Lưu trữ cho Tháng Tư, 2011

Lê Đình Nhất Lang

Mi không thể làm mây
nếu cánh tay mi không khua rộng trên trời
vẫn cánh tay êm như để
gối đầu và nằm mộng
(more…)

Thế hệ bốn lăm

Posted: 09/04/2011 in Tạ Ký, Thơ

Tạ Ký
Tặng Nguyễn Liệu

Chúng tôi :
Những kẻ sinh ra chưa biết nụ cười,
Đã thầm khóc trong bao năm khói lửa.
Mười tám tuổi, vải thô thay nhung lụa,
Giày vỏ xe hơi mòn gót liên khu,
Một dải miền Trung rừng rậm, sương mù,
Vui kháng chiến, tình non sông muối mặn.
Chúng tôi lớn trong tiếng rền lựu đạn,
Ba-lô da nặng trĩu cả vai gầy.
Những bà mẹ già run rẩy đôi tay,
Rót từng bát nước chè trưa nắng gắt :
– “lũ chúng nó mới công đồn giết giặc”.
(more…)

Bia ôm

Posted: 09/04/2011 in Phùng Nguyễn, Truyện Ngắn

Phùng Nguyễn

Căn phòng nằm ở từng thứ ba. Những chiếc ghế nệm dài bọc vải nhựa màu đen đặt dọc ba phía vách tường bao lấy chiếc bàn dài la liệt ly thủy tinh, khăn lạnh, và gạt tàn thuốc. Phía vách tường còn lại, đối diện cửa ra vào là chiếc TV và giàn máy Karaoke hiện đại. Đám người cùng ngồi với hắn từ buổi trưa ở cái tiệm ăn đặc sản phía bên kia Kinh Tàu Hũ bây giờ đều có mặt trong phòng, bận rộn ca hát, hút thuốc, uống bia, hoặc sờ mó mấy cô gái non choẹt đang ôm họ chặt cứng như thể họ có thể sổng ra chạy bất cứ lúc nào! Hắn cảm thấy ngạt thở vì mùi son phấn, khói thuốc, tiếng hát âm điệu be bét, tiếng cười tán thưởng gượng gạo, tiếng máy lạnh gầm gừ… Hắn đứng dậy, len qua khoảng cách chật chội giữa chiếc bàn dài và dãy ghế bọc nệm đầy giò cẳng đàn ông đàn bà, miệng lắp bắp lời xin lỗi, tung cửa bước ra ngoàị. Không khí bên ngoài nóng và ẩm. Con đường phía dưới ướt mèm. Một cơn mưa rào mùa Hè vừa đi qua thành phố mà hắn chẳng hay biết gì hết. Hắn nhoài người ra ngoài lan can, cố níu lấy một cành me đẫm nước mưa. Lúc hắn buông tay ra, cành me văng ngược về vị trí cũ, những giọt nước li ti bắn vào mặt hắn mát lạnh. Có tiếng hỏi cất lên từ phía sau:

“Anh mắc tiểu hả? Trong phòng có toa-lét mà!”
“À không, anh chỉ muốn ra ngoài một chút…”
(more…)

Đỗ Kh.


Nguyễn Tất Nhiên – Tranh Đinh Cường

Vào lúc nửa đêm ở ngoài sân chỉ còn một bóng vẩn vơ đi qua đi lại vòng quanh mấy cái cây èo uột trong sân Trung tâm III Tuyển mộ nhập ngũ. Anh thanh niên này mặt cúi trầm ngâm nhịp 6 và nhịp 8 bước chân. Chắc là anh đang làm thơ. Tôi đi ra bắt chuyện và quả ra là vậy. Trên tay anh cầm một cuốn vở học trò.
(more…)

Nguyễn Bắc Sơn

Lòng vui sướng như một ngày nắng tốt
Cầm tay em chầm chậm qua sông
Tà áo em buồm trắng đã căng phồng
Những tình ý một đời chưa tỏ hết
(more…)

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Thảo Trường (1938-2010)

Lời mở : Cuối năm 2005, nhà văn Thảo Trường đã cho xuất-bản tác-phẩm thứ 20 của ông, tập truyện Miểng (Quyên Book). Chúng tôi nhân đây giới thiệu tổng quan những điểm chính của sự nghiệp nhà văn qua các tác-phẩm chúng tôi đã có thể tham khảo ở hải-ngoại.

