Luau, nàng tiên nâu và ông Harry

Posted: 17/03/2016 in Khổng thị Thanh-Hương, Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự

Khổng thị Thanh-Hương

grassgreen_palegreen

Nhờ đi bộ gần như hằng ngày trên con đường làng Kaieie, chàng và tui làm quen được với trên dưới chục người. Từ chỗ quen biết, những người bạn mới này mời tụi tui tới chơi hay đi ăn tiệc với họ.

Luau là bữa tiệc đầu tiên. Bà mẹ của chủ nghĩa trang Mauna Kea rủ hai đứa tui đi ăn đầy tháng của một bé gái. Từ Papaikou xuống Na’alehu, thuộc khu vực Kau, khoảng một tiếng rưỡi. Nơi tổ chức Luau là một công viên, nằm ngay trung tâm Na’alehu. Trước khi tới nơi, trong trí tui đã hình dung là sẽ có một con heo quay nằm chễm chệ trên bàn, coi như là “nhân vật” chính và các món phụ khác như poi, poke và lomi salmon. Tui còn tưởng tượng là sẽ có màn múa Hula nữa.

Tới nơi, gần đúng như sự phỏng đoán của tui, trên một bàn tiệc dài trải khăn hình bông Bụt với mầu sắc rực rỡ là một con heo quay đã không còn nguyên hình nguyên dạng như trong các đám cưới, đám hỏi của người mình, mà đã được xé phay, da xen lẫn với thịt và mỡ nằm chen chúc trong một khay lớn.

Tiệc chưa mở màn. Mọi người, đủ mọi sắc tộc và mầu da, nói cười vui vẻ. Bên Hawaii này, sự kỳ thị mầu da hay chủng tộc cũng có. Nhưng nhờ giây mơ rễ má cho nên nạn này không lộ liễu như tại vài nơi khác trên thế giới. Ông Puerto Rican này là dượng của cô người Hạ Uy Di kia, bà Nhật này là thím của anh người Phi nọ. Ngoài tui ra, không có Mít nào khác trong bữa Luau này. Gần tàn bữa tiệc, và sau khi trẻ con xúm lại đập tan tành bịch kẹo Piñata, chủ tiệc báo tin hơi buồn là đứa cháu gái lo phần trình diễn Hula đã không tới được vì bị cảm.

Lần thứ hai đi ăn tiệc chàng và tui không phải lái xe mà chỉ đi “lô-ca-chân”, vì nhà bà hàng xóm nuôi dê nằm sau con dốc, cách nơi ở tạm của hai đứa có vài trăm bước. Nhân dịp trở về từ chuyến du lịch Nam Phi, bà ta làm một bữa tiệc mời bạn bè hàng xóm tới chơi và sẵn dịp coi hình những con thú rừng đã được bà thu vào ống kính. Trong đám thực khách tui thấy có vài người đã quen biết trước: một cặp đồng tính nam, chuyên bán hoa tại Farmer’s Market và gia đình bốn người mới dọn qua từ Vịnh San Francisco từ hồi tháng Sáu năm ngoái. Ngoài ra, tụi tui còn được giới thiệu với vài phụ nữ độc thân, một cặp vợ chồng với đứa con gái và người bạn trai của nó, và một người đàn ông lớn tuổi, gốc Hạ Uy Di. Vì tiệc dọn theo kiểu Buffet cho nên ai nấy tự lấy thức ăn cho mình rồi tụm năm, tụm ba ăn uống và bàn chuyện hàng xóm, láng giềng. Ai mới sắm thêm vài mẫu đất trồng khoai, trồng gừng, ai mới bỏ thiên đàng hạ giới để trở về “cõi tạm,” ai mới bắn được vài con heo rừng đêm qua …

