời tự thú của một Sư Cô[1] được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới thông tin điện tử và báo giấy tiếng Việt toàn cầu.

Đây là lời “tự thú” của một nữ tu sĩ Phật giáo, 50 tuổi đời và có hơn 30 năm tuổi đạo.  Tuy lai lịch thực hư của tác giả chưa được xác định rõ ràng, nhưng người viết đã nói lên hai vấn đề được đề cập khá rộng rãi và thường xuyên trong sinh hoạt đạo Phật từ xa xưa đến bây giờ: Trí tuệ và Pháp môn.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Ai trên đời mà không âm thầm tiếc nuối tuổi trẻ qua mau, nhưng đã mấy ai để lệ rơi tầm tã trong những lúc bất thần khóc than cho tuổi thanh xuân ra đi không trở lại như nhà thơ Rubén Darío người xứ Nicaragua khoảng đầu thế kỷ 20? Darío ví tuổi xanh như một “kho tàng thần thánh” (divino tesoro) mà sự mất đi là một tiếc thương vô hạn nằm sâu trong tiềm thức, mặc dù cuộc đời nhiều lúc chuân chuyên và nhà thơ chưa hề “gặp một công chúa nào để ngợi ca” (ya no hay princesa que cantar). Vậy mà đoạn thơ bốn câu sau đây, được nhắc đi nhắc lại năm lần, trong danh tác “Bài ca mùa thu trong mùa xuân” (Canción de otoño en primavera) đã làm bao thế hệ độc giả mủi lòng vì mức độ thiết tha của chúng:

Juventud, divino tesoro,
ya te vas para no volver!
Cuando quiero llorar, no lloro …
y a veces lloro sin querer …

Tuổi thanh xuân, kho tàng thần thánh,
đã ra đi để chẳng trở về!
Khi muốn khóc, ta không khóc nổi …
nhưng nhiều khi bất chợt lệ rơi …
(more…)

Hà Khánh Quân


Nguyễn Nam An

Làm thơ không phải là một cái nghiệp. Danh từ nghiệp ở đây thường được hiểu là cái duyên có từ trước. Nó tách rời danh từ kép nghề nghiệp, để khỏi được xem là công việc chuyên môn trong mưu sinh. Việc làm thơ, có người còn cho là nghiệp dĩ. Trạng từ này, chỉ một sự việc vốn đã như thế và còn dây dưa khó dứt. Một số người làm thơ cao tuổi, thường hãnh diện dùng hai từ này. Họ ngầm xem mình có sứ mệnh với thi ca, luôn tiện biện minh cho việc ghiền làm thơ của mình.
(more…)

Thụy Khuê

Từ mùa xuân 1956 sang mùa thu 1956

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I gắn bó với Giai phẩm mùa xuân giai đoạn II gồm toàn bộ những tờ báo phát hành từ tháng 8/1956 đến tháng 12/56.

Giai đoạn I có thể tóm tắt như sau:

Giai phẩm mùa xuân ra đời cuối tháng 1/1956. Hơn một tuần sau, nhiều sự kiện quan trọng liên tiếp xẩy ra:

– 28 Tết Nguyên đán: Tố Hữu sai người tìm gọi Lê Đạt lên Tuyên huấn.

– 4 Tết: Trần Dần và Tử Phác bị bắt tại Yên Viên, nơi đang học tập cải cách ruộng đất.

– 5 Tết: Lê Đạt ăn Tết xong mới lên trình diện Tố Hữu. Bị giữ lại kiểm thảo 15 ngày.

– Trần Dần, sau ba ngày bị giam dưới một căn hầm, dùng dao cạo cứa cổ, được đưa đến bệnh viện. Tại đây, ngày 21/2/56 Trần Dần viết một lá thư dài cho đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Tướng Thanh can thiệp, Trần Dần, Tử Phác được tha ngày 5/5/56.