1.
Miền Nam Việt Nam tự-do (1954-1975) đã là vùng đất màu mỡ sung-mãn cho một nền văn-nghệ tự-do, khai-phóng và đa dạng nhất trong lịch-sử văn-học Việt Nam thời hiện-đại. Trong khi miền Bắc treo bút và cầm tù những văn-nghệ sĩ Nhân Văn giai-phẩm và tất cả những ai không bẻ cong ngòi bút tuân hành những chính-sách và nghị-quyết văn-hóa của Đảng, miền Nam đã chứng kiến một hồi-sinh văn-nghệ từ những người kháng chiến trở về và từ những người di cư từ miền Bắc và Trung; riêng những người sau họ đến miền Nam với hành trang văn-nghệ và trí-thức. Tất cả hòa nhập vào giòng văn-nghệ đã lớn mạnh từ những năm cuối thế kỷ XIX, nơi đó báo chí và xuất-bản phẩm đã có một quá trình lịch-sử và cũng nơi đó, một truyền-thống văn-nghệ trình diễn đã ăn sâu vào lòng người dân.
(more…)

Phan Xuân Sinh

Tôi gặp lại Hưng và vợ nó tại khu Eden, Washinton DC. Tôi đi từ Boston đến để tham dự đám cưới con của người bạn, sáng hôm sau đi dạo khu Eden thì gặp vợ chồng Hưng đang đi mua đồ ở đó. Từ khi qua Mỹ tôi có nghe tin phong phanh là gia đình Hưng định cư tại đây, thế nhưng không liên lạc được. Lần nầy vô tình lại gặp nhau. Hưng mừng lắm vào bên trong chợ gọi vợ ra, chúng tôi dẫn nhau vào Phở Tàu Bay cho dễ dàng nói chuyện.
(more…)

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

Tranh: Đinh Cường
Nguồn: Internet; Hồ Đình Nghiêm chọn tranh

Thụy Khuê

Bạn bè trong một bữa ăn thân mật tại nhà Lê Đình Điểu năm 1996.
Từ trái: Trần Thanh Hiệp, Thụy Khuê, Đỗ quý Toàn, ông bà Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến.
(hình: Diễn Đàn Thế Kỷ)

Mỗi Tết là một chuyển biến, là một lần đi. Mỗi người thân văn nghệ của tôi ra đi một cách khác nhau. Họ cũng không chết một cách “thông thường” như những người khác. Dường như với “người thường” một lần đi là vĩnh viễn, một đi không trở lại. Người văn nghệ đi nhưng vẫn còn một cái gì đó -ngoài thể xác- ở lại. Mỗi lần đọc bài thơ cũ xem bức tranh xưa là lại có “đối thoại”, như thể người đi, kẻ ở chưa hề đoạn trở âm dương.

Cuộc tạ từ họa sĩ Lê Thị Lựu thật đơn giản, tôi đến chào bà ở bệnh viện Antibes, vùng bờ biếc Côte d’Azur để mai lên đường về Paris, mừng bà bệnh tim đã đỡ, ngày mai sẽ ra viện. Không nghi ngờ gì đến chuyến đi sắp tới trong vài giờ nữa của bà, không mảy may nghĩ đến ngày mai không lại, chúng tôi đã tiêu dùng những giờ khắc cuối một cách rộng rãi, gần như xa xỉ. Bà cười, nụ cười đẹp như ảnh chụp thời xưa: nụ cười giai nhân mười tám trên đôi môi tám mươi. Bà vẫn kể những tâm sự dí dỏm như muốn múc cạn quá khứ của mình. Miền Lê Thị Lựu đã qua là mảnh đất trồng rất nhiều nghệ sĩ, bấy giờ đã thưa thớt, đã tan hàng nhiều lắm.
(more…)

