Phố cổ Hà Nội: Ba thế hệ họa sĩ, một oan tình

Posted: 27/04/2016 in Hội Họa, Nguyễn T. Long, Tùy Bút / Tản Mạn / Ký Sự
Thẻ:, ,

Nguyễn T. Long

pho_co_ha_noi

Qua tranh Phố cổ Hà Nội của Phạm bình Chương tôi mới có dịp về lại Hà Nội, trong một ý nghiã nào đó. Tìm hiểu về đề tài này mới được biết thêm họa sĩ Phạm Luận, rồi từ Phạm Luận, ngược dòng thời gian, chỉ có thể về với Bùi xuân Phái! Đúng là Ba thế hệ họa sĩ, một oan tình! (Chợt nhớ đến tên một tuồng cải lương ở miền Nam cũ).

Ba người họa sĩ này đều nổi tiếng về tranh vẽ Hà Nội của họ mặc dầu họ cũng nổi tiếng trong các lãnh vực tranh khác. Chính cái nơi chốn mà họ sống, biểu hiện qua các tác phẩm hội họa, cho thấy ý tưởng, cảm xúc, tâm cảm, nhận thức… của họ, qua một ngàn năm Thăng Long (từ 1010), đến gần 100 năm vừa qua của ba thế hệ họa sĩ.

Ghi chú về tranh của các họa sĩ

Phần nhiều các tranh được chọn đều để diễn giải ý tưởng của bài viết (về một số biến cố đặc biệt trong đời của họa sĩ hay một giai đoạn của một phong cách hội họa…) nên có tính cách tượng trưng nhiều hơn là tiêu biểu, một phần, cũng vì khuôn khổ có giới hạn của bài viết.

Một số lớn tranh của 3 vị họa sĩ này đều có trên mạng internet. Ngoại trừ họa sĩ Bùi xuân Phái đã có nhiều sách vở viết về ông, tranh Phạm Luận hy vọng có thể tìm hiểu thêm (?) qua “Tranh Phạm Luận” – Nhà xuất bản Mỹ Thuật – Hà Nội – 2014 hay Phạm Luận Vol. I và II (catalogue về các triển lãm của ông?), nhưng tôi không tìm ra được các sách này.

Không rõ Phạm bình Chương có xuất bản sách nào về tranh của ông hay không, nhưng một bộ sưu tập vể tranh Phố cổ Hà Nội của ông chắc hẳn sẽ là một tác phẩm có giá trị lâu dài trong hội họa Việt Nam.

Hơn 20 tranh của Phạm bình Chương đã được đăng trên web Sáng Tạo trong mục Phòng triển lãm ngày 20 Sep 2015 với tựa “Tranh phố Hà Nội của Phạm bình Chương” cùng với bài ‘Xem tranh Phố cổ Hà Nội”.

I. Bùi xuân Phái

bui_xuan_phai
Họa sĩ Bùi xuân Phái (1920-1988)

Bùi xuân Phái (1920-1988) mất cũng gần 30 năm, đã có khá nhiều sách báo, bài vở viết về cuộc đời và tác phẩm của ông. Cuốn tiểu sử, được in lần đầu vào năm 1998, do chính con trai của ông và một nhà sưu tập chấp bút có thể được coi như là tiểu sử chính thức (1).

Ông theo học khoá 15 (1941-46), khoá cuối cùng của trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội.

Theo kháng chiến từ những ngày đầu (1946) trong chiến khu nhưng Việt Minh đã để lộ bộ mặt Cộng sản độc tài chuyên chế, giáo điều, áp bức… ngay trong thời chống Pháp với những người không theo lý tưởng của họ. Nhiều văn nghệ sĩ yêu nước, có tư tưởng tự do, đã “dinh tê, về thành” như Tạ Tỵ, Phạm Duy… . Bùi xuân Phái cũng trong số đó, ông trở về sống ở Hà Nội từ 1952 và lập xưởng vẽ. Bức tranh “Phố hàng Thiềc” của ông, vẽ năm 1952, sau này sẽ để lại một giai thoại đáng nhớ.

Rập khuôn phong trào “Trăm hoa đua nở, Trăm nhà đua tiếng” (1956-57) của Mao trạch Đông, đảng CSVN (lúc đó còn lấy tên là đảng Lao Động) phát động chiến dịch kêu gọi “Tự do sáng tác, mở rộng phê bình” để rồi sau đó (dùng chữ thời thượng ngày nay) “hốt trọn gói” những ai đòi tự do, dám phê bình đảng! Bùi xuân Phái tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm, chỉ vẽ mấy bức họa mà bắt đầu cuộc hành trình Odyssey gần 30 năm của cuộc đời mình mà không hay!

