Nguyễn Ước

Chuyện xảy ra trong khoảng từ ba mươi và ba mươi lăm năm trước. Thời đó, chúng tôi quen nhau thật dễ, quyện vào nhau thật say. Như được lập trình từ một căn duyên định sẵn. Như được đưa đẩy qua một cơ hội bất chợt nào đó. Rồi như gió cuốn mây, ngày tiếp đêm, giọng chim hoà đàn nhiều bè quấn quít nhau theo một bản hợp ca rôm rả mà đều nhịp điệu. Trong cuộc chơi chữ nghĩa thênh thang, tình trai phơi phới và tuổi xuân hồn nhiên, chúng tôi tìm tới nhau sau từng con chữ xôn xao và tươi nguyên, vài ba câu thơ có chút gì ngẫu hứng của sáng tạo hoặc những dòng chữ gờn gợn đôi chút trăn trở về thân phận làm người sống sót trong thời chiến.
Đọc tiếp »

Trần Minh Nguyệt

Tân ngồi bên dòng Nhược Thủy đăm chiêu nhìn con nước mùa hạ trong xanh, dòng chảy hiền hòa, lờ lửng như một dãi lụa sóng sánh dưới ánh nắng chiều đã nhạt. Anh ngồi lặng lẽ như một cái bóng. Thỉnh thoảng đưa mắt liếc nhìn cảnh vật chung quanh như để tìm kiếm, hay chờ đợi một điều gì. Mấy năm gần đây, từ phía trên cao, người ta xây những đập nước chắn ngang dòng chảy, nước róc rách xuyên qua đập thành những tia nhỏ phun lên trời giống như những trận mưa phùn. Nước phản quang dưới ánh sáng mặt trời tạo thành bảy sắc cầu vòng lung linh kì ảo. Những ngôi nhà ven sông trước kia chỉ là những ngôi nhà tranh vách đất, trước và sau nhà là những bãi đất trống hoang tàn, hôm nay đã mọc lên những quán nhậu đặc sản, những nhà hàng bề thế. Cuộc sống của ngôi làng bên sông này đang đổi thay, khởi sắc mà sao Cầm của anh, tình yêu của anh lại trở nên ảm đạm, bi thương? Những kỉ niệm xưa cũ cứ lần lữa sống lại –  hiện về, làm tim anh như se thắt khôn nguôi. Anh nhớ Cầm – nhớ da diết cô bạn gái thơ ngây,  người yêu bé bỏng một thuở giờ đã xa vời, biền biệt, không biết đã trôi dạt về nơi đâu?  Rất nhiều lần Tân đã thắt thỏm tự hỏi  :  Tình yêu mà Cầm dành cho anh chỉ có vậy thôi sao?  Tại sao nàng lại bỏ đi xa? ”
Đọc tiếp »

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Tranh: Nguyễn Trọng Khôi
Nguồn: Tác giả gửi

Vũ Thanh Hoa

Vĩ tuyến

môi trăng chúm chím
mắt trời lim dim
lưỡi mây uốn sóng
bờ cong ẩn chìm
hổn hển gió trườn qua bờ xích đạo
phập phồng mưa lấp xấp mé đại ngàn
mở khóa bão
khai vị đêm
duỗi thoải về lục địa
mùa tròng trành
di trú
những chùm sao
giấc đông ngự trên ngực gió
chông chênh vĩ tuyến ảo mơ
đối thoại khát
hồi ân sinh thành
Chúa!
Thiên đường quên nhớ phong phanh…

13.1.2011
Đọc tiếp »

Quan Dương

Không biết điều gì đã kéo tôi đến gần thơ của nhà thơ nữ gốc Hà Nội này. Giữa tôi và nhà thơ Vũ Thanh Hoa khác nhau về tất cả mọi phương diện. Tuổi đời tôi lớn hơn tuổi đời của cô cả gần một thế hệ. Tôi sanh ở miền Nam từng tham dự vào cuộc chiến, Vũ Thanh Hoa sanh ở miền Bắc khi cầu Hiền Lương Bến Hải hãy còn là lằn ranh phân định hai miền. Tôi từng trải qua nhiều điều Vũ Thanh Hoa chưa từng trải. Hiện tôi sống ở Mỹ còn Vũ Thanh Hoa đang sống tại Việt Nam.
Đọc tiếp »

