Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Đàm Trung Pháp


Chùa Cổ Pháp (Chùa Dận) là một danh lam tại làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Tương truyền Lý Công Uẩn (về sau là Lý Thái Tổ) chào đời tại chùa này.

Người viết bài này rất hân hạnh được chia xẻ cùng quý độc giả về thi tài chữ Hán của một số khoa bảng đất Bắc Ninh thuở xa xưa. Trong di cảo Việt Hán Cựu Văn Trích Dịch, thân phụ tôi là Cụ Đàm Duy Tạo đã tóm lược tiểu sử của họ và diễn dịch sang thơ Việt một bài thơ chữ Hán tiêu biểu cho từng vị. Trong di cảo, các bài thơ chữ Hán được cụ viết tay chân phương, và trước khi dịch sang thơ Việt cụ cắt nghĩa từng câu rõ ràng, với cước chú cho những từ ngữ hay điển tích đặc biệt. Xin mời quý độc giả thưởng lãm các đoạn dưới đây được trích dẫn và nhuận sắc cho dễ đọc từ di cảo ấy.
(more…)

Hà Khánh Quân


Nhà thơ Nguyễn Đông Giang

Bài tản mạn hôm nay, mang tên tập thơ đầu tay của Nguyễn Đông Giang: Thơ Của Người Giang Hồ.

Theo tác giả, tên gọi được ra đời bởi sự góp ý của những người bạn anh, gồm những Lê Ngọc Châu, Mai Xuân Châu, Nguyễn Văn Xuân, Đặng Văn Ngoạn, Nguyễn Văn Nôi, Hoàng Trọng Bân, Châu Văn Tùng, Nguyễn Văn Pháp, Lam Hồ, Hoàng Anh, Phạm Ngọc Niên, Đặng Văn Hải… Đám trung niên này, trong một lần họp mặt tán gẫu tại cà phê Từ Thức Đà Nẵng, đã cao hứng đặt tên cho đứa con tinh thần của Nguyễn Đông Giang. Tập thơ anh định in tại nhà in Da Vàng của Hoàng Công Khanh. Tên tập thơ không phản ánh nội dung của thi phẩm. Cũng không có bài thơ nào trong tập cùng tên. Mô tả chính xác phong cách của người làm thơ, họ Nguyễn ở Đông Giang là ý nghĩa chính của tên gọi. Qua đây, chúng ta có thể hình dung được, tác giả từng là một người phóng khoáng, thích ngao du, ưa thích đi đây đi đó, ngoạn cảnh, săn tình.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Sau Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi tiếp tục xây dựng những nền móng mới cho Việt học, bằng phương pháp độc đáo: phân tích, phê bình và phản biện, mà những người trước và sau ông cho tới nay chưa mấy ai đạt được: Phải viết lịch sử cho đúng, kể cả các chi tiết nhỏ. Phải viết tiếng Việt cho đúng từng câu, từng chữ, từng chữ cái, từng chấm, phẩy. Phải dùng từ Việt và từ Hán Việt cho thích hợp. Phải hiểu Khổng học cho đúng. Sự tìm hiểu nguồn gốc ngôn ngữ và triết học Tây phương đi từ Thánh Kinh. Nữ quyền bắt đầu với Võ Tắc Thiên. Phan Khôi luôn luôn tìm đến nguồn cội để giải thích vấn đề. Là một nhà báo, nhưng không phải nhà báo bình thường. Là một học giả, nhưng không phải học giả cổ điển chỉ biết nghiên cứu. Phan Khôi là khuôn mặt học giả phản biện duy nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX.
(more…)

Thiếu Khanh

Rất tiếc là con sâu Conficker hại tôi. Khi sửa xong máy tính để có thể vào mạng nhận được tập thơ GỌI KHAN GIỌNG TÌNH của nhà thơ Trần Phù Thế do nhà thơ Uyên Hà chuyển lại lần thứ hai bằng email, thì tôi chỉ còn được hai ngày để nhâm nhi tập thơ. Tuy vậy, ngay những bài thơ lục bát đầu tiên trong tập thơ của Trần Phù Thế đã khiến tôi cảm thấy thú vị, bèn lăn chuột đếm thử số bài thơ trong tập. Trần Phù Thế làm nhiều thơ lục bát. Với sáu mươi tám tựa bài[1] trong tập GỌI KHAN GIỌNG TÌNH của anh, tôi đếm thấy năm mươi hai tựa là thơ lục bát, chỉ có mười sáu bài thể thơ bảy chữ, tám chữ hay phá cách. Có một bài (ĐÊM QUA) chỉ gồm hai câu bảy chữ.
(more…)

Võ Công Liêm
To: Ms. Katherine Jenkins (University of Calgary Ab.Ca)

Trong số những tác phẩm của Jean-Paul Sartre* để lại; Hiện Hữu Và Hư Không cho ra đời 1953 được xem là một luận đề (essay) quan trọng nhất đối với thuyết hiện sinh (existentialism) của Sartre mà được ông chủ xướng như một lý luận hiện thể và đích thực về tư tưởng nhân bản. Một tiến trình về tư duy đáng kể nhất để giảm thiểu sự hiện diện của tồn lưu và đồng loạt xuất hiện những học thuyết mà điều ấy được coi như một xác quyết minh bạch cho bộ phận triết học của ông. Đó là cứu cánh vượt qua một cách chắc chắn giữa vô số dạng thức của những yếu tố như sự kết hợp của tồn lưu trong vũ trụ, cụ thể nhất về mặt tinh thần để phân chia giữa tốt và xấu như một ngăn cách về trạng thái nghi ngờ của hiện hữu. Chính cái lưỡng tính giữa hai bề mặt đó tạo nên sự bối rối về triết học và được thay vào đó một học thuyết triết học khác, hầu tìm ra một giải pháp thích hợp hơn của khoa hiện tượng dù là những đơn phương chính yếu nào đi nữa.
(more…)