Sự trù dập, một ngón đòn tuyệt xảo của CSVN, bắt đầu với Bùi xuân Phái khi ông “được” trường Mỹ thuật yêu cầu (tự) viết đơn xin nghỉ việc. Sau đó (1958), lại “được” đi Nam Định “cải tạo” trong một hãng mộc! Ông trở thành một “họa sĩ tự do” như tập Tiểu sử cho biết. Trong một chế độ toàn trị mà tất cả đều được kiểm soát tủn mủn, từ đôi đũa đến chén cơm trong tay nhà nước thì làm nghề tự do chỉ có nghiã là tự do… đói! Chế độ đó chỉ cần thợ vẽ cho các áp phích (Phạm Luậnacard) tuyên truyền, ai cần họa sĩ làm gì?

“… . Nói chung, cuộc sống của Bùi Xuân Phái, cho tới những năm cuối đời vẫn đạm bạc. Ông Bùi Thanh Phương từng kể, suốt mấy chục năm, như đã thành thông lệ, hễ tết đến là nhà văn Nguyễn Tuân luôn có qùa sêu tết cho Bùi Xuân Phái, khi thì cân giò, khi thì cân thịt bò, khi thì con cá chép và “gia đình tôi trong mấy thập niên đó, có một cái tết ra trò hay không một phần cũng trông chờ vào qùa sêu tết của nhà văn Nguyễn Tuân”. …” (2)

Ông đã sáng tác trong khung cảnh như thế nào? Xin trích dẫn bài viết của tác giả trong nước:

“… Nhà chật, trẻ con trong nhà đùa nhau ngã oành oạch vào tranh vẽ dở và bê bết mầu. Ông thường thức trắng đêm để làm, chờ các con ngủ hết ông mới căng toan dưới đất và ngồi vẽ. “Xưởng vẽ” của ông là góc nhà chỉ rộng 2 mét vuông, sau này khi cậu con trai Bùi Thanh Phương cũng vẽ cùng thì cái “xưởng” ấy phải chia làm đôi, mỗi người chỉ đủ ngồi, xoay lưng là chạm nhau. …” (3)

Năm 1964 ông được vào trở lại biên chế nhà nước (theo Tiểu sử) nhưng chế độ đó ứng xử như thế nào với nghệ thuật của ông? Nhớ hai câu thơ về tình đời “đông lạnh” trong Cung Oán Ngâm khúc:

Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu,
Giết nhau vì cái u sầu độc chưa.

“…đã có thời, những bức tranh phồ cổ của ông bị nhìn nhận là vô bổ. Triển lãm Hà Nội hàng năm, tranh phố tham dự của ông đều bị loại. Ông vẫn biết tranh ông sẽ bị loại, nhưng là hội viên Hội Văn Nghệ thì bắt buộc phải có tranh. Tự tay ông cầm tranh về thì thấy khổ tâm và tủi, nên Bùi Thanh Phương thường thay bố làm công việc “cực chẳng đã” này. Ngay cả mảng tranh Chèo, một gia tài vô giá của hội họa Việt Nam, cũng đã từng bị từ chối công nhận. … “ (3)

Xin ghi lại một câu trong phần giới thiệu của nhà sưu tập tranh Trần Hậu Tuấn trong cuốn “Tâm tư nghệ thuật” (2000) để đúc kết về môi trường sinh hoạt nghệ thuật bao trùm cuộc đời Bùi xuân Phái:

“không chỉ khó khăn về kinh tế, đe dọa của bom đạn mà còn cả thói đạo đức giả, chủ nghiã cơ hội, sự ấu trĩ và cả những kẻ ưa chụp mũ người khác” (4)

van_mieu_ha_noi-1953-bui_xuan_phai
Văn miếu Hà Nội (1953) – Bùi Xuân Phái

pho_hang_thiec-1952-bui_xuan_phai
Phố Hàng Thiếc (1952) – Bùi Xuân Phái

ho_hoan_kiem-1978-bui_xuan_phai
Hồ Hoàn Kiếm (1978) – Bùi Xuân Phái

canh_pho_ha_noi-1981-bui_xuan_phai
Cảnh phố Hà Nội (1981) – Bùi Xuân Phái

pho_thuoc_bac-1987-bui_xuan_phai
Phố Thuốc Bắc (1987) – Bùi Xuân Phái

Bùi xuân Phái là họa sĩ vẽ chủ yếu theo đường nét (line). Các bức minh họa hay ký họa bằng chì hay bút mực của ông sắc sảo vô cùng như tranh vẽ cho bản in khắc kẽm (etching) vậy, ngay cả bức chân dung tự họa cuối cùng hay bức vẽ người bệnh nằm chung phòng với ông trong nhà thương.

Phố cổ Hà Nội là đề tài ông vẽ nhiều nhất, hầu như tất cả các con đường ở đó đều xuất hiện trên tranh ông, với những ngôi nhà còn đầu hồi, bạt che trước cửa, các cửa sổ mở bằng que chống… , tất cả đều thô sơ, hiu quạnh và… buồn! mà có lẽ khi lang thang tản bộ ông đã ghi lại trong ký ức cùng với các kỷ niệm, hoài cảm một thời xa xưa… . Giới thưởng ngoạn, người yêu tranh ông, gọi đó là hồn của Hà Nội và trở thành tranh Phố Phái.