Trong tháng 2/56, một “hội nghị lớn” luận tội Trần Dần (vắng mặt) được tổ chức. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu ngày 7/3/1956 với bài viết của Hoài Thanh trên báo Văn Nghệ số 110.
(more…)

Ninh Hạ


Mario Vargas Llosa

Như thường lệ hàng năm, sự ồn ào phản đối và đồng tình cho những nhân vật được trao tặng giải Nobel Hòa bình đã không tránh khỏi. Năm nay càng ồn ào hơn. Yes và No.  Pros và Cons không còn gìới hạn trong phạm vi cá nhân tổ chức, mà lan rộng đến nhiều quốc gia.  Ràng buộc lợi ích riêng đã được xem trọng hơn công lý và công bằng.  Vinh dự cho một tù nhân lương tâm, Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo).  Nhục cho một nước, chính quyền Trung Quốc.

Trong một bầu không khí dư luận yên tỉnh hơn, Mario Vargas Llosa, nhà văn, nhà hoạt động chính trị gốc Pêru (Nam Mỹ) được thắng giải Nobel về Văn chương 2010.

Thường khi giải thưởng Văn chương Nobel được công bố, tôi tìm đọc tác phẩm mới nhất của người đoạt giải. Rất tiếc, tác phẩm mới nhất “El Sueno Del Celta”  (2010) chưa được dịch ra Anh Ngữ.  Tác phẩm gần nhất  “The Bad Girl” (2006). (Cô gái xấu nết) đã được dịch ra Anh ngữ nhưng nhà sách Barnes & Noble chưa bày bán.  Cũng không đáng tiếc bao nhiêu.  Vì, theo Kathryn Harisson, người điểm sách nhận xét về tiểu thuyết này.  “The Bad Girl chỉ là truyện được viết lại hay đơn giản hơn là dùng lại (recycle) tiểu thuyết  Madame Bovary của Gusta Flaubert (1856)…”.

Không có lựa chọn nào khác, đành phải mang về nhà truyện mới nhất có được, “The Way to Paradise”. (Lối về thiên đường) .  Nguyên bản Spanish El Paraiso en la Otra Esquina . Dịch đúng  “The Paradise in another corner”.  (Thiên đường ở một góc trời khác). Tác giả viết năm 2003 do Natasha Wimmer dịch ra Anh ngữ  (Farrr, Straus and Giroux.  NY).

Thật là một ngạc nhiên thich thú khi đọc những chương cuối của sách này.

Mario Llosa, từ một đất nước xa xôi về địa lý, rất xa lạ về văn hóa, đã viết đã mô tả trân trọng về một người An nam yêu nước, hoàng tử Kỳ Đồng Nguyễn văn Cẩm ( An Annamite.  Prince Nguyen van Cam. Chữ dùng của Mario Llosa).  Kỳ Đồng, một nhân vật lịch sử, mà ngay cả  người Việt chúng ta, chắc cũng không nhiều người biết, cho dù ngày tháng thường đi qua một con đuờng thân quen ở Sàigòn mang tên người, ngang qua trước nhà thờ Cứu Thế.
(more…)

Thụy Khuê

Tổ chức Giai phẩm mùa xuân

Giai phẩm mùa xuân do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương. Trần Dần có tham dự vào việc tổ chức ra báo và bài vở không?

Hoàng Cầm trong bài Con người Trần Dần, in trên Nhân văn số 1 (8/1956) và cả đến sau này, trong bài phỏng vấn trên RFI, đều xác định là Trần Dần không biết gì về việc in bài thơ Nhất định thắng vì lúc đó đang tham gia Cải cách ruộng đất ở xa. Có lẽ là để gỡ tội cho Trần Dần.