Đàm Trung Pháp


Lý Bạch (701- 762)

LỜI PHI LỘ: Vì lý do thực tế, những đoạn trích dẫn thơ Lý Bạch trong bài viết này sẽ được ghi theo lối phát âm Hán Việt quen thuộc của chúng ta, thay vì bằng phương thức “pinyin” (phanh âm) để ghi âm quan thoại. Đây cũng là một điều lợi, vì lối phát âm Hán Việt vốn gần gũi với lối phát âm chữ Hán đời Đường. Để thêm hứng thú cho độc giả, xen kẽ vào giữa các bài hoặc đoạn thơ trích dẫn của Lý Bạch và phần chuyển sang tiếng Anh là những bài hoặc đoạn chuyển sang tiếng Việt của các dịch giả lừng danh. Người Âu-Mỹ thường chỉ đọc thơ Trung Quốc qua các bản dịch sang ngôn ngữ của họ.

***

Trong số các thi hào Trung Quốc, có lẽ Lý Bạch (701-762) đời nhà Đường là người được các dịch giả Anh-Mỹ chiếu cố đến nhiều nhất. Lý do chính của sự thiên tư này rất có thể là vì thơ họ Lý không mang nặng bản chất uyên bác với nhiều điển tích lòng thòng phức tạp. Thực vậy, “giản dị” và “dễ cảm thông” là hai đặc trưng nổi bật nhất trong thơ Lý Bạch, theo nhận định của giáo sư James Hargett, hiện dạy văn chương Á châu tại State University of New York . Trong bài “The Poetry of Li Bo” trong cuốn GREAT LITERATURE OF THE EASTERN WORLD (Ian McGreal hiệu đính, Harper Collins xuất bản năm 1996), Hargett trích bài tuyệt cú “Tĩnh Dạ Tứ”, do Arthur Cooper bên Anh Quốc chuyển ngữ năm 1973, để chứng minh nhận định ấy:
(more…)

Thụy Khuê


Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 1922 là năm bản lề, đánh dấu ngõ quặt của nhóm Ngũ Long: Bắt đầu về nước tranh đấu. Người đầu tiên là Nguyễn An Ninh.

Về bối cảnh chung, 1922 có một số sự kiện xẩy ra:

Hội chợ đấu xảo Marseille mở cửa ngày 16/4/1922.

Đầu năm1922, Phan Châu Trinh xuống Marseille để làm việc tại hội chợ.

Pháp cử 7 phái viên Bắc Kỳ đi dự đấu xảo. Đại diện quan trường: Tuần phủ Cao Bằng Vi Văn Định và ông huyện Phong Doanh Trần Lưu Vị; đại diện Tư vấn nghị viện: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn; đại diện thương mại: Hoàng Kim Bảng; đại diện canh nông: Nguyễn Hữu Tiệp, và dại diện Khai Trí Tiến Đức: Phạm Quỳnh. (Phạm Quỳnh, Hành trình nhật ký, Ý Việt, Paris, 1997, trang 208).

Tháng 2/1922, Phan Châu Trinh gửi thư ngỏ cho Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 5/ 1922, Phan Châu Trinh gặp gỡ các nhà trí thức sang Pháp dự hội chợ.

Tháng 6/1922, Vua Khải Định tới Pháp. Một phong trào bài kích nhà vua nổi lên với Thất điều thư của Phan Châu Trinh (kể bảy tội của vua Khải Định) với các bài báo và vở kịch Dragon de bambou (Rồng Tre) ký tên Nguyễn Ái Quốc. Nhóm Ngũ Long đả kích vua Khải Định là lẽ tất nhiên, tuy lời lẽ có hơi quá đáng vì sự thực thì nhà vua cũng không còn quyền hành gì cả. Nhưng có hai sự kiện đáng chú ý hơn là việc:

1- Phan Châu Trinh viết bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc đề ngày 18/2/1922.

2- Phan Châu Trinh gặp gỡ Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.
(more…)

Đàm Trung Pháp


Khổng Tử (551 – 479 trước Công Nguyên)

Từ trên hai ngàn năm nay, người Trung Hoa và các dân tộc Á Châu khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam đã sống trong trong một trật tự xã hội lấy triết lý Khổng giáo làm nền tảng. Triết lý nhân bản này chú trọng đến mối giao hảo giữa con người và con người, và dạy dỗ con người cung cách sống trong đạo lý, hòa hợp, và thái bình. Vì những công đức vĩ đại đó, người Trung Hoa đã tôn vinh Khổng Phu Tử là Vạn Thế Sư BiểuChí Thánh Tiên Sư, một danh dự tuyệt vời đã làm lu mờ cả những thánh nhân và minh quân đã ra đời trước ngài như Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, và Vũ Vương.
(more…)

Phạm Đức Nhì


Poet in construction by Jose Manuel Merello

Lê Đạt và Tô Thùy Yên là hai tài năng thơ đặc biệt của Văn Học Việt Nam. Khi đất nước chia đôi năm 1954, Lê Đạt ở miền bắc. Từ những năm 50 ông đã nỗ lực thay đổi bộ mặt của hình thức thơ. Về nội dung, ông tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đứng về phía nhân dân chĩa mũi dùi vào những bất công, bất cập của chế độ. Bài thơ Nhân Câu Chuyện  Mấy Người Tự Tử được nhiều người biết đến và một thời đã gây xao động văn đàn miền bắc.Tô Thùy Yên ở miền nam. Cũng vào những năm cuối thập niên 50 ông nằm trong nhóm Sáng Tạo, tìm một hướng đi mới cho thơ ca và văn học miền nam. Sau năm 1975, ông bị đi cải tạo 10 năm. Được thả, ông sáng tác bài Ta Về được rất nhiều người tìm đọc và khen ngợi.
(more…)