Bộ tranh này đã được con ông, như một nhà quản trị gia sản tận tụy, chia ra làm ba thời kỳ, nhưng là một họa sĩ đa năng, ông còn vẽ hoạt cảnh về Chèo, chân dung hay khoả thân. Đề tài sau cùng này ít thấy các vị đồng thời theo đuổi nhưng tranh chân dung của ông, ngay cả chân dung tự họa, không hề thấy ông vẽ ai cười bao giờ, dù chỉ là một nụ cười mỉm “à la Mona Lisa” [La Joconde]!

Khoảng cuối thập niên 50, đầu 60, Phố cổ của Bùi xuân Phái có nhiều bức được họa sĩ vẽ như đồ chơi Logo của con trẻ thời nay (nhưng với mầu sắc ảm đạm) lại khá là dễ bắt chước để… “nhái” khiến thị trường mỹ thuật VN ở hải ngoại cũng bị điêu đứng một thời nhưng có phải lỗi tại ông đâu?! Thời đó, trên tranh của ông còn xuất hiện những ông già đội khăn đóng, mặc áo dài ta, các bà đội nón thúng quai thao, áo tứ thân… , hiếm nhưng qúy cho lịch sử hội họa Việt Nam.

Từ thời Đổi mới (đầu thập niên 80), sau hồi “mở cửa”, nhiều nhà sưu tầm đã tìm đến ông, tác phẩm của ông được trưng bầy ở hải ngoại, tranh Hà Nội của ông cũng thay đổi, có “sáng” ra phần nào ở cách dùng mầu, nhiều chi tiết khúc chiết hơn, nhưng ông chẳng còn nhiều thì giờ nữa.

“1984” là tên quyển sách kinh điển chống độc tài toàn trị Cộng sản của G. Orwell (1903-1950) lại trớ trêu trở thành năm cao điểm nhất trong cuộc đời họa sĩ của ông: Triển lãm cá nhân đầu tiên và duy nhất của Bùi xuân Phái.

“ Cả nhà nhộn nhịp căng toan, lồng khung… Bùi Xuân Phái háo hức hơn bao giờ, có lẽ chưa hề vui như thế. Năng lượng sáng tạo của Bùi Xuân Phái quá mạnh, 108 họa phẩm hoàn thành trong nửa năm, hầu hết đều tuyệt vời.” (5)

24 bức họa đã được mua ngay trong ngày triển lãm.

Duy có bức tranh vẽ phố, không phải là xưa nhất, nhưng còn lưu giữ được ở Hà Nội thời đó lại không xuất hiện trong buổi triển lãm để đời của Bùi xuân Phái, đó là bức Phố hàng Thiếc vẽ năm 1952. Theo Tiểu sử, họa sĩ đã tặng nhà văn Nguyễn Tuân và được ông bạn treo tại phòng khách cả chục năm. Khi biết Bùi xuân Phái được phép tổ chức triển lãm, nhà văn đã tặng lại tranh này cho họa sĩ với ý muốn được trưng bầy trong triển lãm, nhưng khi chọn tranh, ông đã nói với con trai: Bố không muốn bày bức này vì người xem có thể sẽ thắc mắc bởi đát tê (năm vẽ) 1952, khi Thủ đô chưa giải phóng sao họa sĩ đã có mặt tại Hà Nội? [(1), trang 64]

Ôi, đâu phải chỉ có mình Bùi xuân Phái mới “biết sợ”! Sau 1975, vào Nam gặp bạn bè, Nguyễn Tuân nâng ly rượu lên, nửa cười nửa mếu: Tao còn sống đến ngày hôm nay là bởi vì tao … bìết sợ!

Năm 1996 Bùi xuân Phái được Chủ tịch nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh, bà vợ ra lãnh, người suốt đời đã tần tảo lo cho gia đình, con cái để ông theo đuổi nghiệp vẽ. Ở Việt Nam có lẽ người ta (vẫn còn) xem đó là một tuyên dương cực kỳ vinh dự, nhưng tôi thấy, nói một cách nhẹ nhàng, nó chỉ như một trò “diễu dở” thì đúng hơn! Chuyện các cựu đồng chí (nhất là sau 1975) tỉnh ngộ, chống đảng, cũng được đảng trù dập tới nơi tới chốn, xong rồi mang vòng hoa “hoành tráng” tới phúng điếu. Nó thành cái quy luật mất rồi!