Đặng Tấn Tới
Tặng Duy Khương

Tình thơ

Đâu đó khu vườn thơ bỡ ngỡ
Lối về nắng lụa, gió hương vây
Lược trăng rẽ lệch đường ngôi tóc
Nhật nguyệt nồng reo, máu cuộn ngày
Đọc tiếp »

Ngô Nguyên Nghiễm


Hồ Chí Bửu

Để có được cái nhìn sâu thẳm và bước đi trên thơ của Hồ Chí Bửu, quả thật tôi chọn gần 7 tựa đề để mô tả sát sao nhất biểu tượng cuộc hành hương kỳ diệu, mà nhà thơ đang lướt thướt biến ảo trong cơn mộng thi ca. Quả tình, chỉ có chữ ngao du trần thế của một kẻ lãng tử mà Võ Tấn Cường gói gọn như một dấu ấn, là tôi coi như ngôn từ đắt địa, để mô tả mọi tư hướng lãng bạt bùng cháy một cách quỷ quái trong quan điểm thơ Hồ Chí Bửu. Cách thức lập trình một quan điểm nghệ thuật của nghệ sĩ, phải chăng được bao quát bằng một khối óc đầy tinh huyết, hầu sáng tạo được khung trời riêng biệt cho chính nơi cư trú thiên hình vạn trạng của tha nhân. Người ta thường đứng núi nầy nhìn cảnh quan lập thể của cao sơn khác, nên sự thiên kiến giữa nhận định đối tượng quả tình mang nặng tư chất cục bộ. Nếu một vườn hoa chỉ đầy rẫy một sắc hoa như một sự trùng điệp của sự vô tính thì nghệ thuật là cái vất vưởng cô hồn, không tinh khí, nghèo nàn bằng những phục trang tiền sử thô kệch, lạnh lùng. Như thế, thì còn phân biệt làm gì giữa cõi vĩnh cửu và cái nhất thời, cũng như lập dựng một thế giới chỉ bằng những hình ảnh robot, cứ lập lòe tư tưởng bằng những phản xạ của con chip vô hồn, đã có phân biệt gì nhau. Hoa thì phải có hương và ngan ngát muôn loài tung nhụy vàng rực rỡ khắp cùng không gian sinh hóa. Đâu nhất thiết một cọng cỏ rêu xanh nhòe mình làm lung lay được một ánh trăng vàng, cũng như đâu nhất thiết vầng trăng phải soi mình cho cỏ dại phiêu linh. Tất cả đã có sẵn chan hòa trong vũ trụ mênh mông, tự nhiên mà hằng hiện hữu, vì nghệ thuật hóa sinh bằng tư hướng cơ địa nguyên khai của kẻ ngao du. Trăng có bày tỏ gì đâu, cỏ có thì thầm gì đâu, mà người nghệ sĩ cứ phải oằn mình lưu đày cho trọn kiếp sơ nguyên. Mỗi cá thể đều chiêu nghiệm cho chính bản thân mình, không thể vay mượn hình hài hay hơi thở của chung quanh làm lẽ sống. Cái bất chợt không tương ngộ trong sự sáng tạo của mọi tha nhân, đều là cái hữu tình thuần túy, tự nhiên mà có được trong cơn mộng nghệ thuật. Chính vậy, vườn hoa mới chao nở vun đầy bằng vạn sắc hoa. Tinh hoa của mỗi loài mỗi khác, cách biệt nhau như một cá tính siêu việt riêng lẻ, lập dựng cho mỗi loài một thế giới riêng tư, kỳ bí như chính bản ngã hóa thân. Thơ của một thi nhân, cũng chính là sự hóa thân diệu hoặc như vậy, nên cái riêng của từng thần hồn đã lập dựng được cả một thế giới sinh diệt quanh ta…
Đọc tiếp »