Nguyễn Hữu Thụy

Lắm người hỏi tôi đang làm nghề gì?
Trước tiên tôi xin trả lời tôi không phải là thầy giáo
Chữ nghĩa vẽ vời thông thạo sử kinh
Cũng chẳng phải là bác sĩ, kỹ sư bằng cấp đầy mình
Bên ngoài nghe qua lắm người nể trọng
Cũng chẳng phải là cán bộ chức quyền nhà cao cửa rộng
Vinh hiển một đời vì nước vì dân
Cũng chẳng phải là một anh công nhân
Giai cấp đấu tranh tự hào vô sản
Cũng chẳng phải là bác nông dân cày sâu cuốc bẫm
Lam lũ một đời gieo giống ươm cây
Thế tôi làm quái gì đây giữa cuộc đời bao lần thay đổi
(more…)

Isaac Babel
Hoàng Chính chuyển ngữ


Grief, 1941 – by Dmitri Baltermans

Đám tù đã chết, cả chín đứa. Tôi cảm nhận được điều đó từ trong xương tủy của mình.

Hôm qua, khi hạ sĩ Golov, công nhân của Sormovo*, giết gã Ba Lan mảnh khảnh, tôi bảo sĩ quan tham mưu là ông hạ sĩ này đã làm gương xấu cho lính của mình, chúng tôi phải lập danh sách tù nhân để gọi họ lên thẩm vấn. Viên sĩ quan tham mưu đồng ý. Tôi rút cây bút chì và mảnh giấy ra khỏi ba lô và gọi Golov. Ném cho tôi cái nhìn đầy căm tức, hắn bảo, “Anh nhìn thế giới qua cặp kính cận đó của anh.”

“Đúng,” tôi trả lời, “thế còn anh, anh nhìn thế giới qua cái gì hở Golov?”

“Tôi nhìn nó qua cuộc sống khổ như chó của giới công nhân chúng tôi,” hắn nói, tay cầm bộ đồng phục Ba Lan với ống tay áo đong đưa rồi quay đi, bước về phía một trong những tù nhân. Hắn đã mặc thử, nhưng chiếc áo không vừa cỡ hắn – ống tay chỉ đến gần khuỷu.
(more…)

Trạch Gầm

Làm lại từ đầu

Viết cho thiếu tá Trần Văn Bé, người Anh cùng màu áo SĐ 5 bị vc xử bắn tại Suối Máu BH

Viên đạn thù nối hận thù chất ngất
Ghim vào ngực Anh giữa chốn pháp trường
Tôi chết lặng cùng niềm đau phẫn uất
Mất thêm một người… sau khi mất Quê Hương
(more…)

Nguyễn Ước

Một bài thơ mới tìm được: Tiếng hát người nô lệ mới

Bài thơ dưới đây tôi viết từ 36 năm trước (1973), sau đó được đăng trong giai phẩm tốt nghiệp của khoảng 300 sinh viên – học trình bốn năm – của Ðại học Sư phạm Huế, khóa Huỳnh Thúc Kháng 1974, mà tôi hân hạnh được làm trưởng khóa.

Từ sau tháng Tư năm 1975, sống lưu lạc ngoài quê nhà, tôi đánh mất toàn bộ bản thảo. Năm nay các anh chị em đồng khóa cùng chung với khóa Lương Văn Can 1973 lần đầu tiên tổ chức ngày hội ngộ tại Huế. Tuy tôi ở xa không thể về dự nhưng lại may mắn có một bạn cùng lớp cất công sưu tầm được bài thơ ấy và gởi cho tôi hôm 17/10/2009.

Nay xin nhờ các trang web thân hữu đăng tải, như một cách giới thiệu phần nào không khí sinh hoạt của đại học Huế trước năm 1975, và một mảnh tâm tình của tuổi trẻ thời đó.
(more…)

Ðàm Trung Phán

Tôi định chẳng muốn viết gì về Cây Bàng cả. Lý do là vì tôi không phải là một nhà khảo cứu về thực vật mà tôi cũng chẳng phải là một nhà khảo cứu về văn hóa dân gian Việt Nam. Thế nhưng, sau khi tôi đọc loạt bài viết về Cây Bàng (1, 2, 3, 4) của tác giả Lê Ðức Bảo và các thư từ của các đồng môn trường Trần Lục trên Web site của trường thì một cái gì từ cõi xa xăm trong Tâm Thức của tôi đã thôi thúc bắt tôi phải viết lên đôi giòng về “Cây bàng trong tâm thức” của tôi. Bài viết này hoàn toàn dựa theo những diễn biến của tuổi thơ dại khờ của người viết tại Bắc Việt đã bị chôn vùi theo giòng thời gian trong tiềm thức của một người Việt sống ly hương đã quá lâu năm.
(more…)