Nhưng sự thực thì Trần Dần có tham gia vào việc ra Giai Phẩm mùa xuân  : Sau khi bị bắt lần thứ nhất, bị cấm trại 3 tháng cùng với Tử Phác [vì “phạm kỷ luật quân đội” nhưng trên thực tế vì tổ chức phê bình thơ Tố Hữu và viết bản dự thảo đòi tự do sáng tác], Trần Dần, Tử Phác được gửi đi tham quan Cải cách ruộng đất.
(more…)

Trần thị LaiHồng sưu tầm biên soạn

Trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ của nền văn minh Đông Sơn, có hoa văn khắc nổi cảnh giã gạo. Đó là dấu vết nền văn minh nông nghiệp lúa nước, ghi lại cảnh sinh hoạt hợp quần nông thôn. Không có sử sách hay truyền thuyết về những câu hò, nhưng đây là một loại dân ca truyền miệng phổ biến rộng rãi vùng quê, rất thịnh hành tại miền Trung, nhất là Thừa Thiên và Quảng Trị.
(more…)

Thụy Khuê

Với những tư liệu và nhân chứng hiện hành, chúng ta có thể tóm tắt lịch trình hoạt động của phong trào NVGP, theo thứ tự ngày tháng, như sau :

Tháng 3/1955: Trong quân đội, Trần Dần, Tử Phác, với sự cộng tác của Hoàng Cầm, Lê Đạt, chủ trương việc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Tháng 4/1955: Nhóm Trần Dần, Tử Phác ký “Dự thảo đề nghị cho một chính sách văn hoá”, chủ yếu đòi quyền tự do sáng tác. Bác bỏ chế độ chính trị viên trong văn nghệ quân đội.

Từ 13/6/55 đến 14/9/55: Trần Dần, Tử Phác bị bắt, bị phạt cấm trại trong trại 3 tháng vì lý do phạm quân kỷ, sau đó được đưa đi cải tạo ở Yên Viên (tham gia Cải cách ruộng đất đợt 5).

Tháng1/1956Giai phẩm mùa xuân ra đời do Lê Đạt, Hoàng Cầm chủ trương (có bàn  với Trần Dần) với những bài chính: Nhất định thắng của Trần Dần, Anh có nghe thấy không của Văn Cao, Làm thơ và Mới của Lê Đạt, …

Tháng 2/56 (Tết Nguyên đán): Lê Đạt bị gọi lên Tuyên huấn để kiểm thảo. Trần Dần, Tử Phác bị bắt lần thứ nhì. Giai phẩm mùa thu bị tịch thu. Trần Dần dùng dao cạo cứa cổ. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu với bài của Hoài Thanh “Vạch trần tính chất phản động trong bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần” trên báo Văn Nghệ số 110, ra ngày 7/3/56.

Ngày 24/2/1956: Khrouchtchev tường trình tội ác của Staline tại đại hội XX của đảng Cộng sản Liên xô. Ngày 26/5/1956: Mao Trạch Đông phát động phong trào “Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng”. Ngày 28/6/1956: Ba Lan nổi dậy.
(more…)

Thụy Khuê

Nhân Văn Giai Phẩm là phong trào tranh đấu cho tự do dân chủ của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc có tầm vóc lớn lao, khởi xướng đầu năm 1955 và bị chính thức dập tắt tháng 6 năm 1958.

Hai nguồn tư liệu sớm nhất về Nhân Văn Giai Phẩm (NVGP) là Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (THĐNTĐB) của Hoàng Văn Chí do Mặt Trận Tự Do Văn Hoá in ở Sài Gòn năm 1959, và Bọn Nhân Văn Giai Phẩm trước toà án dư luận (BNVGPTTADL) do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội in năm  1959. Ngoài hai tập tư liệu này còn có những tập tư liệu khác, ra đời hơn 30 năm sau.
(more…)

Đàm Trung Pháp

   
Jacques Prévert (1900-1977)Nguyên Sa (1932-1998)