Đàm Trung Pháp

Mỗi bài thơ “haiku” (phát âm lối Hán Việt là “bài cú”) của người Nhật Bản là một tiểu vũ trụ thu gọn trong vẻn vẹn 17 âm tiết. Trong cái hạn hẹp tối đa ấy, nhà thơ diễn tả cảm nghĩ của mình trước thiên nhiên và còn cho người đọc thoáng thấy một hình ảnh vĩnh cửu phát hiện qua một cảnh trí thông thường chóng phai mờ. Về điểm này thì hình như mỗi nhà thơ lớn, ở phương trời nào cũng vậy, đều có đôi chút “tâm hồn haiku” – như khi William Blake đã thấy cả vũ trụ trong một hạt cát, cả thiên đường trong một đóa hoa dại (“to see a world in a grain of sand, a heaven in a wild flower”) hoặc như khi Đinh Hùng mới chỉ nhìn vào đôi mắt lưu ly của Kỳ Nữ mà đã “thấy cả bóng một vầng đông thuở trước, cả con đường sao mọc lúc ta đi”!
Đọc tiếp »

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

trên bàn sinh
mẹ như chịu đóng đinh
hai tay giang ra
người duỗi thẳng, bán thân bất động
nửa phần trên tỉnh
nửa phần dưới mê
dao mổ xuyên thấu
muôn bề

trong cuộc lâm bồn
mẹ hiệp thông cùng mầu nhiệm khổ giá
mẹ vượt qua cái chết
để khải hoàn trong con
Đọc tiếp »

Mang Viên Long

Trong sáu tháng gặp Vincent, Nice đã được anh mời đến hầu hết các quán café ở thị trấn Berdelight. Lần đầu tiên Vincent hẹn gặp Nice ở quán Blackcat nằm trên đường phố chính Pasteur. Tuy Blackcat tọa lạc ngay trung tâm nhưng lại nằm sâu hút phía sau với các dãy nhà  tiền  chế mỹ thuật nên rất yên tĩnh với nhiều cây cảnh bày biện mát mắt. Lần đó, Nice ngồi với Vincent suốt buổi sáng trong khu biệt thự tĩnh lặng và ấm cúng. Cả hai đều dùng café đen và sau đó là trà Blanch để chuyện trò về hội hoa và nghe nhạc Chopin.
Đọc tiếp »

Nguyễn Xuân Thiệp

anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín rụng

trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày hồng trăng
Đọc tiếp »

Kim-Chi

Năm nay hình như Cali mưa nhiều hơn mọi năm, tôi nói với đứa bạn thì nó lại cằn nhằn, cho là tôi lẩm cẩm, mùa mưa thì phải mưa… nhiều với ít gì! Tôi cười cho qua chuyện. Không biết tôi lẩm cẩm hay là bạn tôi bắt đầu… già nên khó tính! Tuy nhiên chúng tôi vẫn thích la cà với nhau, ăn uống, tán dóc và nhất là nhắc chuyện… xưa.

Nhớ những đêm chúng tôi thức thật khuya, nằm lê la mà nói chuyện không biết mệt, thôi thì kể đủ chuyện. Gay cấn nhất vẫn là chuyện “những cây si biết đi…” của chúng tôi. Tôi thích nghe chúng nó kể hơn là kể chuyện của mình, đêm càng khuya, giọng chúng nó trầm bỗng và tôi thì nửa tỉnh nửa mê, câu chuyện lại càng ly kỳ gay cấn. Thấy tôi trầm ngâm mơ màng, đôi khi cũng là đề tài để xuyên tạc:

– À, còn “em” này nằm mơ màng nhớ bồ… chưa chịu kể chuyện “tâm sự đời tôi”!

Tôi ranh mãnh trả lời:

– Em không có chuyện gì để kể hết… ngày xưa dại dột đi chơi toàn với người đẹp, nên mình thành ngôi sao lu mờ…
Đọc tiếp »

Đỗ Quý Toàn


Nguyễn Đức Quang (1944-2011)

“Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận!” Đó là câu đầu một bài hát thời rất trẻ. Nguyễn Đức Quang kể đã đặt bài ca Đường Việt Nam trong lúc đang đi, trên con đường từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Đi một mình, vừa ngắm cảnh núi đồi, làng mạc, vừa hát lên từng câu, sửa, chọn từng tiếng, cho đến khi hoàn thành ca khúc, trên chiếc xe đạp cũ, chiếc xe đi học không phải loại xe leo núi. Vừa đi vừa hát, gọi đúng tên là du ca. “Đi dựng lấy thiên đường! Giống da vàng này là vua đấu tranh!” Bài hát kết thúc như vậy.
Đọc tiếp »