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

phải lòng

Ngay từ trước khi gặp mặt, tôi đã biết mình sẽ phải lòng ‘người ấy.’ Khi gặp rồi, thì mới biết cái kinh nghiệm phải lòng kia nó vượt quá cái giới hạn chữ nghĩa và tầm hiểu biết của tôi đến nhường nào.

Vậy như thế nào là phải lòng một người?
(more…)

Hà Nguyên Thạch

khi cúi xuống sầu nghiêng theo dáng bước
chợt thương mình năm tháng trót bơ vơ
chiều mùa đông phố hoang dài rét mướt
mình đi qua, mưa nức nở ai ngờ
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

1.
Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

– Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

– Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

– Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.
(more…)

Chân Phương

1
chữ nhảy múa khắp thánh chương
tôi đọc bí tích vô danh
gió ngùn ngụt cháy
 

2
hòn cuội ném đi
 
trở về
với hai bóng lạ
 
(more…)

Lưu Diệu Vân

Khi chúng mình làm yêu
em quên trái đất đang nóng lên và khoảng cách tận thế đang rút ngắn
mọi sám hối van xin đã trễ tràng
những cứu cánh can trường rồi cũng phải đầu hàng
tiêu tan theo từng đợt sóng lửa
hậu quả sự thái quá vô thức của chúng ta
(more…)

Hồ Chí Bửu

1.
Khi tiễn em ra sân bay- Em cười hihi nói : Ai cũng mang khẩu trang. Vậy làm sao hôn môi ? Tôi cười : Anh đâu có mang khẩu trang. Sao em không hôn ?- Kỳ thấy mồ ! Tôi hỏi : Sao vậy ? – Lạc lỏng- Ừ, có thể- Về VN, thấy ai cũng làm hiệp sĩ..Tôi cười gừ gừ trong cổ họng.
(more…)

Thiếu Khanh
Cho Thu Lâm Trương Lợi  (Canada)

Ta phá xiềng Bắc thuộc
Một ngàn năm nếm mật nằm gai
Một ngàn lần quật mình đứng dậy
Ngạo nghễ trước móng vuốt
cường bang bạo lực
Gọi thức giống người đoạn phát văn thân
Giết chết con thuồng luồng quấn cổ
Khơi rộng biển ngòi
Mở rộng giang sơn
(more…)