Hai nhà thơ cận đại mà tôi ái mộ là Jacques Prévert (1900-1977) và Nguyên Sa (1932-1998). Hai thi sĩ này giống nhau ở chỗ họ sử dụng tài tình những chuỗi liệt kê (énumérations) trong thơ để làm sáng tỏ tối đa nội dung.  Đó là lối viết lớp lang trong trật tự, điển hình như trong câu ca dao quen thuộc “một thương tóc bỏ đuôi gà, hai thương ăn nói mặn mà có duyên, ba thương má lúm đồng tiền” của chúng ta.  Tôi võ đoán Prévert đã ảnh hưởng không ít đến Nguyên Sa khi nhà thơ này du học tại Paris vào những năm đầu thập niên 1950. Nếu những bài thơ tình dễ đọc và dễ cảm thông như những lời nói thường ngày khiến Prévert lẫy lừng danh tiếng bên Pháp thì những bài thơ tình trinh nguyên đẹp như mơ của Nguyên Sa cũng đã mang lại cho ông rất nhiều người ái mộ tại Việt Nam.
(more…)

Võ Kỳ Điền


Hồ Trường An

… Tôi là một người đầy ham muốn và khá tò mò, và tin rằng nhiều độc giả cũng có tánh nầy, hể đọc tác phẩm nào mình yêu thích thì bất cứ điều gì liên quan tới tác giả cũng muốn biết hết, mà phải biết cho thật rõ mới chịu (cũng như khán thính giả tò mò muốn biết đời tư của các tài tử, cải lương, điện ảnh Holywood, phim bộ Hồng Kông, cầu thủ hockey hay đá banh vậy). Nhớ lại những năm về trước, có lần tôi viết thơ cho Hồ Trường An (HTA) để điều tra cho kỹ -chơi với bạn lâu lắm rồi, hình dáng của bạn ra sao tôi không hình dung ra được, mấy hình đăng trên sách báo, cái thì mập, cái thì ốm, mắt mũi không rõ nét, khi nào rảnh làm ơn gởi cho vài tấm chụp thiệt đàng hoàng, để coi dung nhan mùa hạ (hay thu?) của bạn hiền ra sao.
(more…)

Hà Khánh Quân


Mạc Phương Đình

Tôi chưa muốn bỏ một thói quen không tốt. Nghĩa là vẫn rề rà, lẩn thẩn trước khi nắm tay thơ, đi thẳng vào thi phẩm, tác giả. Tản mạn theo một số thơ đang đọc, không khác bao nhiêu chuyện bình giảng về thơ Trần Kế Xương, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Nguyễn Du… Cái khó, cái khác, ở đây là mình phải tự chọn một tác giả, để vào thăm viếng thơ của họ, phá phách họ chút ít cho vui. Tác giả trong cõi thơ Việt Nam quá đông. Có cả đời chưa chắc ghé chào đầy đủ. Bắt đầu cuộc chơi muộn, tôi đành chia từng khu vực theo địa lý. Và với chút xíu cục bộ, tôi khoanh mục tiêu đầu tiên: Quảng Nam.

Lạ, cái đất chưa mưa đã lụt này, có quá nhiều người sính thơ, làm thơ. Tôi mừng cho mình đã đọc tất cả những thi phẩm tìm được. Không có bất cứ điều đặc biệt nào dành riêng cho tác giả. Quen tên trước hay chưa cũng như nhau. Và dĩ nhiên, không phải tác giả nào, cũng bị tôi nắm thơ họ để đi theo tán dốc. Gia tài thơ tôi sưu tập không nhiều, nhưng đang hiện diện quý anh chị đã rất thâm niên trong nghề làm thơ . Hôm nay, xui cho ông Mạc Phương Đình bị tôi làm phiền.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Hồ Chí Bửu