Phan Ðắc Lữ


Nhà thơ Thu Bồn (1935-2003)

“Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh đi mãi chẳng về đâu”

Hai câu thơ trên trong bài thơ “Tạm biệt huế” được Thu Bồn sáng tác năm 1980, in trong tập “100 bài thơ tình nhớ em đặt tên” nghe có vẻ mâu thuẫn với cuộc đời và thơ anh – Cuộc đời và thơ của một người lính từng xông pha trong khói lửa chiến tranh. Nhưng nếu ai đã từng gần gũi, tâm sự với Thu Bồn và được đọc những bài thơ anh viết những năm sau cùng sẽ cảm nhận được hai câu thơ trên là một dự cảm linh nghiệm đầy hoài nghi và trăn trở của đời anh những năm cuối cùng.
(more…)

Lê Văn Phúc


Tượng đồng Nguyễn Công Trứ

Thoạt nghe tựa đề này, bạn đọc đã biết ngay là nói đến ai rồi!

Thời học trò, khi lên tới ban trung học, ai cũng  được học về một số tác giả và tác phẩm nổi tiếng, trong đó có danh nho Nguyễn Công Trứ!

Các nam sinh, học đến tác giả này đều coi đây là thần tượng của đời mình, mơ uớc sau này sẽ nối gót người xưa.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, hiếm  ai có văn nghiệp, võ công hiển hách đến như thế!

Đây cũng là một tấm gương cao cả, rực rỡ về một người thân lập thân, tài kiêm văn võ, chí hùng bất khuất, lời nói đi đôi với việc làm, và có một tâm hồn rất ư là nghệ sĩ, đầy tình người, tình yêu và tình tự tin để sống một cuộc đời dẫu có khi thăng lúc trầm, khi bần hàn lúc hiển hách mà lúc nào cũng giữ được tinh thần lạc quan, phô diễn ý chí nam nhi và quyết tâm phục vụ đất nước.
(more…)

Thụy Khuê


Hồ Chí Minh (1890-1969)

Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, 12 cuốn (nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000), 8410 trang, gồm:

– 80% diễn văn, công văn chính thức, do các bí thư viết, văn phong thay đổi tùy theo sách lược chính trị mỗi thời và bút pháp từng người.

– 5% chú thích.

– 15% còn lại là văn bản (gần 1000 trang), có thể chia làm hai phần: Phần dịch từ tiếng Pháp những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và phần tiếng Việt gồm những bài ký bút hiệu khác.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Phát biểu của tác giả trong buổi ra mắt tác phẩm MỘT THỜI ÁO TRẬN của nhà văn quân đội Đỗ Văn Phúc tại trụ sở Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Dallas ngày 9 tháng 1 năm 2011.

Tôi là người thích đọc hồi ký người khác để cùng với họ đi tìm lại những thời gian đã mất. Qua những hồi ký đó, như của các tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Hiến Lê, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Nguyễn Đình Hòa, vân vân, tôi đã biết thêm được nhiều điều lý thú  và bổ ích trong các lãnh vực xã hội, văn học và giáo dục của người dân Việt chúng ta.  MỘT THỜI ÁO TRẬN của tác giả  Đỗ Văn Phúc là cuốn hồi ký về chiến trường đầu tiên tôi vừa đọc xong.
(more…)

Nguyễn Ngọc Bảo
(Báo Ngày Nay số Xuân Bính Tuất 2006)


Nhà thơ Bút Tre (1911-1987)

• Thơ Bút Tre thật và thơ Bút Tre dân gian có những gì khác biệt?
• Thơ Bút Tre ảnh hưởng thế nào đối với đời sống người dân?

“Thơ Bút Tre thật thì không ai thuộc làm gì, đọc rồi cũng không nhớ được, còn ‘Bút Tre dân gian’ thì mỗi lần nghe người ta đọc, tôi lại thấy cái sức sống mới mẻ, say sưa như thể chính người ấy đang sáng tác”.

Ông Hà Sĩ Phu đã đề cập đến thơ Bút Tre bằng những lời nêu trên trong loạt bài “Chia Tay Ý Thức Hệ”, được phổ biến từ trong nước khoảng một thập niên trước đây. Có lẽ những người từng nghiên cứu thơ Bút Tre đều có chung nhận đinh với ông. Tuy nhiên, với đa số quần chúng, dù rằng đã nhiều lần nghe đến những câu gọi là thơ Bút Tre với thái độ thích thú và tán thưởng, nhưng ít hai hiểu rõ gốc gác ông Bút Tre. Cũng chẳng mấy người biết tại sao có sự phân biệt giữa thơ Bút Tre thật và thơ Bút Tre dân gian, cùng những tương đồng và dị biệt giữa hai loại thơ này.
(more…)

Uyên Thao

Trăn trở và ước mong

Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.” Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.
(more…)

Thụy Khuê


Hồ Chí Minh (1890-1969)

Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Khác hẳn với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Chủ đích đó không phục vụ sự thật, như Phan Bội Châu trong Ngục Trung Thư hay Tự Phán: những sai lầm của mình cũng viết, ý kiến nào do Nguyễn Thành hay Lương Khải Siêu nghĩ ra cũng nói rõ.
(more…)

Đàm Trung Pháp
Nhận Định của tác giả trong buổi ra mắt Tuyển tập Tại Dallas Ngày 6 Tháng 3 Năm 2011