Trần Hoài Thư

Những ngày cuối tháng 12, mưa tầm tã cả núi rừng, lẫn cùng những cơn gió miền núi hú loạn cuồng trên những thân cổ thụ trong rừng già. Sương mù che khuất cả tầm mắt, mãi đến trưa chúng tôi mới nhận ra chút cảnh tượng xung quanh. Những hàng dây leo thả xuống đất, hay quấn chằng chịt trên bãi hoang, mà theo mùa mưa, tranh, cỏ thi nhau mọc cao đến quá đầu người. Ban đêm, chúng tôi phải dựa vào gốc cây để ngủ hay ngả lưng một tí. Thường thường tôi không bao giờ chợp một giấc mà không bị thức dậy bởi những tiếng động khả nghi. Cuối cùng tôi cũng khám phá ra rằng, sinh vật vẫn còn hiện diện trong khu rừng này. Có thể là một con nai, hay một con gấu cũng nên. Tôi đã đọc cuốn Cho cây rừng còn xanh lá của một vị linh mục, tôi không hiểu nếu tác giả là tôi, hay ở vị trí tôi, thì ông sẽ nghĩ thế nào. Với tôi, tôi muốn rừng trụi trốc, tôi muốn một trận núi lửa tự dưng phun lên và từng suối phún thạch chảy lai láng khắp rừng, khắp khe, khắp hang, khắp suối. Có nghĩa là tôi sẽ không còn phải mang con tim đập thình thịch trong bóng tối đen đặc và lạnh buốt của rừng. Đám lính ngủ ngon lành xung quanh. Họ coi chiến tranh như một trò chơi cũng nên. Họ chẳng cần bận tâm gì đến hiện tại. Hay họ nghĩ là tôi, tay toán trưởng toán thám báo đã thay họ và có trách nhiệm bảo vệ họ. Thường những đêm mưa như thế, trong poncho, dựa lưng vào gốc cổ thụ, tôi vẫn thường bị hành hạ bởi lũ sinh vật còn sót lại của rừng. Chiến tranh dù tàn bạo bao nhiêu, B52 dù thả bao nhiêu triệu tấn bom đi nữa, trăm ngàn chuyến bay có đổ xuống thuốc khai quang hơn nữa, cuối cùng những con kiến từ đâu vẫn còn có mặt, vẫn tiếp tục hành hạ tôi cả đêm. Có khi vài con lọt vào trong quần lót, và tha hồ cắn, chích, châm, chọc. Có khi một con vắt nào đó bình yên hút máu để rồi sau đó tôi nghe da tôi hơi rát, vô tình gãi, và tóm ngay thủ phạm. Tôi đã nghiến răng, dùng tay bóp mạnh con vắt, như cố trả thù, như trút hết cơn phẫn nộ. Có khi một cái gì đó khó chịu sau mông để tôi biết rằng có một chú chuột nào đó đã bất kể loài người hung bạo để gặm chơi của lạ. Tôi không thể hiểu tại sao những sinh vật lại có mặt tại một nơi như thế này. Không biết chúng trốn ở đâu sau những trận bom này tiếp đến những trận bom khác. Hình như nơi nào còn lại khí trời là nơi ấy còn sự sống. Sinh vật vẫn tiếp tục được sinh sôi và nảy nở. Trên bãi bom hoang tàn, đá vẫn còn in những dấu vết đen mòn, hay trong những hố bom, cây cối vẫn mọc lên, tươi tốt.
(more…)

Về thăm nhà cũ

Posted: 06/04/2011 in Lưu Nguyễn, Thơ

Lưu Nguyễn

Hai mươi năm về thăm nhà cũ
ngỡ rằng chỉ có sân rêu
và cây và cỏ triền miên ngủ
và người và cảnh rất quạnh hiu.
(more…)

Luân Hoán

Trốn mưa

tan buổi học về, chưa qua Lê Lợi
trời mưa dông như cầm chỉnh đổ xuống đường
ghé rất vội vào hàng hiên đóng cửa
đứng vuốt đầu bắt gặp một mùi hương

hình như có tiếng chân sau lưng cửa
không tò mò cũng liếc mắt vu vơ
một mái tóc trải thơm vai áo lụa
đang lắng nghe tiếng động đáng nghi ngờ
(more…)

Phan Tấn Hải


Volcano Poet Painting by Dale Witherow

Trang giấy nửa đêm
bàn tay mỏi
dòng thơ phả khói

có hồn tôi rơi
giọt mực chảy
lăn tròn không thôi
(more…)

Hồ Chí Bửu

Mùa Thu

tan rồi giấc mộng vàng phai
thu phong thổi rụng ra ngoài giấc mơ
chiều sương cát phũ mịt mờ
có ta ngồi giữ trang thơ cuối mùa
chỉ còn chiếc áo thu xưa
choàng vai sao ấm chiều mưa lạnh lùng

(more…)

Song Thao

Tôi hai mươi tuổi. Da tôi trắng ngần mượt mà mát dịu. Khí hậu miền núi tặng cho tôi đôi gò má hồng hào khỏe mạnh. Môi tôi như cánh hoa đào. Hai hàng răng trắng đứng xếp hàng thẳng tắp đều đặn. Nụ cười của tôi tươi trẻ thanh xuân rạng rỡ như ánh bình minh. Đó là nhận xét của chị Bích. Và chị cho nhan sắc tôi số điểm ngất ngưởng “mười phân vẹn mười”.
(more…)