Để có được cái nhìn sâu thẳm và bước đi trên thơ của Hồ Chí Bửu, quả thật tôi chọn gần 7 tựa đề để mô tả sát sao nhất biểu tượng cuộc hành hương kỳ diệu, mà nhà thơ đang lướt thướt biến ảo trong cơn mộng thi ca. Quả tình, chỉ có chữ ngao du trần thế của một kẻ lãng tử mà Võ Tấn Cường gói gọn như một dấu ấn, là tôi coi như ngôn từ đắt địa, để mô tả mọi tư hướng lãng bạt bùng cháy một cách quỷ quái trong quan điểm thơ Hồ Chí Bửu. Cách thức lập trình một quan điểm nghệ thuật của nghệ sĩ, phải chăng được bao quát bằng một khối óc đầy tinh huyết, hầu sáng tạo được khung trời riêng biệt cho chính nơi cư trú thiên hình vạn trạng của tha nhân. Người ta thường đứng núi nầy nhìn cảnh quan lập thể của cao sơn khác, nên sự thiên kiến giữa nhận định đối tượng quả tình mang nặng tư chất cục bộ. Nếu một vườn hoa chỉ đầy rẫy một sắc hoa như một sự trùng điệp của sự vô tính thì nghệ thuật là cái vất vưởng cô hồn, không tinh khí, nghèo nàn bằng những phục trang tiền sử thô kệch, lạnh lùng. Như thế, thì còn phân biệt làm gì giữa cõi vĩnh cửu và cái nhất thời, cũng như lập dựng một thế giới chỉ bằng những hình ảnh robot, cứ lập lòe tư tưởng bằng những phản xạ của con chip vô hồn, đã có phân biệt gì nhau. Hoa thì phải có hương và ngan ngát muôn loài tung nhụy vàng rực rỡ khắp cùng không gian sinh hóa. Đâu nhất thiết một cọng cỏ rêu xanh nhòe mình làm lung lay được một ánh trăng vàng, cũng như đâu nhất thiết vầng trăng phải soi mình cho cỏ dại phiêu linh. Tất cả đã có sẵn chan hòa trong vũ trụ mênh mông, tự nhiên mà hằng hiện hữu, vì nghệ thuật hóa sinh bằng tư hướng cơ địa nguyên khai của kẻ ngao du. Trăng có bày tỏ gì đâu, cỏ có thì thầm gì đâu, mà người nghệ sĩ cứ phải oằn mình lưu đày cho trọn kiếp sơ nguyên. Mỗi cá thể đều chiêu nghiệm cho chính bản thân mình, không thể vay mượn hình hài hay hơi thở của chung quanh làm lẽ sống. Cái bất chợt không tương ngộ trong sự sáng tạo của mọi tha nhân, đều là cái hữu tình thuần túy, tự nhiên mà có được trong cơn mộng nghệ thuật. Chính vậy, vườn hoa mới chao nở vun đầy bằng vạn sắc hoa. Tinh hoa của mỗi loài mỗi khác, cách biệt nhau như một cá tính siêu việt riêng lẻ, lập dựng cho mỗi loài một thế giới riêng tư, kỳ bí như chính bản ngã hóa thân. Thơ của một thi nhân, cũng chính là sự hóa thân diệu hoặc như vậy, nên cái riêng của từng thần hồn đã lập dựng được cả một thế giới sinh diệt quanh ta…
(more…)

Đàm Trung Pháp

Mỗi bài thơ “haiku” (phát âm lối Hán Việt là “bài cú”) của người Nhật Bản là một tiểu vũ trụ thu gọn trong vẻn vẹn 17 âm tiết. Trong cái hạn hẹp tối đa ấy, nhà thơ diễn tả cảm nghĩ của mình trước thiên nhiên và còn cho người đọc thoáng thấy một hình ảnh vĩnh cửu phát hiện qua một cảnh trí thông thường chóng phai mờ. Về điểm này thì hình như mỗi nhà thơ lớn, ở phương trời nào cũng vậy, đều có đôi chút “tâm hồn haiku” – như khi William Blake đã thấy cả vũ trụ trong một hạt cát, cả thiên đường trong một đóa hoa dại (“to see a world in a grain of sand, a heaven in a wild flower”) hoặc như khi Đinh Hùng mới chỉ nhìn vào đôi mắt lưu ly của Kỳ Nữ mà đã “thấy cả bóng một vầng đông thuở trước, cả con đường sao mọc lúc ta đi”!
(more…)