Tuyển Tập CHUYỆN XA GẦN* của Nguyễn Ngọc Bảo do Hội Văn Hóa Khoa Học Việt Nam ấn hành tháng 10 năm 2010 là một tác phẩm rất hay, rất bổ ích, rất đáng đọc. Đây là một tuyển tập có nội dung đa dạng được trình bầy qua một văn phong sâu sắc, uyên thâm, minh bạch, duyên dáng, và đầy nhiệt tình. Mục lục của cuốn sách đọc lên như một thực đơn chữ nghĩa khó chống cự cho những tâm hồn yêu văn học. Nào là Sân trước một cành mai; Hoa đào năm ngoái. Nào là Xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua ca dao và vè trào phúng; Bút Tre: Dòng thơ phản kháng độc đáo. Nào là Truyện Kiều trong lòng người di tản; Bói Kiều. Nào là Quang Dũng: Thơ, người, và kỷ niệm; Năm nhà thơ nổi tiếng của Nhân Văn Giai Phẩm. Nào là Đau lòng tử biệt, vân vân. Quý vị có thể đọc các bài viết hấp dẫn này theo thứ tự nào cũng được mà không sợ bị hụt hẫng.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Phan Châu Trinh, lãnh đạo tinh thần phong trào Duy Tân. Phan Khôi, lãnh đạo tinh thần phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Đông Kinh Nghiã Thục (gắn bó với Duy Tân và Đông Du) chỉ tồn tại một năm. Nhân Văn Giai Phẩm tồn tại năm tháng. Nhưng cả phong trào hai đều có công lớn trong việc đổi mới văn học và đòi hỏi dân chủ cho đất nước. Lịch sử Phan Châu Trinh đã rõ ràng tường tận. Lịch sử Phan Khôi, hoặc bị nhục mạ như một người bán nước, hoặc không ai biết đến.

Việc tìm lại chân dung đích thực của Phan Khôi, đưa chúng ta trở lại tìm hiểu lịch sử chống Pháp đầu thế kỷ XX, môi trường phát xuất một con người. Để:

1) Xác định vị trí Phan Khôi trong văn học và trong lịch sử phức tạp của cuộc kháng chiến chống Pháp.

2) Hiểu thái độ Phan Khôi, đôi khi coi thường, đôi khi miệt thị Hồ Chí Minh, khác hẳn với toàn bộ thành viên của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

3) Hiểu sự thanh trừng và hạ nhục Phan Khôi sau Nhân Văn Giai Phẩm.
(more…)

Nhật Hồng Nguyễn-Thanh-Vân

Trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, người ta đọc được 5 lần hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, Kiều nhắc đến chữ “Trinh” và một lần Kim Trọng biện giải về chữ này.

Lần thứ nhất, giữa đêm khuya, sau khi Kiều gãy đàn nơi hiên Lãm Thúy, Kim Trọng đã muốn ép liễu nài hoa với nàng:

“Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi”

Nàng nghiêm trang cảnh tỉnh người yêu bằng những lời lẽ thanh tao, và trong vài câu mở đầu, đã nói đến chữ “Trinh”, như một thứ vũ khí, có hiệu quả làm dịu đi được cơn sóng tình đang bộc phát kia:

Nàng rằng: “Đừng lấy làm chơi,
Để cho thưa hết một lời đã nao!
Vẻ chi một đóa yêu đào,
Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh.
Đã cho vào bực bố kình,
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu.
Ra tuồng trên Bộc trong dâu,
Thì con người ấy ai cầu làm chi.
Phải điều ăn xổi ở thì,
Tiếc trăm năm cũng bỏ đi một ngày
.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Theo tác giả Trần Ngọc Ninh thì CƠ-CẤU VIỆT-NGỮ (Quyển I) đã ra đời hơn 40 năm tại quê nhà, mới đây được cập nhật hóa và tái xuất bản tại Mỹ với sự trợ lực của anh chị em trong Viện Việt Học (VVH), nhất là ông Vương Huê. Đây là cuốn đầu tiên (chủ đề: Sự thụ đắc ngôn ngữ) trong toàn bộ gồm bảy quyển. Quyển II (Từ N (danh từ) và các dạng vị phụ thuộc tiền-N: dạng vị q) cũng đã được VVH tái xuất bản năm 2009. Quyển III (Từ V (diễn thuật từ) và các dạng s, t, đ phụ thuộc tiền-V) đang được VVH chuẩn bị tái xuất bản. Được biết cơ quan văn hóa này cũng có dự định xuất bản các quyển còn lại trong tương lai, gồm Quyển IV (Từ A (cận từ): AA, AV, và AA), Quyển V (Từ PRO-X (đại từ): PRO-N, PRO-V, và PRO-A), Quyển VI (Đoạn dạng u, v, x, y, z), và Quyển VII (Cú pháp học).
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng


Soleil levant [1872; huile sur toile; 48 × 63 cm.]
Claude Monet (1840-1926)