Nghịch lý

Posted: 10/04/2011 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ

Hoàng Xuân Sơn

chiều phất

mặt trời
bày chuyện nắng nôi
sáng trưng một buổi
da cời
mín hương
đóa môi
thầm kín? tỏ tường?
có gì như thể
vóc sương
mịn màng
thôi rồi
buổi chiều phất ngang
tuổi không bền chặt
với
ngàn mi cong

Đọc tiếp »

Võ Kỳ Điền


Cây ngô đồng

Riêng tặng bạn Lâm Quang Khải, Montréal

Bạn tôi rất thích cây cỏ, tối ngày chăm sóc khu vườn sau nhà. Chúng tôi định cư ở thành phố Montréal và anh là người Việt đầu tiên mở tiệm hiệu Bonsai ở thành phố nầy. Bonsai có thể mua ở các nhà sản xuất bên Mỹ và cũng có tự sản xuất, tôi cùng anh thường vào các trại bán hoa kiểng lớn, lục lọi các cây thông, cây tùng hư, cong vẹo, cằn cổi, có khi là những cây gần chết vụt bỏ thùng rác… mua rẻ đem về cắt bớt cành dư thừa, dùng dây đồng uốn éo thành hình dáng đẹp, nuôi dưỡng một thời gian cho thành bonsai, rồi đem bày bán. Cây làm bonsai thường là các loại cây xứ lạnh lá nhỏ và giỏi chịu đựng thời tiết khắc nghiệt…
Đọc tiếp »

Thiếu Khanh

Em mắt nghìn thu xanh cỏ biếc
Ta lên rừng thẳm ngủ chiêm bao
Vòng tay thân ái xa biền biệt
Ta gặp nhau mà vẫn nhớ nhau
Đọc tiếp »

Nguyễn Thị Thảo An

Rồi thể nào cũng có một lúc nào đó trong cuộc đời, con người ta không có lần tự hỏi –“Con người từ đâu tới?”, “Chúng ta sống để làm gì?” Có thể cho tới ngày nhân loại bị tận diệt có lẽ con người cũng không thể trả lời được.

Sống để làm gì? Ai mà biết! Nhưng con người ta vẫn cứ sống đã. Sống. Và yêu lấy cuộc sống.

Có lần tôi đọc ở đâu đó, “Cuộc sống của con người có hai nỗi khổ: một- là sống mà không có  một tham vọng nào, hai- là đã đạt được nó.”
Đọc tiếp »

Bài tống tiễn

Posted: 10/04/2011 in Thơ, Đynh Hoàng Sa

Đynh Hoàng Sa
gửi Luân Hoán

dù sẽ vượt đèo hay qua sông
trước sau cũng một chuyến đau lòng
mười năm há chửa sâu tròng mắt
chờ đến bao giờ lắng đục trong ?
Đọc tiếp »

Lê Đình Nhất Lang

Mi không thể làm mây
nếu cánh tay mi không khua rộng trên trời
vẫn cánh tay êm như để
gối đầu và nằm mộng
Đọc tiếp »

Thế hệ bốn lăm

Posted: 09/04/2011 in Tạ Ký, Thơ

Tạ Ký
Tặng Nguyễn Liệu

Chúng tôi :
Những kẻ sinh ra chưa biết nụ cười,
Đã thầm khóc trong bao năm khói lửa.
Mười tám tuổi, vải thô thay nhung lụa,
Giày vỏ xe hơi mòn gót liên khu,
Một dải miền Trung rừng rậm, sương mù,
Vui kháng chiến, tình non sông muối mặn.
Chúng tôi lớn trong tiếng rền lựu đạn,
Ba-lô da nặng trĩu cả vai gầy.
Những bà mẹ già run rẩy đôi tay,
Rót từng bát nước chè trưa nắng gắt :
– “lũ chúng nó mới công đồn giết giặc”.
Đọc tiếp »

