Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Nguyễn Vy Khanh

Văn và sử, văn chương và lịch sử, quan hệ như thế nào? Một mặt, văn chương là hư cấu và tác phẩm là một cái hoặc cách nhìn, tiên tri, dự báo, một nhận thức lịch sử – hoặc bên lề lịch sử, của một tác giả, trong khi đó, lịch sử là một nỗ lực tìm “sự thật” chính xác, khách quan, không thiên lệch, có hay có dở có mạnh có yếu, có vinh quang thì cũng có thất bại phải cáng đáng với lịch sử.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

II- François Rabelais và nền văn hoá dân gian thời Trung Cổ và Phục Hưng

Trong cuốn François Rabelais và nền văn hoá dân gian thời Trung Cổ và Phục Hưng [1], phần mở đầu và đặt vấn đề, Bakhtine xác định: Rabelais là một tác gia lớn của nền văn học thế giới. Chateaubriand, Victor Hugo ca ngợi Rabelais như thiên tài của mọi thời, Michelet nhìn nhận Rabelais là một hiền triết, một tiên tri. Trong nền văn học phương Tây, người ta xếp Rabelais ngang hàng với Dante, Boccace, Shakespeare, Cervantès, những văn hào được coi như đã mở đường cho nền văn học hiện đại. Nhưng ở nước Nga, Rabelais lại ít được biết đến. Đó là lý do bề mặt, khiến Bakhtine khảo sát Rabelais.
(more…)

Ngu Yên
Trích “Hay Đẹp Tình Cờ, Phần I” Tập 11

Levi Van Veluw sinh năm 1985 tại Hoevelaken, Hà Lan. Tốt nghiệp đại học Artez Art, Arnhem. Hiện đang sinh sống và làm việc ở đây.

Đã triển lãm tác phẩm nhiều nơi trên thế giới, New York, Chicago, Los Angeles, USA; Toru, Polen; Brussels, Hasselt, Belgium; Linz, Autria; Beijing, China; Taragona, Spain; Volta Basel, Berlin, Germany; Trieste, Italy; Aberdeen, Scottland; France; London, UK; Stockholm, Sweden….

1. Dẫn.

Thông thường, tác phẩm nghệ thuật là sản phẩm, là kết quả của sáng tác..là tài sản trí tuệ và vật chất của nghệ sĩ.

Đi vào phương pháp sáng tạo của Levi Van Veluw, người nghệ sĩ trở thành chủ đề, trở thành đối tượng và khác thường hơn, ông chính là sản phẩm của ông.
(more…)

Người Yêu Nhạc (VN)


Nhạc sĩ Vĩnh Điện

Có lẽ, trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, đều giữ trọn tâm hồn mình cho một bài hát thương yêu nhất, một giọng ca hay một nhạc sĩ gây cho mình ấn tượng tốt đẹp nhất. Ở đây, tôi muốn nói đến người nhạc sĩ tài hoa. Người đã tạo cho tôi thật nhiều cảm xúc; khi những bản nhạc của ông lên tiếng : nhạc sĩ Vĩnh Điện.
(more…)

Khaly chàm

Một khi người yêu thơ nhắc đến những nhà thơ thời tiền chiến (trước 1945). Không thể nào quên được một nhà thơ khá quen thuộc với độc giả, thính giả âm nhạc và các nhà nghiên cứu, nhận định – lý luận… Đó chính là nhà thơ Hàn Mặc Tử. Vài dòng ngắn tiểu sử: Hàn Mặc Tử sinh 22/9/1912 mất ngày 11/11/1940 (1912 – 1940) bút danh khác: Lệ Thanh, Phong Trần. Tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình; lớn lên ở Quy Nhơn tỉnh Bình Định trong một gia đình theo đạo Công giáo. Là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam. Là người khởi xướng ra Trường thơ loạn, cùng với ba nhà thơ (Chế Lan Viên, Yến Lan và Bích Khê). Hàn Mặc Tử hay còn gọi là Hàn Mạc Tử, ông với Quách Tấn, Chế Lan Viên, Yến Lan được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu, nghĩa là bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.
(more…)

Đinh Cường
Kỷ niệm 19 năm ngày giỗ họa sĩ Nguyễn Gia Trí (20 tháng 6 năm 1993 – 20 tháng 6 năm 2012)