Một “ông Tây” [1596-1650] (ai mà chả biết ông này!) đã từng tuyên bố: Tôi tư duy, do đó tôi hiện hữu. Với Bùi xuân Phái thì giản dị và dễ hiểu hơn nhiều, chỉ có: Tôi vẽ, tôi là! Đó là lý do hiện hữu (raison d’être) của ông: một họa sĩ chân thật! Từ khi tốt nghiệp trường Mỹ thuật, trong mọi hoàn cảnh khốn khổ, khó khăn nhất, ông vẫn luôn luôn liên tục, bền bỉ sáng tạo và cái đẹp trong tranh của ông chính là cái đẹp ông giữ được trong tâm hồn, trong cung cách xử thế, trong lối sống suốt cuộc đời mình.

II. Phạm Luận

pham_luan
Họa sĩ Phạm Luận

Phạm Luận sinh năm 1954 tại Hà Nội, năm đất nước chia đôi. Ông có cái may mắn không phải xâm mình bốn chữ “Sinh Bắc, tử Nam” mà tốt nghiệp đại học ở Hà Nội. Lúc đó, vì hoàn cảnh chiến tranh nên trường Mỹ thuật phải sơ tán đi Hà Bắc, ông ở lại Hà Nội học Sư phạm và do ham mê hội họa nên đã tự nghiên cứu và trở thành một họa sĩ tự học (autodidact) (6). Các danh họa như Van Gogh, M. Utrillo, Thái Tuấn… cũng có tốt nghiệp trường mỹ thuật nào đâu?!

Tài liệu tôi có được trực tiếp về Phạm Luận là từ cuộc Phỏng vấn, ngoài ra chỉ có ít tư liệu tổng quát về tiểu sử họa sĩ trên mạng (như web Ar Bo Gallery) hay một vài bài báo lẻ tẻ trong nước tường thuật về cuộc triển lãm cá nhân lần thứ tư của ông ở VN (được ông chọn tên là “Nắng”), tại Hà Nội vào cuối tháng 2. 2014. “Cùng đi xem triển lãm: Nắng của họa sĩ Phạm Luận” (28 Feb 2014) của họa sĩ Phạm huy Thông là bài viết cẩn trọng nhất.

Không có đủ dữ kiện nên tôi không biết về hành trình nghệ thuật của Phạm Luận như thế nào sau trên dưới 20 năm triển lãm tranh ở ngoại quốc. Chỉ biết nó được đánh dấu từ cuộc triển lãm đầu tiên (1991) ở trong nước và từ năm 1994, sau triển lãm đầu tiên ở ngoại quốc tại Hong Kong, tranh của ông trở thành quốc tế, xuất hiện trên khắp thế giới nhất là ở Mỹ, Anh, Hong Kong, tiếp tục ở Seoul (Nam Hàn), Sydnet (Úc)… . Suốt thập niên đầu thế kỷ XXI ông bận rộn đi từ nước này qua nước khác để triển lãm, hầu như không ngưng nghỉ.

Lặn lội phấn đấu để chen chân được tên tuổi trong thị trường mỹ thuật thế giới đã là một cái tài, nhưng cái tài quan trọng hơn cả vẫn là tài năng về nghệ thuật của chính người họa sĩ. Họa sĩ từ miền Nam sống ở ngoại quốc thời 60’s, 70’s chỉ có ông Võ Đình là đi tiên phong vào con đường này.

Một ông họa sĩ, Cục trưởng của cái Cục gì đó, thuộc về cái Bộ nào đó ở VN đã phát biểu một câu xanh rờn, cho rằng Phạm Luận “… đặc biệt là có công giới thiệu tranh của VN ra nước ngoài.” (7)

Mới nghe tưởng đâu như nhà nước VN của ông ấy quan tâm đến việc truyền bá văn hoá, nghệ thuật VN ra nước ngoài lắm nhưng thử hỏi mấy cái Cục, Bộ của ổng có giúp họa sĩ Phạm Luận phát triển nghệ thuật được cái gì không (?) hay chỉ biết khen vuốt và ganh tỵ! Đúng thật, chỉ có “nhận vơ” là giỏi, y như cái đảng của ông ta vậy!

Không thể không nhớ tới bài tiểu luận của nhà văn Phạm thị Hoài nói về bộ máy văn hóa ở VN:

“ … Guồng máy công quyền ở mọi nơi đều là chốn nương thân lí tưởng cho sự tầm thường, nhưng ở đất nước này… , hệt như ở các lãnh vực khác, tiêu chuẩn cùa người quản lí văn hóa dường như trước hết phải là không biết gì về văn hóa. …. Những phẩm chất trứ danh khác của bộ máy nói trên là quan liêu, lười nhác và tắc trách. … “ (8)

cau_the_huc-2007-pham_luan
Cầu Thê Húc (2007) – Phạm Luận

o_quan_chuong-2007-pham_luan
Ô Quan Chưởng (2007) – Phạm Luận

pho_hang_dao-II-2007-pham_luan
Phố Hàng Đào II (2007) – Phạm Luận

pho_hang_gai-2008-pham_luan
Phố Hàng Gai (2008) – Phạm Luận

duong_co_ngu_cu-2013-pham_luan
Đường Cổ Ngư cũ (2013) – Phạm Luận

Nhiêu đó cũng đủ “sởn tóc gáy” rồi (mượn chữ của bà Hoài), khỏi cần nói thêm chuyện nhà nước VN, chán mớ đời!