Khi nhìn thấy lối trang phục của con nhỏ và người bồ của nó, tui không khỏi nghĩ đến những Hippy ngày xưa. Cô bé mặc một cái áo rất ngắn bó sát thân mình hơi đẫy đà, để hở nguyên một cái vòng số hai, tròn như qủa bóng, dù nhìn thẳng hay nhìn ngang. Rồi từ gấu áo đi xuống phía Nam, tui nghĩ cần phải đi hơi lâu và hơi xa, có lẽ phải gần hai gang tay, mới tới được phần y phục kế đó. Có thể trí ưởng tượng của tui hơi phong phú, cho nên mỗi khi nó đi qua, tui lại hình dung một hình số 8 (từ hai hình bán nguyệt hợp lại của vòng số hai và số ba của con nhỏ) xeo xéo đang di động trước mắt. Đôi chân trần, cùng mầu với thân mình và mặt mày, trắng ởn như chưa bao giờ thấy dung nhan Thái Dương Thần Nữ. Anh chàng bạn trai của con nhỏ này thì có đôi mắt xanh và rất sáng, lông mày như hai con sâu đóm, nằm trên cặp kính cận dầy như đít chai bia 33. Mái tóc dài và dầy mầu nâu đậm của thằng nhỏ được bó thành một bó bự như củ hành tây, nằm trên đỉnh đầu. Hàm râu mép và quai nón thì rậm rạp hết cỡ, như râu tóc của mấy tay Guru bên Ấn Độ. Áo che thân của anh chàng là một cái áo thun ba lỗ tye dye sẵc sỡ. Hai đứa ngồi im lặng ăn uống ở một góc.

Khi dòm thấy hai đứa nhỏ ngồi ăn, hình ảnh những Hippy và thói quen hút cần sa của họ thời xa xưa lại trở về trong tâm trí. Tui hỏi đùa bà chủ nhà là có ai đem theo marijuana hôm nay, “vì tui muốn biết mùi vị của nó ra sao.” Lạ thay, bà ta không lấy gì làm ngạc nhiên trước câu hỏi nửa đùa nửa thật của tui. Bà ta nói, nếu có ai hút thì chỉ có cái ông đội mũ Panama mà thôi. Rồi ra dấu cho tui đi theo, để đi kiếm “ông già đội mũ Panama.” Không tìm ra ông già, bà chủ nhà nói để lát nữa sẽ hỏi dùm cho.

Thế rồi tui quên béng đi cái câu hỏi vô thưởng vô phạt của mình. Cho tới khi ăn xong, lúc ngồi tán dóc với gia đình ông già đội mũ Panama, thì bỗng nhiên tui thấy cả vợ chồng con cái đang chuyền nhau một điếu thuốc vấn tay. Tui nghĩ bụng, “Chắc chắn là mấy tay này đang thăm nàng Tiên Nâu đây!” Có thể vì thuốc cấm không được rẻ cho nên họ phải hà tiện? Một điếu thuốc đã vấn tay rồi mà lại phải còn chuyền tay nhau, từ cha tới mẹ, tới đứa con gái, rồi sau cùng tới thằng bồ, rồi tới cặp nam đồng tính. Rồi lại xoay vần, xoay vần! Sau khi đi tới vòng thứ hai, đứa con gái khều nhẹ tui hỏi có phải tui muốn ngửi thử mùi cần sa? Tui gật đầu. Nó ra hiệu cho tui ghé mặt lại gần, rồi hít một hít thiệt là sâu, rồi thổi hai, ba luồng khói vô mặt tui, trước khi chuyền điếu thuốc cho tía nó.

Tui không biết tả ra sao cho chính xác cái mùi “quốc cấm” này. Nó khen khét như mùi bao bố cháy. Không có gì là hấp dẫn. Đứa con gái nhìn tui với con mắt thú vị, coi tui phản ứng thế nào, rồi hỏi, “Bây giờ bà đã biết mùi của cần sa ra sao rồi đó nhe.” Khi thấy tui gật đầu, ông bố dí điếu thuốc đang cháy dở dang gần mặt tui hỏi, “Bà có muốn thử hay không?” Tui lắc đầu trả lời, “Dạ không dám à!” Rồi tui giải thích thêm là vì sắp bay về thăm bà gìa. Nếu ví dụ chuyện hút sách được đề cập tới, rồi bà già hỏi chơi có bao giờ tui hút cần sa thì tui không muốn mang tội nói dối. Vì bả mà biết được thì sẽ chửi thúi đầu! Ông Hippy già không chịu thua, ổng hỏi tui lần thứ hai, “Bà thử một lần cho biết.” Tui dặn lòng là bằng mọi gía, tui sẽ không để cho ông già này làm áp lực, vì ở cái tuổi đầu đã có hai thứ tóc này, nghe lời xúi bậy, dù chỉ thử một lần, dù chỉ một hít, tui sẽ trả lời ra sao câu hỏi “Bạn có bao giờ hút cần sa?” khi tui đi kiếm việc? Thời buổi này, làm sao tránh được đôi mắt cú vọ của “Người Anh Cả”? Nếu họ biết được tui đã có một lần hút sách thì chết toi, cơ hội kiếm việc coi như đi đong, tương lai về chiều sẽ tối hơn … đêm 30! Cũng may, bà vợ ông già thấy tui có tỏ vẻ không vui cho nên hích cái cùi chỏ hết còn son sẻ vô cạnh sườn ông già. Bà ta nói, “Bả đã nói là không muốn thử mà sao ông còn cứ ráng ép?”