Mây bạc

Posted: 05/04/2011 in Hoàng Lộc, Thơ

Hoàng Lộc

khi ta sắp sửa về sau núi
lòng em vừa bạc đám mây chiều
chính những thứ bị đời vong phụ
về đâu cũng muốn gánh gồng theo
(more…)

Hà Khánh Quân


Hoàng Lộc

Nội dung thi phẩm của nhiều tay làm thơ, xuất thân từ đất Quảng Nam, khởi từ năm 1960, thường bén rễ xanh cành bởi những nguồn phân: quê hương, thân phận, rượu và mỹ nhân. Một giai đoạn lịch sử, gồm hơi thở và thân xác chiến tranh được cảm nhận, nhìn thấy, một cách khá sinh động, rõ nét qua thơ. Thi ca như vậy, kể như gắn liền với đời sống một cách tích cực. Hoàng Lộc góp sức không nhỏ vào thành quả này. Anh trở thành một nhà thơ gạo cội của Hội An. Sự xuất sắc được chứng nhận bởi giải thưởng thi ca, của Trung tâm Văn Bút Việt Nam tại Sài Gòn, năm 1971. Ngoài ra, anh còn được giới làm thơ cùng thời, nhìn nhận là người giàu hoa tay, chuyên trị thơ tình lứa đôi.
(more…)

Hoàng Xuân Sơn

ấm đầu

ấm đầu. à. ấm đầu giông
đầu mùa gió dợm
lên đồng cỏ khô
ai đem than lửa xuống mồ
để con cá mọp
giữa hồ tang thương
ba bông
rụng xuống một hường
đất lạnh lẽo
chúi
tà dương
gập ghềnh
ấm đầu hồi. lạc. mông mênh
mùa xuân lạc giữa
cánh đồng tang ma

(more…)

Nguyễn Thanh Khiết
(viết cho Trạch Gầm, Trần Duyên Tưởng, Tưởng Năng Tiến…)

thôi ta đứng nơi này – bên hốc núi
nhìn một trời thơ lừng lửng đi qua
ngó cái bóng xưa nay đã rất già
đang thoi thóp bên bờ sông Vàm Cỏ

trên đất khốc khô còn gì ở đó
bạn bè đứa chết, đứa đã bỏ đi
Trảng Lớn, Kà-Tum rừng lá xanh rì
nơi ta nợ những nấm mồ vô chủ
(more…)

Phan Ni Tấn


Đa tình con mắt Phú Yên (Tản Đà)

Nhiều phen toan gọi đó bằng em
ngượng miệng nên đành đánh tiếng im
buổi trưa ngồi nghỉ dưới gốc mít
ngoài đồng nắng thả rộn tiếng chim
(more…)

Kim-Chi


Tác giả và thân phụ

Tôi vẫn thường nghe về cuộc chiến ở Việt Nam, đến cuộc đời gian khổ và sự hy sinh lớn lao của người lính VNCH. Những kỷ niệm vui buồn họ thường nhắc đến một cách trân quí và tôi nghe rất gần gũi.

Có một cái gì đó, hình như là sự kiêu hãnh riêng của những cựu chiến binh này mỗi khi nói đến cuộc đời quân ngũ của mấy mươi năm về trước. Trong số đó có ba tôi, có các anh tôi. Tôi không dám nói là mình hiểu được những tâm tình này vì tôi chưa từng phục vụ trong quân đội, nhưng vì “cơm nhà binh” nuôi tôi lớn nên tôi cũng có nhiều kỷ niệm cũng như cái nhìn riêng của một đứa con có cha trong quân ngũ.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Trong những phụ nữ thuộc thế hệ chị và mẹ của mình, tôi qúi nhất chị Thanh và dì Bẩy. Khi còn đôi tám, người ta thường gọi dì là con Bẩy.