Bia ôm

Posted: 09/04/2011 in Phùng Nguyễn, Truyện Ngắn

Phùng Nguyễn

Căn phòng nằm ở từng thứ ba. Những chiếc ghế nệm dài bọc vải nhựa màu đen đặt dọc ba phía vách tường bao lấy chiếc bàn dài la liệt ly thủy tinh, khăn lạnh, và gạt tàn thuốc. Phía vách tường còn lại, đối diện cửa ra vào là chiếc TV và giàn máy Karaoke hiện đại. Đám người cùng ngồi với hắn từ buổi trưa ở cái tiệm ăn đặc sản phía bên kia Kinh Tàu Hũ bây giờ đều có mặt trong phòng, bận rộn ca hát, hút thuốc, uống bia, hoặc sờ mó mấy cô gái non choẹt đang ôm họ chặt cứng như thể họ có thể sổng ra chạy bất cứ lúc nào! Hắn cảm thấy ngạt thở vì mùi son phấn, khói thuốc, tiếng hát âm điệu be bét, tiếng cười tán thưởng gượng gạo, tiếng máy lạnh gầm gừ… Hắn đứng dậy, len qua khoảng cách chật chội giữa chiếc bàn dài và dãy ghế bọc nệm đầy giò cẳng đàn ông đàn bà, miệng lắp bắp lời xin lỗi, tung cửa bước ra ngoàị. Không khí bên ngoài nóng và ẩm. Con đường phía dưới ướt mèm. Một cơn mưa rào mùa Hè vừa đi qua thành phố mà hắn chẳng hay biết gì hết. Hắn nhoài người ra ngoài lan can, cố níu lấy một cành me đẫm nước mưa. Lúc hắn buông tay ra, cành me văng ngược về vị trí cũ, những giọt nước li ti bắn vào mặt hắn mát lạnh. Có tiếng hỏi cất lên từ phía sau:

“Anh mắc tiểu hả? Trong phòng có toa-lét mà!”
“À không, anh chỉ muốn ra ngoài một chút…”
Đọc tiếp »

Đỗ Kh.


Nguyễn Tất Nhiên – Tranh Đinh Cường

Vào lúc nửa đêm ở ngoài sân chỉ còn một bóng vẩn vơ đi qua đi lại vòng quanh mấy cái cây èo uột trong sân Trung tâm III Tuyển mộ nhập ngũ. Anh thanh niên này mặt cúi trầm ngâm nhịp 6 và nhịp 8 bước chân. Chắc là anh đang làm thơ. Tôi đi ra bắt chuyện và quả ra là vậy. Trên tay anh cầm một cuốn vở học trò.
Đọc tiếp »

Nguyễn Bắc Sơn

Lòng vui sướng như một ngày nắng tốt
Cầm tay em chầm chậm qua sông
Tà áo em buồm trắng đã căng phồng
Những tình ý một đời chưa tỏ hết
Đọc tiếp »

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Thảo Trường (1938-2010)

Lời mở : Cuối năm 2005, nhà văn Thảo Trường đã cho xuất-bản tác-phẩm thứ 20 của ông, tập truyện Miểng (Quyên Book). Chúng tôi nhân đây giới thiệu tổng quan những điểm chính của sự nghiệp nhà văn qua các tác-phẩm chúng tôi đã có thể tham khảo ở hải-ngoại.

1.
Miền Nam Việt Nam tự-do (1954-1975) đã là vùng đất màu mỡ sung-mãn cho một nền văn-nghệ tự-do, khai-phóng và đa dạng nhất trong lịch-sử văn-học Việt Nam thời hiện-đại. Trong khi miền Bắc treo bút và cầm tù những văn-nghệ sĩ Nhân Văn giai-phẩm và tất cả những ai không bẻ cong ngòi bút tuân hành những chính-sách và nghị-quyết văn-hóa của Đảng, miền Nam đã chứng kiến một hồi-sinh văn-nghệ từ những người kháng chiến trở về và từ những người di cư từ miền Bắc và Trung; riêng những người sau họ đến miền Nam với hành trang văn-nghệ và trí-thức. Tất cả hòa nhập vào giòng văn-nghệ đã lớn mạnh từ những năm cuối thế kỷ XIX, nơi đó báo chí và xuất-bản phẩm đã có một quá trình lịch-sử và cũng nơi đó, một truyền-thống văn-nghệ trình diễn đã ăn sâu vào lòng người dân.
Đọc tiếp »

Phan Xuân Sinh

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.
Đọc tiếp »