Đêm đó, lúc đi bộ về tui hỏi chàng của tui là có ngửi mùi gì như mùi bao bố cháy không thì chàng trả lời là không. Qúa quen với với mùi “bao bố cháy”, chàng hỏi, “Bộ có ai hút cần sa hôm nay?” Tui bèn kể sơ cho chàng nghe về kinh nghiệm với gia đình hút “cỏ” của mình. Chàng lắc đầu nói ông già đó không nên ép tui như vậy, rồi thêm, “Ông này không có lịch sự!”

Vài tuần sau đó, chàng và tui dự tiệc Giáng Sinh tại nhà một trong những người bạn của cô nhân viên địa ốc. Bà Jane người Đài Loan, có chồng người Hòa Lan. Các con họ đã trưởng thành và dọn về đất liền từ lâu. Hai ông bà ở trong một căn nhà xinh xắn nhìn xuống biển. Trước và chung quanh nhà là những cánh đồng trồng gừng và khoai lang tím bao la bát ngát. Khi tới mùa, hoa gừng nở rộ, bên cạnh mầu tím của lá khoai và mầu chàm của biển trải dài xa xa, tạo thành một bức tranh làm dịu lòng người.

Khi nghe tui nói mê căn nhà của ông bà. Bà Jane trả lời là nếu tui thấy nó hai năm về trước thì tui sẽ nghĩ khác. Tui hỏi nguyên cớ. Bà Jane nói là sau khi nhóm thợ dựng xong cái xườn nhà, họ bỏ đi một nước! Hai năm đó là hai năm “sống trong hỏa ngục.” Một tay bà gọi từng nhóm thợ để hoàn tất căn nhà đang xây dở dang. Thợ nề, thợ môc, thợ điện, thợ ống nước … Một mình bà phải liên lạc với nhà đèn, hãng ga, hãng computer để gắn hệ thống điện, hệ thống ga, hệ thống nước, hệ thống computer. Ông chồng 87 tuổi người Hòa Lan nói thông thạo 8 thứ tiếng, đã bắt đầu có triệu chứng bệnh lẫn cho nên bà không thể nhờ ông những việc này. Cả ngày ông đọc báo gửi qua từ Hòa Lan, từ Nữu Ước, từ Pháp, từ Nhật, từ Đức. Chỗ ngồi thường nhật của ông là chiếc ghế bành đặt ngoài cửa ra vào. Khi không đọc sách báo, ông ngồi đó, nhấp Whiskey, và nhìn xuống biển. Khi có khách ông Harry rất vui. Ông kể chuyện ngày xưa còn trẻ, và thường lập đi lại một câu chuyện bốn, năm lần. Tuy mang chứng bệnh chưa tìm ra thuốc chữa, ông vẫn còn nói tiếng Nhật rất lưu loát. Khách tới chơi là da vàng mũi tẹt thì ông Harry xổ tiếng Nhật. Khi nghe ổng nói một tràng tiếng Nhật, tui bèn phản pháo lại với “Kawasaki, Honda, Suzuki, Arigato, Sayonara …” Ổng cười qúa trời!

Mang tiếng là đã ở Hạ Uy Di hơn một năm, tụi tui chưa tham dự một bữa tiệc nào do chính người bản xứ tổ chức. Trong tháng đầu tiên, hai đứa có ghé qua bãi Onekahakaha, và gặp một ông già tự giới thiệu là “Uncle David”. Ông có mời hai đứa ghé qua ăn potluck với hội chơi thẩy banh sắt trên sân cỏ của ông. Tiếc thay, tới giờ này hai đứa vẫn chưa có dịp. Bữa nào, tụi tui sẽ ghé qua thăm Uncle David để coi người bản xứ ăn potluck ra làm sao.

Khổng thị Thanh-Hương
Nguồn: Tác giả gửi

Đã đóng bình luận.