– Trên web của các gallery ngoại quốc, phần tranh Phạm Luận, trong những năm thập niên 80’s ông còn vẽ đường nét, sau này, khi đã chọn thể cách riêng của mình, tranh Phạm Luận chỉ còn là những vệt sáng, những mảng màu, có sự tương phản (contrast) mãnh liệt, rực rỡ giữa mầu sắc chính và phụ, giữa ánh sáng và bóng tối, rất gần với lối vẽ của F. Vallotton (1865-1925) (9).

– Phạm Luận chia tranh làm ba theo chiều dọc, dành khoảng sáng ở giữa và bóng tối ở hai bên trong tranh phong cảnh, đường phố… , có khuynh hướng tập trung ánh sáng (xem các tranh “Cánh   đồng Violet” hay “Nắng mới” trong triển lãm Nắng) như thủ pháp Chiaroscuro (10) nhưng ở VN, cho đến nay mà tôi biết, chỉ có Đỗ quang Em là họa sĩ triệt để nhất áp dụng phương pháp này.

– Tranh của Phạm Luận thường có bố cục chặt chẽ, tưởng chừng như có sự tính toán chi ly nhưng phối cảnh của ông, có thể, nhiều hơn, là qua kinh nghiệm sáng tạo, học hỏi và biến thành trực giác của họa sĩ, như ông nói trong cuộc Phỏng vấn, ông đã vẽ nước và mây trời (phản chiếu) tại vườn của Monet ở Governy (Pháp) trong một buổi sáng, không hề sửa lại.

– Khách thưởng lãm dễ có cảm tưởng như ông kết thúc bức tranh bằng các nét cọ có mầu sáng (hoa, ánh nắng giữa các tàng cây, vệt nắng trên mặt đường…) giống các họa sư thời xưa “điểm nhãn” sau cùng khi vẽ rồng: nó làm cho bức tranh có “hồn”, nó linh hoạt hẳn lên, nó “sống”, như “thật”. Chỉ “như” thôi mà cũng chẳng phải dễ gì! (Xem 2 bức trong triển lãm Nắng: “Mùa hoa tím” và “Đường Cổ Ngư cũ”.)

– Cảm nhận về tranh Phạm Luận: Thay đổi thể cách từ Ấn tượng (impressionism) qua tới Biểu hiện (expressionism), tranh của Phạm Luận hẳn nhiên không phải là hiện thực mà nó cũng chẳng ảo (trừu tượng) chút nào, nó như huyễn: ông đã thi vị hóa Hà Nội rất nhiều, mang lại cho người xem sự yên bình trong ảo ảnh thị giác nhưng chưa dẫn tới cái tĩnh lặng của tâm thức như tranh Phạm bình Chương.

III. Phạm bình Chương

pham_binh_chuong

Phạm bình Chương sinh năm 1973, tốt nghiệp đại học Mỹ thuật Hà Nội 1995. Ông không hề “dính dáng” trực tiếp gì vào cuộc nội-chiến-quốc-tế-hoá tương tàn vừa qua (1955-75) [như cuộc nội chiến Tây Ban Nha 1936-39 và đã để lại một “Guernica” của Picasso!] ngoài cái biệt nghiệp làm họa sĩ, cái y báo ở Phố cổ cũng như cái cộng nghiệp làm người VN và cái chánh báo sinh ra ở Hà Nội.

Trong các điều kiện xã hội-chính trị (socio-political) như thế, thế hệ của ông qủa là may mắn hết cỡ trong “bên thắng cuộc”: có thể thưởng lãm nghệ thuật, hưởng thụ cuộc sống, ăn ngon mặc đẹp. Qua rồi cái thời chiến tranh chỉ mong cơm đủ ăn, áo đủ mặc (của Bùi xuân Phái), qua rồi cái thời mới có cơm no áo ấm sau “đại thắng mùa Xuân” (thời của Phạm Luận) mà Phạm bình Chương vẫn “trăn trở” với Phố cổ Hà Nội mới là điều đáng lưu tâm.

Vậy, những cơ duyên nào đã khiến Phạm bình Chương chọn đề tài và cách diễn đạt như thế?

1/ Thất bại trong kỳ triển lãm đầu tiên: Năm 1999, 26 tuổi, cùng một nhóm họa sĩ, ông đứng ra mở triển lãm đầu tay. Họa sĩ kể:

“… tất cả mọi người đều bán được tranh, chỉ mình tôi là không ai hỏi han. Buồn, thất vọng và muôn vàn dấu hỏi được đặt ra mà không thể tìm được lời giải. …” (11) 

Khi đó, ông vẽ tranh theo trường phái trừu tượng và mới chỉ là một trong nhiều nghịch cảnh trên đường tìm kiếm nghệ thuật của riêng mình.