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Tranh: Đinh Cường
Nguồn: Internet; Hồ Đình Nghiêm chọn tranh

Thụy Khuê

Bạn bè trong một bữa ăn thân mật tại nhà Lê Đình Điểu năm 1996.
Từ trái: Trần Thanh Hiệp, Thụy Khuê, Đỗ quý Toàn, ông bà Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến.
(hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)

Mỗi Tết là một chuyển biến, là một lần đi. Mỗi người thân văn nghệ của tôi ra đi một cách khác nhau. Họ cũng không chết một cách “thông thường” như những người khác. Dường như với “người thường” một lần đi là vĩnh viễn, một đi không trở lại. Người văn nghệ đi nhưng vẫn còn một cái gì đó -ngoài thể xác- ở lại. Mỗi lần đọc bài thơ cũ xem bức tranh xưa là lại có “đối thoại”, như thể người đi, kẻ ở chưa hề đoạn trở âm dương.

Cuộc tạ từ họa sĩ Lê Thị Lựu thật đơn giản, tôi đến chào bà ở bệnh viện Antibes, vùng bờ biếc Côte d’Azur để mai lên đường về Paris, mừng bà bệnh tim đã đỡ, ngày mai sẽ ra viện. Không nghi ngờ gì đến chuyến đi sắp tới trong vài giờ nữa của bà, không mảy may nghĩ đến ngày mai không lại, chúng tôi đã tiêu dùng những giờ khắc cuối một cách rộng rãi, gần như xa xỉ. Bà cười, nụ cười đẹp như ảnh chụp thời xưa: nụ cười giai nhân mười tám trên đôi môi tám mươi. Bà vẫn kể những tâm sự dí dỏm như muốn múc cạn quá khứ của mình. Miền Lê Thị Lựu đã qua là mảnh đất trồng rất nhiều nghệ sĩ, bấy giờ đã thưa thớt, đã tan hàng nhiều lắm.
Đọc tiếp »

Nguyễn Hữu Thụy

Lắm người hỏi tôi đang làm nghề gì?
Trước tiên tôi xin trả lời tôi không phải là thầy giáo
Chữ nghĩa vẽ vời thông thạo sử kinh
Cũng chẳng phải là bác sĩ, kỹ sư bằng cấp đầy mình
Bên ngoài nghe qua lắm người nể trọng
Cũng chẳng phải là cán bộ chức quyền nhà cao cửa rộng
Vinh hiển một đời vì nước vì dân
Cũng chẳng phải là một anh công nhân
Giai cấp đấu tranh tự hào vô sản
Cũng chẳng phải là bác nông dân cày sâu cuốc bẫm
Lam lũ một đời gieo giống ươm cây
Thế tôi làm quái gì đây giữa cuộc đời bao lần thay đổi
Đọc tiếp »

Isaac Babel
Hoàng Chính chuyển ngữ


Grief, 1941 – by Dmitri Baltermans

Đám tù đã chết, cả chín đứa. Tôi cảm nhận được điều đó từ trong xương tủy của mình.

Hôm qua, khi hạ sĩ Golov, công nhân của Sormovo*, giết gã Ba Lan mảnh khảnh, tôi bảo sĩ quan tham mưu là ông hạ sĩ này đã làm gương xấu cho lính của mình, chúng tôi phải lập danh sách tù nhân để gọi họ lên thẩm vấn. Viên sĩ quan tham mưu đồng ý. Tôi rút cây bút chì và mảnh giấy ra khỏi ba lô và gọi Golov. Ném cho tôi cái nhìn đầy căm tức, hắn bảo, “Anh nhìn thế giới qua cặp kính cận đó của anh.”

“Đúng,” tôi trả lời, “thế còn anh, anh nhìn thế giới qua cái gì hở Golov?”