Ngày 15-4-1874 tại cơ sở của nhiếp ảnh gia Nadar số 35 đại lộ Capucines – Paris đã khánh thành cuộc triển lãm tranh của một nhóm họa sĩ ly khai khoảng 30 người trong đó có Monet, Renoir, Degas, Berthe, Morisot, Pissarot… Gọi là ly khai (dissidents) nghe cho xôm tụ, chứ thời bấy giờ họ bị liệt vào nhóm họa sĩ bị khước từ (les refusés) vì tranh của họ không được nhận trưng bày tại Phòng Triển lãm chính thức. Phòng Triển lãm chính thức, được biết dưới tên gọi Le Salon officiel và đặt trụ sở  tại Viện bảo tàng Louvre, là nơi hàng năm  tổ chức trưng bày các tác phẩm nghệ thuật hội họa hoặc điêu khắc được đánh giá là có mỹ thuật. Đây chính là cơ hội để tác giả được quần chúng biết đến và đem lại cho họ danh vọng tiền tài. Nhưng muốn vậy họ phải có tác phẩm lọt được vào mắt xanh của  một Ban Giám Khảo mà thành viên  hầu hết đều là hội viên của Học Viện Mỹ Nghệ (Académie des Beaux-Arts). Tiêu chuẩn đánh giá và chọn lựa, cho tới giữa thế kỷ 19, vẫn là dựa trên mỹ học kinh viện (académique) và truyền thống Phục Hưng La Mã (La Renaissance romaine). Bởi lẽ cách sử dụng màu sắc và đường nét cách tân của nhóm không hợp nhãn Ban tuyển trạch nên tranh họ đã bi loại bỏ. Đó cũng là lý do khiến bọn họ đứng ra tổ chức riêng cuộc triển lãm  từ 15-4 đến 15-5-1874 đúng hai tuần trước ngày khai mạc Phòng Triển lãm chính thức. Với kỳ vọng sẽ cạnh tranh được với Phòng triển lãm kỳ cựu, một thành viên đã không ngần ngại phát biểu một câu xanh rờn : « Cuộc triển lãm lưu vong này là một thắng lợi lớn và tranh của bọn ta sẽ là một cạnh tranh chí tử với đám khứa lão đui chột ngốc nghếch ấy… ». Nhưng cuộc trưng bày của họ lại hầu như là một thất bại. Suốt một tháng trời mở cửa chỉ có khoảng 3500 khách vãng lai, chưa bằng một phần mười tổng số người kéo đến coi Phòng Triển lãm chính thức. Về phần giới phê bình chính thức cũng chỉ bình phẩm qua loa hoặc nhắc chiếu lệ về phòng tranh mà thôi. May thay, một vài nhà phê bình thuộc loại nghiệp dư, không mấy tiếng tăm lại « đánh hơi » được tính khai phá cách tân của đường lối hội họa mới này, như nhận xét của nhà phê bình nào đó trên tờ  RAPPEL : « Bạn hỡi, khi tới đây bạn hãy vứt bỏ mọi thành kiến cổ lỗ sĩ đi. Hẳn một thời đã có những họa sĩ khờ khạo cứ tưởng rằng khi muốn cho ta ý niệm về một cái cây là phải vẽ đúng một cái  cây đủ cả thân lẫn cành và lá.  Tội nghiệp thay, họ đâu biết răng hội họa phải đem lại cho ta trước hết « ấn tượng » về các sự vật, chứ không phải cái chúng là hiện thực. » (… Vous qui entrez, laissez tout préjugé ancien. Il fut un temps sans doute où des peintres naïfs, lorsqu’ils voulaient donner l’idée d’un arbre, peignaient un arbre en effet avec un tronc, ses branches et ses feuilles. Ils ignoraient que la peinture doit donner avant tout « l’impression » des choses, non leur réalité même .» Theo J.J LÉVÊQUES – Les Années Impressionnistes _ 1870 – 1889, ACR Éditions Internationales 1990, tr. 284)
(more…)

Phạm Đức Nhì

Trong Thơ Đến Từ Đâu của Nguyễn Đức Tùng, do tên ở vần B, Nguyễn Thị Hoàng Bắc được xuất hiện ngay ở phần đầu cuốn sách. Khi được hỏi “cái gì là quan trọng nhất trong thơ?” câu trả lời của chị dứt khoát và gây ấn tượng:

Sự tự khai….. Lúc nào tôi nói thật, nói thẳng được, nổi điên lên mà nói, nói mặc kệ thiên hạ sự, nói cóc sợ ai, không ‘quan trên ngó xuống người ta trông vào’ thì tôi viết được mấy lời kha khá.” Bài Ngọn Cỏ được chị viết ra trong tinh thần đó. Một số người bảo thủ thì mỉa mai là chị đã “đái ra thơ”. Nhưng cũng có nhiều người khen trong đó có Đinh Linh (đã dịch bài thơ sang tiếng Anh) và nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc. Tôi cũng thích Ngọn Cỏ và hôm nay có hứng đưa ra mấy lời bình phẩm.
(more…)

Đàm Trung Pháp


Kiều – Tranh Mai Thu

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Tôi thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã nổi hứng rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Goethe sinh năm 1749 tại Đức Quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp Quốc, và Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh Quốc. Goethe, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên DIE LEIDEN DES JUNGEN WERTHERS (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu Châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết ATALA, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh Quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ LYRICAL BALLADS, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong văn học quốc gia ấy. Wordsworth say mê thiên nhiên và có biệt tài dùng ngôn ngữ bình dị dễ hiểu để diễn tả những cảm xúc tràn bờ trước vẻ đẹp của rừng, của núi, của giai nhân. Tôi nhớ mãi những câu thơ sau đây của Wordsworth để tả một kiều nữ bí mật sống giữa thiên nhiên mang tên Lucy mà thi nhân ví như một bông hoa đổng thảo:

A violet by a mossy stone
Half-hidden from the eye
Fair as a star, when only one
Is shining in the sky
(more…)

Thụy Khuê


Phùng Cung (1928-1998)

I. Tại sao Phùng Cung bị bắt, bị tù biệt giam 11 năm không có án?

Tư tưởng của Phùng Cung độc đáo và ngược hướng với những người cùng thời, kể cả các thành viên NVGP và thế hệ ngày nay, trên nhiều địa hạt: Bảo tồn văn hoá, lòng ái quốc, cách mạng mùa thu, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam-Bắc, tình nước và tình người. Chưa một nhà thơ, nhà văn nào dám đi xa như thế, viết những lời đả phá mãnh liệt như thế về quốc ca, quốc thiều, về cách mạng mùa thu, về chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản, về những tín điều đã mê hoặc người Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Và đó là lý do chính khiến Phùng Cung bị 12 năm tù, không có án. Tìm hiểu Phùng Cung là tìm hiểu nguồn tư tưởng yêu nước đối lập với quan niệm chính thống và đi ngược lại niềm tự hào dân tộc cố hữu, nhưng sẽ là kim chỉ nam cho một con đường dân tộc mới: con đường chuyển giáo dục chiến tranhgiáo dục hận thù thành giáo dục hoà bìnhgiáo dục văn hoá.
(more…)