Võ Kỳ Điền


Cây ngô đồng

Riêng tặng bạn Lâm Quang Khải, Montréal

Bạn tôi rất thích cây cỏ, tối ngày chăm sóc khu vườn sau nhà. Chúng tôi định cư ở thành phố Montréal và anh là người Việt đầu tiên mở tiệm hiệu Bonsai ở thành phố nầy. Bonsai có thể mua ở các nhà sản xuất bên Mỹ và cũng có tự sản xuất, tôi cùng anh thường vào các trại bán hoa kiểng lớn, lục lọi các cây thông, cây tùng hư, cong vẹo, cằn cổi, có khi là những cây gần chết vụt bỏ thùng rác… mua rẻ đem về cắt bớt cành dư thừa, dùng dây đồng uốn éo thành hình dáng đẹp, nuôi dưỡng một thời gian cho thành bonsai, rồi đem bày bán. Cây làm bonsai thường là các loại cây xứ lạnh lá nhỏ và giỏi chịu đựng thời tiết khắc nghiệt…
(more…)

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Thảo Trường (1938-2010)

Lời mở : Cuối năm 2005, nhà văn Thảo Trường đã cho xuất-bản tác-phẩm thứ 20 của ông, tập truyện Miểng (Quyên Book). Chúng tôi nhân đây giới thiệu tổng quan những điểm chính của sự nghiệp nhà văn qua các tác-phẩm chúng tôi đã có thể tham khảo ở hải-ngoại.

1.
Miền Nam Việt Nam tự-do (1954-1975) đã là vùng đất màu mỡ sung-mãn cho một nền văn-nghệ tự-do, khai-phóng và đa dạng nhất trong lịch-sử văn-học Việt Nam thời hiện-đại. Trong khi miền Bắc treo bút và cầm tù những văn-nghệ sĩ Nhân Văn giai-phẩm và tất cả những ai không bẻ cong ngòi bút tuân hành những chính-sách và nghị-quyết văn-hóa của Đảng, miền Nam đã chứng kiến một hồi-sinh văn-nghệ từ những người kháng chiến trở về và từ những người di cư từ miền Bắc và Trung; riêng những người sau họ đến miền Nam với hành trang văn-nghệ và trí-thức. Tất cả hòa nhập vào giòng văn-nghệ đã lớn mạnh từ những năm cuối thế kỷ XIX, nơi đó báo chí và xuất-bản phẩm đã có một quá trình lịch-sử và cũng nơi đó, một truyền-thống văn-nghệ trình diễn đã ăn sâu vào lòng người dân.
(more…)

Thụy Khuê

Bạn bè trong một bữa ăn thân mật tại nhà Lê Đình Điểu năm 1996.
Từ trái: Trần Thanh Hiệp, Thụy Khuê, Đỗ quý Toàn, ông bà Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến.
(hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)

Mỗi Tết là một chuyển biến, là một lần đi. Mỗi người thân văn nghệ của tôi ra đi một cách khác nhau. Họ cũng không chết một cách “thông thường” như những người khác. Dường như với “người thường” một lần đi là vĩnh viễn, một đi không trở lại. Người văn nghệ đi nhưng vẫn còn một cái gì đó -ngoài thể xác- ở lại. Mỗi lần đọc bài thơ cũ xem bức tranh xưa là lại có “đối thoại”, như thể người đi, kẻ ở chưa hề đoạn trở âm dương.