“Giọng hát của con Bẩy đưa đò khi cất lên cao thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả dòng sông, chuyển rung mặt nước.” (Sơn Nam. “Con Bẩy Đưa Đò”. Hương Rừng Cà Mau. 51-52 *).
(more…)

Hoàng Chính

miếng bánh kem phập phồng
dựa lưng ly cà phê sữa nhỏ
muỗng nĩa gác lên nhau
từng bước chân gõ cửa niềm vui
thuở vắng tin ngỡ lạc mất em rồi
như chiếc bóng phù du, anh tan đi
khi ngọn đèn là em biến mất
năm tháng rỗng đường quen
lá vẫy tay chào cơn ngây ngất
con mắt hiền thân ái
đường phố đổi nhiều tên
em vẫn như xưa tay mười ngón
thắp ngọn nến bình yên
anh cơn gió nghiêng mềm vai ấm cúng
mưa tháng năm dịu dàng ân sủng
anh vẫn hôm nào chết điếng nụ hôn ngon
em vẫn như xưa da thịt tẩm bùa thiêng
cho anh tụng ngàn lần khúc tình ca mông muội

em yêu dấu mưa chiều xanh bối rối
thèm tự trầm mê muội đáy sông em

Hoàng Chính
Nguồn: hoangchinh.net

Nguyễn Vy Khanh

Con người đã có sinh thì có hoại, tử, tức không thể thoát được vòng sinh bệnh lão tử của nhà Phật hoặc khẳng quyết tam đoạn luận của Aristote. Đã mang thân phận làm người, ai cũng sẽ đi đến tình trạng và giai đoạn cuối đó. Dù biện luận hay tìm kiếm con đường thoát khác, cái Chết vẫn là một tất yếu, một xác-thực lớn nhất mà từ đó, trên đó, con người có thể dựa vào để dựng xây cuộc đời, tức là cuộc sống đem ý nghĩa đến cho cái Chết hay nói khác, vì cái Chết mà cuộc sống có ý nghĩa.
(more…)

Con đường

Posted: 04/04/2011 in Nguyễn Đức Tùng, Thơ

Nguyễn Đức Tùng

Nếu chúng ta có thể yêu một nhà độc tài
Như người đàn bà yêu
Kẻ đã hiếp dâm mình
Chúng ta yêu tất cả sinh linh

Nếu, không phải tất cả
Các nhà độc tài, không phải một trăm
Hay dăm bảy gã
Chỉ một mà thôi
Được yêu như thế

Con đường chúng ta đi còn dài

Nguyễn Đức Tùng
Nguồn: Tác giả gừi

Nguyễn Ước


Y Uyên qua nét phác họa của Duy Thanh

Thời buổi ấy chập chờn. Xã hội quay cuồng theo những cơn lốc chính biến. Chiến tranh tư bề lửa đạn. Quá khứ xa. Hiện tại nứt. Tương lai mù. Con người trôi dạt hoặc bị làm nguyên liệu chinh chiến. Vì sao nên nỗi và trong nông nỗi này, con người đi đâu về đâu. Ngày mai còn lại gì, kể cả thân xác này, trong lửa đạn. Không câu trả lời thoả đáng. Con người sống mộng du. Thời gian lung linh, vừa rạng sáng vừa đứng bóng vừa chập choạng tối. Bầu trời đè lên đỉnh đầu. Không gian có sấm chớp lập loè bốn phía. Và ta là con rối, sau những lúc bị giật dây giãy giụa, bị dồn vào đường chết, chỉ còn những khoảnh khắc cúi gầm mặt, chẳng muốn nhìn lên.
(more…)

Luân Hoán

cái tổ quạ lót bằng xương máu cũ
vua Hùng Vương thương cho ở bình an
từ đinh ván chuyển qua dần gạch sắt
thẳng đường bay xuôi ngược gió sông Hàn
(more…)

Ba quê hương

Posted: 03/04/2011 in Phan Nhật Nam, Thơ

Phan Nhật Nam

Quê Nội thôn Nại Cửu
Ðất khổ cát hoang vu
Trông khô giòng Thạch Hãn
Vần vũ gió Lào sang.
Mưa một năm hai mùa
Xói mòn trơ đá núi
Lũ sầm sập nửa ngày
Lụt tràn sâu lũng rú.
Nắng hạn tiếp mưa nguồn
Ðất cày không lên luống
Thâu đêm trần mồ hôi
Ðáy gầu khua đá cạn.
Ðau đớn sâu tiếng nói
Xót xa hằn khốc âm
Suốt một đời sợ đói
Từng ngày…
Lần trăm năm.
(more…)