“Tôi nhìn nó qua cuộc sống khổ như chó của giới công nhân chúng tôi,” hắn nói, tay cầm bộ đồng phục Ba Lan với ống tay áo đong đưa rồi quay đi, bước về phía một trong những tù nhân. Hắn đã mặc thử, nhưng chiếc áo không vừa cỡ hắn – ống tay chỉ đến gần khuỷu.
Đọc tiếp »

Trạch Gầm

Làm lại từ đầu

Viết cho thiếu tá Trần Văn Bé, người Anh cùng màu áo SĐ 5 bị vc xử bắn tại Suối Máu BH

Viên đạn thù nối hận thù chất ngất
Ghim vào ngực Anh giữa chốn pháp trường
Tôi chết lặng cùng niềm đau phẫn uất
Mất thêm một người… sau khi mất Quê Hương
Đọc tiếp »

Nguyễn Ước

Một bài thơ mới tìm được: Tiếng hát người nô lệ mới

Bài thơ dưới đây tôi viết từ 36 năm trước (1973), sau đó được đăng trong giai phẩm tốt nghiệp của khoảng 300 sinh viên – học trình bốn năm – của Ðại học Sư phạm Huế, khóa Huỳnh Thúc Kháng 1974, mà tôi hân hạnh được làm trưởng khóa.

Từ sau tháng Tư năm 1975, sống lưu lạc ngoài quê nhà, tôi đánh mất toàn bộ bản thảo. Năm nay các anh chị em đồng khóa cùng chung với khóa Lương Văn Can 1973 lần đầu tiên tổ chức ngày hội ngộ tại Huế. Tuy tôi ở xa không thể về dự nhưng lại may mắn có một bạn cùng lớp cất công sưu tầm được bài thơ ấy và gởi cho tôi hôm 17/10/2009.

Nay xin nhờ các trang web thân hữu đăng tải, như một cách giới thiệu phần nào không khí sinh hoạt của đại học Huế trước năm 1975, và một mảnh tâm tình của tuổi trẻ thời đó.
Đọc tiếp »

Ðàm Trung Phán

Tôi định chẳng muốn viết gì về Cây Bàng cả. Lý do là vì tôi không phải là một nhà khảo cứu về thực vật mà tôi cũng chẳng phải là một nhà khảo cứu về văn hóa dân gian Việt Nam. Thế nhưng, sau khi tôi đọc loạt bài viết về Cây Bàng (1, 2, 3, 4) của tác giả Lê Ðức Bảo và các thư từ của các đồng môn trường Trần Lục trên Web site của trường thì một cái gì từ cõi xa xăm trong Tâm Thức của tôi đã thôi thúc bắt tôi phải viết lên đôi giòng về “Cây bàng trong tâm thức” của tôi. Bài viết này hoàn toàn dựa theo những diễn biến của tuổi thơ dại khờ của người viết tại Bắc Việt đã bị chôn vùi theo giòng thời gian trong tiềm thức của một người Việt sống ly hương đã quá lâu năm.
Đọc tiếp »

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

phải lòng

Ngay từ trước khi gặp mặt, tôi đã biết mình sẽ phải lòng ‘người ấy.’ Khi gặp rồi, thì mới biết cái kinh nghiệm phải lòng kia nó vượt quá cái giới hạn chữ nghĩa và tầm hiểu biết của tôi đến nhường nào.

Vậy như thế nào là phải lòng một người?
Đọc tiếp »

Hà Nguyên Thạch

khi cúi xuống sầu nghiêng theo dáng bước
chợt thương mình năm tháng trót bơ vơ
chiều mùa đông phố hoang dài rét mướt
mình đi qua, mưa nức nở ai ngờ
Đọc tiếp »

Hồ Đình Nghiêm

1.
Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

– Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

– Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

– Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.
Đọc tiếp »

Chân Phương

1
chữ nhảy múa khắp thánh chương
tôi đọc bí tích vô danh
gió ngùn ngụt cháy
 

2
hòn cuội ném đi
 
trở về
với hai bóng lạ
 
Đọc tiếp »

Lưu Diệu Vân

Khi chúng mình làm yêu
em quên trái đất đang nóng lên và khoảng cách tận thế đang rút ngắn
mọi sám hối van xin đã trễ tràng
những cứu cánh can trường rồi cũng phải đầu hàng
tiêu tan theo từng đợt sóng lửa
hậu quả sự thái quá vô thức của chúng ta
Đọc tiếp »