Trangđài Glassey-Trầnguyễn


Portrairt of a Chinese Woman by Yan Zhou Xu

Bài này do Nhật báo Người Việt mời tác giả đóng góp cho mục Diễn Đàn để bắt đầu cho cuộc thảo luận trên mạng dành cho độc giả. Cuộc thảo luận xoay quanh đề tài nuôi dạy con cái, trong tương quan với bài viết “Why Chinese Mothers are Superior” của tác giả Amy Chua, đăng trên báo New York Times ngày 8 tháng Giêng, 2011.

Một số lệch điểm

Trước khi trình bày một số suy nghĩ liên quan đến đề tài này, tôi muốn đưa ra một số nhận xét sau đây:

1. Danh bất chánh: Tự nhận mình là người Hoa, nhưng Gs Amy Chua thật ra là người Mỹ gốc Hoa. Thêm vào đó, tôi cho rằng vì bà kết hôn với một người khác sắc tộc, bà cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ văn hóa của chồng. Nếu không, bà chắc là ‘vợ Cọp,’ nhất cử nhất động đều bắt chồng phải theo ý mình, và hôn nhân của bà sẽ chịu nạn đồng hóa thay vì là một kết hợp tương kính.
(more…)

Trần Văn Nam

Ba truyện ngắn trích trong tập truyện Cát Vàng của Lữ Quỳnh (do Văn Mới xuất bản): Cuộc Chơi – Chỉ Còn Kẻ Ở Lại – Bóng Tối Dưới Hầm.

Cuộc chơi nói về cái chết rủi may của những người lính trong thời chiến. Hai người bày cuộc rút thăm để thi hành một nhiệm vụ, chắc là thám kích hay đi gỡ mìn gì đó. Người trúng thăm phải lên đường ngay trong đêm thì đã không chết, mà người đàn ông may mắn bắt thăm ở lại thì chết một tháng sau vì đạp phải mìn. Truyện ngắn này có thể phân thành ba hồi: cuộc đối thoại để bắt thăm giữa hai người lính một già một trẻ; cuộc đối thoại giữa người ở lại với thiếu nữ (người lính trung niên này có tình yêu đơn phương hướng về thiếu nữ); thứ ba là cuộc đối thoại giữa người lính trẻ với chủ quán (và người thanh niên này thì thờ ơ với thiếu nữ). Một truyện khá ngắn mà gồm ba hồi như vậy, cũng đã là dấu vết cho ta nhận ra tác giả rất chú trọng về kết cấu. Đây là ví dụ khởi đầu làm cho ta thấy kết cấu chặt chẽ khi viết truyện ngắn của Lữ Quỳnh.
(more…)

Bùi Minh Quốc


The Poet – Tranh Egon Schiele

Không biết đã có nhà nghiên cứu nào mò mẫm vào cái phạm trù đặc biệt này : tính thiêng của thơ ?

Phần tôi, bằng sự trải nghiệm của hơn năm mươi năm cầm bút, với tất cả sự dè dặt, chỉ xin giãi bày đôi chút cảm và nghĩ.

Cảm và nghĩ này bắt đầu vụt loé trong tôi vào năm 1992, khi đọc “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách. Trước kia chỉ nghe truyền miệng, các “Chân dung” cứ trượt đi trong cái bầu khí bỗ bã cười đùa tếu táo, có bài nghe xong tôi còn thầm trách ông Sách ác khẩu. Giờ thì đọc đến đâu giật mình đến đấy. Và ngộ ra : thơ thiêng lắm ! Năm ấy tôi ghi lại, bằng thơ, cảm nghĩ của mình :

Thơ thiêng lắm người ơi
Phản thơ thì phải chết
Chẳng ai giết mình mà mình tự giết
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng


Quan họ – Tranh Bùi Xuân Phái

Lời giới thiệu:

«Ngôn ngữ là công cụ của nhà văn, nhà thơ cũng như búa, đục, cây đinh chạm trổ với nhà điêu khắc. Nhà điêu khắc, dẫu thiên tài, nếu thiếu công cụ tinh vi, cũng không thể hiện được tài năng sáng tạo của mình. Ngược lại, một nghệ sĩ nghiệp dư, cho dù có sắm được bộ đồ tinh xảo nhất, cũng chỉ làm ra những tác phẩm tầm tầm mà thôi. » Liệu tiếng Việt có thể là công cụ đắc dụng cho nỗ lực sáng tạo văn học hay không ? Đó là vấn đề cấp thiết mà chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần đặt ra và mong được sự tham gia góp ý đông đảo. Tên người viết dường như còn xa lạ ; nhưng xa lạ chưa hẳn đồng nghĩa với non kém vì tác giả, trước 1975, đã từng cộng tác với Đài Tiêng Nói Tự Do tại Sài Gòn và, mới đây, với Ban Việt Ngữ Đài RFI ở Pháp. Bên cạnh những lập luận vững vàng có giải thích, có phân tích, có chứng minh và chỉ thuần dựa trên văn bản, bạn đọc cũng nên để ý tới cách dùng câu chữ của tác giả. Hình thức văn phong ở đây cũng có thể là một dạng biểu hiện cho « thiên tài ngôn ngữ » Việt : hàm súc, hóm hỉnh, ý vị trong cách diễn tả, nhưng cũng có thể rất trí tuệ khi cần diễn ý.