2/ Hợp đồng vẽ cho một dự án giáo dục: không thấy ghi là vào năm nào. Tác giả bài viết ở dưới ghi lại như sau:  

“… từ một hợp đồng vẽ cho một dự án giáo dục yêu cầu khoảng 5-6 bức tranh vẽ phố Hà Nội theo lối cực thực, anh đã hào hứng tới mức như vẽ cho bản thân mình chứ không phải cho hợp đồng. Từ đó, những con phố thân thuộc và kiến trúc cổ Hà Nội, đã ám ảnh, khiến trong suốt chục năm qua anh không có thay đổi gì về cảm hứng cũng như lối vẽ hiện thực. …” (12)

Chắc hẳn đây là cái duyên khởi, khai mở nội tâm, đưa Phạm bình Chương trở về với bản thể bị che chắn bấy lâu nay sau nhiều năm tháng tìm kiếm và thử thách. Cùng nhìn Hà Nội đương thời nhưng Phạm Luận và Phạm bình Chương thấy khác nhau, vẽ cũng khác nhau là điều không thể khác được! Hội họa chỉ đóng vai trò phục vụ cho người nghệ sĩ diễn đạt cảm quan nội tại của chính mình. (Matisse – 1909).

– Với lối vẽ hiện thực, đường nét trong tranh Phạm bình Chương sắc như dao mổ (scalpel), có thể thấy được cả từng cái gân lá! Phố cổ trong tranh Phạm bình Chương ít khi có người, thảng hoặc, nếu có, họ xuất hiện như một cái bóng, chỉ làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng, khắc khoải đến nao lòng như một chiếc xe hơi phủ đầy tuyết, trơ trọi một mình trên bãi đậu xe trong buổi chiều cuối năm giữa trời Đông giá lạnh.

Cái sống động, linh hoạt thật sự về một quá khứ xưa cũ trong tiềm thức được diễn tả trong tranh của ông qua ánh sáng phản chiếu không thấy nguồn, các vệt nắng, các tàng lá cây (khi xanh khi đỏ tùy theo mùa), như một sự thách thức với thời gian.

Sự liên tưởng đó đến từ mầu sắc xuất hiện khá thường trên tranh Phạm bình Chương: Ochere (hay Ocher), một mầu vàng nhạt có nhiều sắc độ, có thể biến đổi qua mầu cam đậm cho đến mầu nâu. Đó là một hợp chất thiên nhiên trong đất, đã từng xuất hiện trên các tranh hang động, xưa nhất ở Phi Châu từ 75 ngàn năm trước và liên tục về sau… . Có thể đó là ký hiệu của một lời nhắn nhủ?!

– Phố cổ Hà Nội trong tranh Phạm bình Chương không phải lúc nào cũng u tịch, lặng lẽ, bình an… như người ta dễ lầm tưởng. Ông đã tinh tế diễn bầy nó trong một khía cạnh khác: ngột ngạt, nặng nề, khó thở… như bức tranh dưới gầm cầu Long Biên: trên, gầm cầu là sắt, dưới, là đường đá, giữa, là ba người ngồi xổm, bâng quơ, mất hút trong một khung cảnh sắt-đá hoàn toàn… vô cảm! Nhưng những vệt nắng yếu ớt trên mặt đường đã làm cho toàn cảnh nhẹ đi rất nhiều, thật là tinh xảo!

Bức thứ nhì, Phố hàng mắm, cũng thê lương (!) không kém, chỉ có một bức tường sừng sững, khổng lồ, loang lổ, ảm đạm…, chiếm hầu hết mặt phẳng của bức tranh, người đàn bà ngồi lọt thỏm dưới chân tường… Qủa thực, đây mới là hội họa “Hiện thực xã hội chủ nghiã”… cao cấp!

gam_cau_long_bien-pham_binh_chuong
Gầm cầu Long Biên – Phạm bình Chương

pho_hang_mam-pham_binh_chuong
Phố Hàng Mắm – Phạm bình Chương

Ngõ Đông TháiPhạm Bình Chương
Ngõ Đông Thái – Phạm bình Chương

Lối CũPhạm Bình Chương
Lối cũ – Phạm bình Chương

Phố Hàng TrốngPhạm Bình Chương
Phố Hàng Trống – Phạm bình Chương

– Đã có người hỏi Phạm bình Chương trên facebook, tại sao ông cứ chọn những con đường, những góc phố hiu quạnh, u ám như thế để vẽ, ông chỉ nói: tôi thích. Có lẽ đó là câu trả lời lý thú và đầy đủ nhất bởi vì đã hiểu thì không hỏi mà đã hỏi thì có cắt nghiã cách mấy cũng bằng thừa! Văn chương, thơ phú, mỹ thuật… khác với toán học hay khoa học thực nghiệm bởi vì trí năng và logic không có đủ ngôn từ để diễn bầy tư tưởng, cảm xúc… . Phần lớn các câu hỏi về nghệ thuật đều vô ích là vì thế.