Cuộc tạ từ họa sĩ Lê Thị Lựu thật đơn giản, tôi đến chào bà ở bệnh viện Antibes, vùng bờ biếc Côte d’Azur để mai lên đường về Paris, mừng bà bệnh tim đã đỡ, ngày mai sẽ ra viện. Không nghi ngờ gì đến chuyến đi sắp tới trong vài giờ nữa của bà, không mảy may nghĩ đến ngày mai không lại, chúng tôi đã tiêu dùng những giờ khắc cuối một cách rộng rãi, gần như xa xỉ. Bà cười, nụ cười đẹp như ảnh chụp thời xưa: nụ cười giai nhân mười tám trên đôi môi tám mươi. Bà vẫn kể những tâm sự dí dỏm như muốn múc cạn quá khứ của mình. Miền Lê Thị Lựu đã qua là mảnh đất trồng rất nhiều nghệ sĩ, bấy giờ đã thưa thớt, đã tan hàng nhiều lắm.
(more…)

Hà Khánh Quân


Hoàng Lộc

Nội dung thi phẩm của nhiều tay làm thơ, xuất thân từ đất Quảng Nam, khởi từ năm 1960, thường bén rễ xanh cành bởi những nguồn phân: quê hương, thân phận, rượu và mỹ nhân. Một giai đoạn lịch sử, gồm hơi thở và thân xác chiến tranh được cảm nhận, nhìn thấy, một cách khá sinh động, rõ nét qua thơ. Thi ca như vậy, kể như gắn liền với đời sống một cách tích cực. Hoàng Lộc góp sức không nhỏ vào thành quả này. Anh trở thành một nhà thơ gạo cội của Hội An. Sự xuất sắc được chứng nhận bởi giải thưởng thi ca, của Trung tâm Văn Bút Việt Nam tại Sài Gòn, năm 1971. Ngoài ra, anh còn được giới làm thơ cùng thời, nhìn nhận là người giàu hoa tay, chuyên trị thơ tình lứa đôi.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

Con người đã có sinh thì có hoại, tử, tức không thể thoát được vòng sinh bệnh lão tử của nhà Phật hoặc khẳng quyết tam đoạn luận của Aristote. Đã mang thân phận làm người, ai cũng sẽ đi đến tình trạng và giai đoạn cuối đó. Dù biện luận hay tìm kiếm con đường thoát khác, cái Chết vẫn là một tất yếu, một xác-thực lớn nhất mà từ đó, trên đó, con người có thể dựa vào để dựng xây cuộc đời, tức là cuộc sống đem ý nghĩa đến cho cái Chết hay nói khác, vì cái Chết mà cuộc sống có ý nghĩa.
(more…)

Nguyễn Ước


Y Uyên qua nét phác họa của Duy Thanh

Thời buổi ấy chập chờn. Xã hội quay cuồng theo những cơn lốc chính biến. Chiến tranh tư bề lửa đạn. Quá khứ xa. Hiện tại nứt. Tương lai mù. Con người trôi dạt hoặc bị làm nguyên liệu chinh chiến. Vì sao nên nỗi và trong nông nỗi này, con người đi đâu về đâu. Ngày mai còn lại gì, kể cả thân xác này, trong lửa đạn. Không câu trả lời thoả đáng. Con người sống mộng du. Thời gian lung linh, vừa rạng sáng vừa đứng bóng vừa chập choạng tối. Bầu trời đè lên đỉnh đầu. Không gian có sấm chớp lập loè bốn phía. Và ta là con rối, sau những lúc bị giật dây giãy giụa, bị dồn vào đường chết, chỉ còn những khoảnh khắc cúi gầm mặt, chẳng muốn nhìn lên.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Thi sĩ Luân Hoán qua nét phác họa của Hồ Đình Nghiêm