Hồ Chí Bửu

1.
Khi tiễn em ra sân bay- Em cười hihi nói : Ai cũng mang khẩu trang. Vậy làm sao hôn môi ? Tôi cười : Anh đâu có mang khẩu trang. Sao em không hôn ?- Kỳ thấy mồ ! Tôi hỏi : Sao vậy ? – Lạc lỏng- Ừ, có thể- Về VN, thấy ai cũng làm hiệp sĩ..Tôi cười gừ gừ trong cổ họng.
Đọc tiếp »

Thiếu Khanh
Cho Thu Lâm Trương Lợi  (Canada)

Ta phá xiềng Bắc thuộc
Một ngàn năm nếm mật nằm gai
Một ngàn lần quật mình đứng dậy
Ngạo nghễ trước móng vuốt
cường bang bạo lực
Gọi thức giống người đoạn phát văn thân
Giết chết con thuồng luồng quấn cổ
Khơi rộng biển ngòi
Mở rộng giang sơn
Đọc tiếp »

Trần Hoài Thư

Những ngày cuối tháng 12, mưa tầm tã cả núi rừng, lẫn cùng những cơn gió miền núi hú loạn cuồng trên những thân cổ thụ trong rừng già. Sương mù che khuất cả tầm mắt, mãi đến trưa chúng tôi mới nhận ra chút cảnh tượng xung quanh. Những hàng dây leo thả xuống đất, hay quấn chằng chịt trên bãi hoang, mà theo mùa mưa, tranh, cỏ thi nhau mọc cao đến quá đầu người. Ban đêm, chúng tôi phải dựa vào gốc cây để ngủ hay ngả lưng một tí. Thường thường tôi không bao giờ chợp một giấc mà không bị thức dậy bởi những tiếng động khả nghi. Cuối cùng tôi cũng khám phá ra rằng, sinh vật vẫn còn hiện diện trong khu rừng này. Có thể là một con nai, hay một con gấu cũng nên. Tôi đã đọc cuốn Cho cây rừng còn xanh lá của một vị linh mục, tôi không hiểu nếu tác giả là tôi, hay ở vị trí tôi, thì ông sẽ nghĩ thế nào. Với tôi, tôi muốn rừng trụi trốc, tôi muốn một trận núi lửa tự dưng phun lên và từng suối phún thạch chảy lai láng khắp rừng, khắp khe, khắp hang, khắp suối. Có nghĩa là tôi sẽ không còn phải mang con tim đập thình thịch trong bóng tối đen đặc và lạnh buốt của rừng. Đám lính ngủ ngon lành xung quanh. Họ coi chiến tranh như một trò chơi cũng nên. Họ chẳng cần bận tâm gì đến hiện tại. Hay họ nghĩ là tôi, tay toán trưởng toán thám báo đã thay họ và có trách nhiệm bảo vệ họ. Thường những đêm mưa như thế, trong poncho, dựa lưng vào gốc cổ thụ, tôi vẫn thường bị hành hạ bởi lũ sinh vật còn sót lại của rừng. Chiến tranh dù tàn bạo bao nhiêu, B52 dù thả bao nhiêu triệu tấn bom đi nữa, trăm ngàn chuyến bay có đổ xuống thuốc khai quang hơn nữa, cuối cùng những con kiến từ đâu vẫn còn có mặt, vẫn tiếp tục hành hạ tôi cả đêm. Có khi vài con lọt vào trong quần lót, và tha hồ cắn, chích, châm, chọc. Có khi một con vắt nào đó bình yên hút máu để rồi sau đó tôi nghe da tôi hơi rát, vô tình gãi, và tóm ngay thủ phạm. Tôi đã nghiến răng, dùng tay bóp mạnh con vắt, như cố trả thù, như trút hết cơn phẫn nộ. Có khi một cái gì đó khó chịu sau mông để tôi biết rằng có một chú chuột nào đó đã bất kể loài người hung bạo để gặm chơi của lạ. Tôi không thể hiểu tại sao những sinh vật lại có mặt tại một nơi như thế này. Không biết chúng trốn ở đâu sau những trận bom này tiếp đến những trận bom khác. Hình như nơi nào còn lại khí trời là nơi ấy còn sự sống. Sinh vật vẫn tiếp tục được sinh sôi và nảy nở. Trên bãi bom hoang tàn, đá vẫn còn in những dấu vết đen mòn, hay trong những hố bom, cây cối vẫn mọc lên, tươi tốt.
Đọc tiếp »