Đỗ Bình

(more…)


Thi sĩ Phan Đắc Lữ

Phan Đắc Lữ – Đời và Thơ

Hà Sĩ Phu (Trích bài tựa tập thơ Bốn mùa tôi)

Ai đã từng chia sẻ với Trịnh Công sơn những nốt nhạc Sầu nhân thế, chắc cũng có thể chia sẻ đối chút với “nhà thơ thế sự” Phan Đắc Lữ một tiếng thơ đau đời. Phan Đắc Lữ đau gì vậy?

Ông mất quê:

Còn quê từ tuổi lên mười
Mất quê từ buổi làm người giữ quê
(more…)

Thụy Khuê


Văn Cao (1923-1995)

Cuộc đời Văn Cao gắn bó với toàn bộ sinh hoạt văn nghệ Việt Nam trước kháng chiến, trong kháng chiến và sau kháng chiến. Văn Cao ở trong cả ba bộ môn: thơ, nhạc, họa, cho nên được giới nghệ thuật ba ngành kính phục. Là tác giả quốc ca, nhưng Văn Cao suốt đời bị chính quyền nghi ngờ, tác phẩm bị trù dập, phân biệt đối xử.

Tìm hiểu cuộc đời của Văn Cao cũng là tìm hiểu giai đoạn lịch sử 45-46, mà các văn nghệ sĩ xuất thân từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, nhiều thành phần chính trị và phi chính trị khác nhau đã theo Việt Minh để tranh đấu cho một lý tưởng: chống Pháp. Những Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước,… đã có một thời hoạt động chung vai sát cánh, nhưng rồi chính trị sẽ phân lìa mỗi người một con đường, một chiến tuyến.
(more…)

Thụy Khuê


Hoàng Cầm (1922-2010)

Muốn tìm hiểu một giai đoạn nào của Lịch Sử lớn, không thể không tìm hiểu lịch sử nhỏ của những người đã đóng góp tích cực vào sự tiến hoá hay thoái hoá của giai đoạn này. Trong thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, tiểu sử những người có công tiêu diệt phong trào NVGP được phóng đại tô màu, vinh thăng ca ngợi. Còn lịch sử những người có công đầu trong kháng chiến chống Pháp, nhưng sau này trở thành những thành viên NVGP, đã bị xoá, tẩy, bội nhọ, tác phẩm bị loại trừ. Hoàng Cầm là một khuôn mặt điển hình.
(more…)

Thụy Khuê


Trần Dần (1926-1997)

Trong 40 năm sau Nhân Văn, Trần Dần đã chỉ thấy những hòm bản thảo của mình: 2/3 bị tiêu tán, mục nát, 1/3 còn lại bị kết án chung thân trong trạng thái nằm. Vậy mà vẫn viết. Viết đều. Bởi ông cho rằng viết hay ghi là phương pháp duy nhất nói chuyện với mình khi không thể nói được với ai. Từ 1958, “ghi trở nên một hình phạt”, người thanh niên 32 tuổi ấy đã bị “đòn ngấm quá cuống tim rồi”. Tác phẩm chịu chung số phận với người: gần 30 tập thơ, 3 cuốn tiểu thuyết, và không biết bao nhiêu bản thảo đã bị mối mọt.
(more…)

Mặc Lâm

Dạ Tiệc Quỷ dày khoảng 450 trang in, gồm 22 chương viết về một thời kỳ rất nhiều biến động và đau thương trong lịch sử Việt Nam, từ những năm 1954 cho đến nay.

Câu chuyện bắt đầu từ cảnh xác một người đàn bà đẹp thắt cổ treo dưới mái chuồng lợn. Ngay trước mõm con lợn nái, là một bé gái đang khóc trong chiếc nôi quý phái bằng lụa.

Đứa bé gái ấy là nhân vật chính tên Miên, mới tròn một tháng tuổi. Mẹ của Miên là tiểu thư Phượng là con gái của ông Cử, thầy giáo và thầy thuốc nông thôn đã bị đấu tố oan, bị đập chết ngoài ruộng lúa.

Miên là kết quả của việc ông Dậm cưỡng đoạt Phượng. Ông Dậm là một bần cố nông cơ hội. Lợi dụng việc vu khống và hãm hại người khác để đổi đời, chiếm đoạt ngôi nhà tài sản và vợ con của ông Cử.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Tôi đọc “Sinh nhật của một người không còn trẻ” thơ Lữ Quỳnh. Cái cảm giác “không còn trẻ” có phải là chưa về già, hình như trong tâm cảm và thơ có điều gì , nửa như tiếc nuối , nửa như nhớ về. Ở đời thường , thi sĩ là một người dễ mến với nụ cười trên môi qua đôi mắt long lanh sau đôi kính cận . Thế mà , đọc thơ sao nghe như có một điều gì lặng lẽ tha thiết trong tâm. Thơ là ngôn ngữ của lặng thầm , và là những hồi ức mà suốt đời thi sĩ không bao giờ quên được.Thời gian mấy chục năm , đối với lịch sử đất nước chỉ là một chớp mắt. Nhưng với một đời người, thì lại là khoảng cách rất lâu. Thi sĩ đã đi và về, trong khoảng cách ấy bằng thơ. Nếu nói thơ là đời sống , không biết có phải là nhận định vội vàng không? Ở cảm quan của một người đọc, tôi thấy như vậy!
(more…)

Võ Công Liêm


Martin Heidegger (1889-1976)

Martin Heidegger (*) được  coi là nhà tư tưởng lớn và nổi tiếng giữa thế kỷ 19 và cuối 20. Những bài viết triết học của Heidegger đã làm sửng sốt cho một số triết gia hiện thời và gây chấn động trong lịch sử triết học thế giới, đồng thời ảnh hưởng lớn lao trong việc tranh luận về tư tưởng triết học của ông .