Ở Huế, một nam sinh trường Quốc Học bị bạn bè gán cho danh xưng: “Thất tình đại hiệp”. Rụt rè, ăn nói nhỏ nhẹ, dễ đỏ mặt, người con trai ấy sau này trở thành một nhà văn, một thi sĩ. Như đa số bạn cùng trang lứa, chàng vào sống đời quân ngũ. Khi tôi có cơ duyên gặp mặt, năm 1974, chàng đã mang cấp bậc Trung úy, Sư đoàn 1 Bộ binh, trú quân ở Dạ Lê. Trung úy Quảng không mang tác phong một người lính. Nếu trộn lẫn hình ảnh gã thất tình đại hiệp vào người, thủy chung bộ dạng chàng vẫn là một sinh viên luôn ngần ngại. Tóc có ngắn đi, mặt mày đen đúa chút đỉnh; chỉ vậy thôi, chẳng biến tướng. Chúng ta không lạ, khi bắt gặp toàn bộ không khí an lành về thế giới học trò trong hầu hết tác phẩm của chàng: Người ký bút hiệu Mường Mán. Hỏi: Tên ấy do đâu? Trả lời: Vì không dưng, đọc truyện Tô Thùy Yên, bị ám ảnh cảnh đôi tình nhân phải chia tay ở sân ga Mường Mán. Rồi từ đó…“chết” luôn một danh xưng.
(more…)

Nguyễn Ước

Buổi sáng một kỳ nghỉ thường năm. Ngày dậy muôn. Ðêm qua lại mơ thấy mình gánh nước ra biển.. Thắp điếu thuốc đầu ngày. Rượu đỏ sóng sánh ly. Trầm Tú hát rất sâu rất nồng nhạc Trịnh Công Sơn. Người đi phiêu du từ đó chưa thấy về quê nhà… Người chợt nghe mình như đá, đá lăn, vết lăn buồn… Mở tình cờ một trang thơ Hoàng Xuân Sơn. Ðêm khuya xác bướm trăng tà / trong vườn rụng một bông hoa tưởng người. Người là mẹ, là em, là Huế? Huế Buồn Chi. Sao lại buồn chi. Buồn chi mô. Buồn làm chi. Buồn chi lạ. Chi cũng buồn. Bướm chết. Trăng tà. Hoa rụng. Người đi mất hút trong đời vì hoa đời vướng lại thành quách cũ hoặc kẻ ở hiu hắt tưởng tiếc người lỡ dại đi.
(more…)

Hà Khánh Quân


Khánh Trường

Một số ít tác giả Việt Nam đã đến với khu vườn văn học bằng bước chân thơ. Sau chừng mươi sáng tác được các tạp chí văn học giới thiệu, họ yên tâm mở thêm hướng sáng tác mới, chủ yếu là truyện ngắn. Nếu tiếp tục có kết quả khả quan, họ tạm lơi tay thơ, chú tâm vào việc viết văn. Một sinh hoạt có nhiều ưu điểm: nhuận bút khá, tác phẩm ấn hành dễ bán chạy. Và một khi viết văn đã thuần tay ít có người quay trở lại với thơ. Một thực tế nhiều người công nhận, trước khi dính líu đến văn xuôi, thơ của họ không thiếu những tiêu chuẩn cần có của thi ca. Nhưng sau khi tạm dẹp thơ qua một bên, có dịp cần viết lại đôi bài, hình như họ gặp ít nhiều khó khăn và thơ cũng hao hụt chất lượng.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Bình-Nguyên Lộc (1914-1987)

Bình-Nguyên Lộc tên thật Tô Văn Tuấn, sanh và mất cùng ngày 7 tháng 3, thọ 73 tuổi (1914-1987). Sự nghiệp văn hóa của Bình-Nguyên Lộc khá đa dạng, ông viết văn làm thơ, rồi làm báo, nhă xuất bản và cuối cùng làm nhà nghiên cứu tiếng Việt và nhân chủng học. Bình-Nguyên Lộc là một trong những nhà văn trội bật của dòng văn chương lục tỉnh. Ngoài bút hiệu Bình-Nguyên Lộc ghi dấu quê hương Đồng Nai, ông còn ký Phong Ngạn, Hồ Văn Huấn, Trình Nguyên và một số bút hiệu ngắn hạn khác.
(more…)