G.Braque (1882-1963), họa sĩ Pháp trong phái Dã thú (fauvism) và sau này chuyển qua Lập thể (cubism), sống đồng thời với Picasso, đã nói: Trong nghệ thuật chỉ có một điều có giá trị: người ta không thể giải thích về nó.

– Nếu chỉ nhìn tranh Phạm bình Chương bằng con mắt thường ngày, với tác dụng sinh lý học (physiology) giản đơn nhất của nó (13), người ta dễ thấy tranh của ông chỉ như hình chụp, “cực thực”, thà xem ảnh (photo) còn hơn! Lý do là vì thiếu sự kết hợp với não bộ trong phần vi tế nhất mà nó tàng chứa: ký ức, hồi tưởng, cảm quan thẩm mỹ, kiến thức mỹ thuật… , những cấu chất mà không khai mở được thì khó lòng đi sâu vào tâm cảm của họa sĩ. Cái dấu ấn cá biệt của “tâm thức sáng tạo” vốn dĩ “rất riêng tư của người họa sĩ” (nói theo Degas) thì ít người có thể đồng cảm.

– Bất cứ người họa sĩ tài hoa nào cũng đều có năng khiếu quan sát cực kỳ tinh tế, có cái cảm nhận sâu sắc về những nét đẹp, chẳng phải chỉ trong hình tướng, biểu hiện ngoại hình… mà cái đẹp còn ở lối sống, ở tình người với lòng lân mẫn, cách cư xử nhân hậu giữa người với người trong xã hội mà họ tương tác.

Phải chăng Phạm bình Chương hay những người cùng chia sẻ cảm nhận về tranh Phố cổ Hà Nội của ông muốn đi tìm lại một cái gì đã mất? Hoài niệm về một cái đẹp chân thật trong nhân cách, trong phẩm giá, trong lối ứng xử có văn hóa, đạo đức và nhân bản, trong khi họ đang sống, phải sống, trong một cái xã hội điên đảo, tệ hại nhất, đi ngược lại tất cả những giá trị tinh thần, những tuyền thống đẹp đẽ của văn hóa Việt Nam… , mà ngày nay, sự vô liêm sỉ đã đạt tới “đỉnh cao trí tuệ” trong giai cấp lãnh đạo độc tài toàn trị!

– Người ta không hoài niệm vì một quá khứ đẹp đẽ bởi vì người ta đã sống, đã trải nghiệm với nó, không có lý do gì để nuối tiếc, nhưng những cái đẹp đó không còn nữa, nó không có trong hiện tại này thì làm sao mà nó có thể tiếp nối trong các thế hệ về sau? Người ta hoài niệm, đó là vì tương lai (14). Chắc hẳn sẽ có người hỏi, thế hệ của Phạm bình Chương làm sao mà tiếp nhận được cái tâm cảm, cái phong thái của Hà Nội ngày xưa, nhưng đó là câu hỏi dành cho Tàng thức. Khi có đủ duyên thì sẽ có biểu hiện, như sau mùa Đông, nắng Xuân khiến cho các cành cây trụi lá đâm chồi, nẩy lộc. Có thể cưỡng lại thiên nhiên, sự tuần hoàn của vũ trụ được chăng?

– Như tác giả Hoàng ngọc Hiến đã viết (1987) về Nguyễn huy Thiệp trong “Nguyễn Huy Thiệp – Tác phẩm và dư luận”: “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió”, tôi cũng chỉ xin lấy ý đó, mong Phạm bình Chương sẽ vượt qua được trong tương lai nhiều thử thách, vững tin trên con đường nghệ thuật của mình và cống hiến cho hội họa VN những tác phẩm có thể nói lên tâm cảm chân thật, nhân bản của con người sống trong xã hội mà không cần họa hình… người!

ĐOẠN CUỐI

– Sống ở ngoại quốc, tôi không có cơ hội và điều kiện để tìm hiểu thấu đáo hơn về 3 vị họa sĩ này nên những nhận định có thể khá là chủ quan và còn nhiều khiếm khuyết. Xin thành thật cáo lỗi. Chỉ muốn bầy tỏ đôi dòng chia sẻ ít cảm nhận với những người yêu hội họa, trong đó có hội họa Việt Nam.