Ý niệm cơ bản về tư tưởng của ông là nguồn cơn đưa tới sự say mê nồng nhiệt cũng như đưa tới sự tuyệt vọng không ít. Điều đó ảnh hưởng đến dòng tư tưởng của Heidegger, vốn dĩ đã làm sai lệch một phần nào tư tưởng triết học. – kể cả những người đang theo đuổi học hỏi về triết học, hoặc cho những triết học tổng hợp đương đại khác – Điều cần thiết cho chúng ta làm quen với tư tưởng Heidegger.
(more…)

Thụy Khuê


Lê Đạt (1929-2008)

Trong ba người bạn thân cùng hoạt động NVGP, Trần Dần viết nhật ký, Hoàng Cầm thuật lại dĩ vãng trong các bài ký, hồi ký. Duy có Lê Đạt là không có tiểu sử rõ ràng. Tại sao? Một phần, dường như ông không coi tiểu sử nhà văn là vấn đề quan trọng, nhưng có lẽ còn một lý do nữa, vì tiểu sử của ông, nếu viết rõ ra, chỉ “có hại” cho gia đình. Ông không muốn các con biết về hoạt động của cha để đỡ bị liên lụy. Đào Phương Liên, con gái ông, hỏi: Bố là ai? Các con không biết cha đã từng làm thơ, vì trong nhà “không có một quyển truyện một quyển thơ nào”.
(more…)

Thiếu Khanh


Bên dòng suối – Tranh Đỗ Ngọc Dũng

Trong buổi chiêu đãi của Bộ Văn Hóa Thể thao và Du lịch vào tối ngày mồng 6/1/2010 tại Khách sạn Sheraton, Hà Nội, tình cờ tôi ngồi giữa một bên là nhà văn Chanty Deuansavanh, chủ tịch hội Nhà văn Lào, và nhà thơ Lào Thanonsack Vongsackda, và một bên là Chủ tịch Hội nhà văn Thái Lan Khamsing Srinawk và con gái ông, nhà văn nữ Tuensiri. Chị ngồi gần Tuensiri. Tôi nghĩ chị cũng thuộc trong đoàn các nhà văn Thái Lan. Nhưng chị đáp lại lời chào hỏi xã giao của tôi bằng… tiếng Việt:

– Em không phải người nước ngoài. Em là người Mường!

Tôi quen biết chị, nhà thơ nữ người Mường, thạc sĩ Bùi Tuyết Mai, trong một dịp như thế. Sau đó chị tặng tôi tập thơ Binh Boong, thi phẩm thứ năm của chị do nhà xuất bản Lao Động xuất bản năm 2008. (Các thi tập trước đó của chị, từ năm 1998, là “Mưa trong nhà”, “Trầu đỏ môi ai”, “Nơi cất rượu”, và “Mường trong”). Tập thơ với mẫu bìa rất trang nhã của nhà thơ kiêm nhạc sĩ Nguyễn Trong Tạo có hình cách điệu một thiếu nữ Mường đánh cồng. Binh Boong, theo lời giải thích của tác giả, là tiếng ngân của chiếc cồng Mường.
(more…)

Võ Kỳ Điền


Nhà văn Trà Lũ

Tôi quen nhà văn Trà Lũ đâu chừng trên dưới hai mươi năm. Trong khoảng thời gian đó tôi đã nhận được từ nhà văn, tất cả là mười cuốn sách quí được gởi tặng. Lẽ ra tôi phải gọi nhà văn Trà Lũ bằng thầy, bỡi vì tôi xuất thân từ trường Sư Phạm mà nhà văn Trà Lũ đã từng là Giáo Sư dạy ở đó. Lần đầu tiên khi gặp nhau, tôi gọi nhà văn Trà Lũ là thầy với tất cả những gì kính trọng, quí mến. Nhưng mà nhà văn đã không cho tôi xưng hô như vậy và chỉ muốn tôi gọi bằng anh trong tình văn hữu -cung kính bất như tùng mạng, tôi bắt buộc phải nghe theo, từ đó về sau tôi thường gọi nhà văn Trà Lũ bằng anh, tiếng anh thân kính, tuy bên ngoài là anh mà bên trong vẫn là thầy.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Hữu Đang (1913-2007)

Nguyễn Hữu Đang là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 59 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất.

Nhiều sự kiện về cuộc đời Nguyễn Hữu Đang đã sáng tỏ hơn, sau khi ông qua đời, một số tư liệu về con người ông đã được phơi bày ra ánh sáng và do đó chúng ta có thể tạm dựng một tiểu sử đầy đủ hơn về người lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
(more…)

Thụy Khuê


Thụy An (1916-1989)

Thụy An là khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.

Thụy An là ai?

Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong “hàng ngũ phản động”, bà bị quy kết là “gián điệp quốc tế”, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang. Những lời thoá mạ nhơ bẩn nhất dành cho bà “Con phù thủy xảo quyệt” cùng những lời lẽ độc địa nhất: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân” (Bàng Sĩ Nguyên, BNVGPTTADL, trang 120).

Tại sao lại có sự căm thù ghê gớm đối với nhà thơ, nhà văn, nhà báo phụ nữ tiên phong của Việt Nam? Người đầu tiên thực hiện nữ quyền bằng ngòi bút và hành động. Người chủ trương giải phóng phụ nữ không bằng lý thuyết mà bằng việc làm. Người xác định vị trí phụ nữ như một công dân tự do, thấm nhuần tinh thần dân chủ.
(more…)