– Hà Nội với những nét thanh lịch, với cái phong cách tao nhã của nó, như là biểu hiện của đất ngàn năm văn vật, chỉ có thể xuất hiện qua tranh Bùi xuân Phái như những dấu hiệu đánh dấu một cổ vật bị chôn vùi thì Phạm Luận đã biến nó thành biểu tượng, như những ký hiệu đầy ý nghiã ở đằng sau nhưng chưa khai mở. Phải đến Phạm bình Chương mới có bản thể của hiện thực về cái hồn muôn đời của Hà Nội qua những hình ảnh còn xót lại: Họa sĩ đã diễn đạt được cái “thấy” cốt lõi mà ông muốn “nhìn”, như cái nhìn của người Hà Nội Tự Do qua “Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội” (15).

– Cái Oan Tình mà họ củng chia sẻ chính là vì sống dưới một chế độ chính trị độc tài, hà khắc, luôn luôn trù dập, gò bó tư tưởng, chèn ép thực tài, áp bức sáng tạo… khiến đất nước như ao tù, nước đọng, nhưng hoa sen vẫn nở lên từ bùn!

– Tranh Hà Nội do đó sẽ không ngưng lại với ba ngưòi họa sĩ này bởi vì đây không phải là những tâm thức cá nhân, riêng lẻ, rời rạc của họ mà là một dòng tâm thức cộng đồng, liên tục nối tiếp nhau, không ngưng nghỉ trong văn hóa, trong mỹ thuật của dân tộc.

– Hình tướng, nhận thức… có thể thay đổi theo thời gian nhưng cái tâm thức về cảm quan nghệ thuật thì thường hằng, bất biến, về cái Đẹp muôn đời nằm trong ý niệm về không gian và thời gian của con người./.

Nguyễn T. Long
19 April 2016

CHÚ THÍCH

(1) Bùi xuân Phái – Cuộc đời và tác phẩm – 1998 – Bùi thanh Phương và Trần hậu Tuấn. Cuốn này sau được hai tác giả trên biên tập và tái bản dưới tên Bùi xuân Phái- Con đường hội họa (2008). Trong bài viết, chữ “Tiểu sử” là ký hiệu lấy dữ kiện từ cuốn sách này.

(2) Danh họa Bùi Xuân Phái (idesign.vn)

(3) Phố Phái và mùa Xuân vĩnh cửu (buixuanphai.com)

(4) Sau này được biên tập lại thành Bùi xuân Phái – Viết dưới ánh đèn dầu (2008) cùng với con trai Bùi thanh Phương của họa sĩ.

(5) “Hà Nội Phố cổ” (Nhật Thịnh – VanNgheSi.net – 2010)

(6) Xem: Youtube VITV – Artworld – 07 Mar 2014 – Phạm Luận được trực tiếp thu hình cũng như phỏng vấn trong xưởng vẽ. Ký hiệu “Phỏng vấn” trong bài là lấy dữ kiện từ Youtube này.

(7) Họa sĩ Phạm Luận – người trọn đời đam mê “Nắng” (Mai Hồng – VOV.VN – 21 Feb 2014)

(8) Ngày về (Phạm thị Hoài – Pro&Contra – 17 Oct 2014)

(9) Félix Vallotton, người Thụy Sĩ, là một peintre-graveur (họa sĩ và người làm tranh thủ ấn). Do chuyên về tranh mộc bản đen-trắng, ông có khuynh hướng dùng mầu đối chọi rất mạnh.  Ở Việt Nam, ngoài họa sĩ Võ Đình vẽ tranh mộc bản, xưa hơn nữa, có lẽ chỉ có họa sĩ Tú Duyên (1915-2012) là xứng đáng với danh hiệu này: vẽ tranh và in mộc bản trên lụa. (Nguyệt san Thế giới Tự do – Nghệ thuật thủ ấn họa – Saigon – 1966)

(10) Chiaroscuro: Lối vẽ lấy sự tương phản của ánh sáng và bóng tối để tạo ấn tượng không gian 3 chiều về hình tượng (figurative), vật thể hay người, bắt nguồn từ thời Phục Hưng. Một trong những người nổi tiếng nhất là họa sĩ Pháp Georges de la Tour (1539-1652) vào thời nguồn ánh sáng nhân tạo chỉ có nến và đèn dầu. [Wikipedia, câp nhật: 31 Jul 2014]

(11) Họa sĩ Phạm Bình Chương – Người lưu giữ sắc màu ký ức (Mai An – sggp.org.vn – 20 Sep 2015)

(12) Sắc độ Hà Nội trong tranh Phạm Bình Chương (Nguyễn Thu Thủy – Hà Nội Mới – 16 Dec 2007)

(13) Những con đường của ánh sáng – Tập II. Trịnh xuân Thuận – Bản dịch của nhà xuất bản Trẻ, VN, – 2009 (trang 209 và kế tiếp)

(14) Đối mặt với sự ra đi đột ngột của người thân (Pháp thoại của Ni sư Thubten Chodron – thubtenchodron.org – 01 Feb 2015)

(15) Nhạc Phạm đình Chương, thơ Hoàng anh Tuấn – Saigon – 1966.

Nguồn: Tác giả gửi bài, ảnh và tranh

Đã đóng bình luận.