Họa sĩ Nguyễn Gia Trí, 1992

Bí quyết của nghệ thuật là không cố ý làm gì cả.
Để cái mờ, giữ cái bóng. Sơn dầu khác với sơn mài là không có cái bóng.
(Họa sĩ Nguyễn Gia Trí nói về sáng tạo, họa sĩ Nguyễn Xuân Việt ghi lại, nhà xuất bản Văn Học 1988)

Tìm hiểu văn hóa của một đất nước không thể không nghiên cứu đến những tác phẩm hội họa, Nguyễn Gia Trí là một trong những tên tuổi hàng đầu của hội họa Việt Nam hiện đại. Ông sinh năm 1908 tại một làng quê nghèo bên sông Hồng, thuộc Tràng An, Thường Tín, Hà Đông (Bắc Việt), trong một gia đình làm nghề thêu phẩm phục triều đình.

Nguyễn Gia Trí pháp danh Thiện Trân do tuổi già yếu sức sau khi bị liệt thân thể do xuất huyết não, đã mất lúc 22 giờ 30 ngày 20 tháng 6 năm 1993, tại nhà riêng số 493 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn, thọ 85 tuổi. Sau đám tang có lẽ không muốn thấy những kỷ niệm nhắc nhở đến người chồng thương yêu của mình, bà Trí đã bán căn nhà sau này và dọn đến đường Trương Minh Ký. Ông ra đi mới đó mà đã gần hai mươi năm…
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

I- Thi pháp Dostoïevsky

Mikhail Mikhailovitch Bakhtine, triết gia và lý thuyết gia về tiểu thuyết đứng riêng một cõi. Được coi là nhà phê bình Nga lớn nhất thế kỷ XX, cuộc đời ông là một chuỗi bất hạnh. Những công trình nghiên cứu của Bakhtine bị vùi dập trong vòng nửa thế kỷ, chỉ được công bố vào khoảng 1960, 15 năm trước khi ông qua đời.

Khởi đi từ phương pháp hình thức, Bakhtine muốn đề xướng một nền khoa học văn chương, nhưng ông phê bình gắt gao phương pháp của trường phái hình thức. Theo Bakhtine, không thể tách rời văn chương nói riêng và nghệ thuật nói chung ra khỏi con người bằng xương bằng thịt đã cấu tạo nên tác phẩm, để chỉ xét về mặt chất liệu không thôi như những nhà hình thức đã làm (chất liệu ở đây là chữ, đối với nhà văn, là màu sắc đối với hoạ sĩ, là đất, đá, kim loại… đối với nhà điêu khắc), mà phải xét toàn bộ bối cảnh đã xây dựng nên nó, kể cả xương thịt con người. Tóm lại, không thể mổ xẻ chữ nghiã như những tử thi mà không xét đến phần hồn của chữ, phần hồn của người đã tạo dựng nên những câu, những lời đó. Vì vậy, nền khoa học văn chương mà Bakhtine muốn xây dựng phải là một nền khoa học hướng về con người sống trong bối cảnh xã hội, một nền xã hội học văn chương.
(more…)

Cung Trầm Tưởng

Từ nhiều năm nay, ở hải ngoại người ta đã viết khá nhiều về sự kiện Nhân Văn Giai Phẩm và nhân vật Nguyễn Ái Quốc.

Công chúng nhờ đó có được một sự hiểu biết phong phú, đa nguyên, bổ ích. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đó mới chỉ là một cái nhìn cục bộ, tản mạn, rời rạc, không được hệ thống hóa, thiếu chuyên sâu và tính nhất lãm. Tầm nhìn bị hạn chế trong khuôn khổ những bài viết có những khảo hướng khác nhau, nên thiếu bề dầy, tính keo sơn và sự thống nhất tư tưởng của một quyển sách viết nên bởi một tác giả.

Sự khiếm khuyết này của tri thức, và học thuật, nay được bổ sung với sự ra đời của cuốn biên khảo Nhân Văn Giai Phẩm Và Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc của nhà nữ phê bình văn học tên tuổi Thụy Khuê.
(more…)

Nguyễn Đình Chúc
Chân dung một nhà thơ lớn còn bị che lấp & Thế lực văn học mờ ám chỉ đạo Hội Nhà Văn Việt Nam vẫn cố tình bưng bít kìm hãm.


Nhà thơ Phạm Ngọc Thái

Tôi biết Phạm Ngọc Thái (PNT) từ thuở còn chiến tranh, cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú qua ba mặt trận Việt-Miên-Lào. Suốt chặng đường chinh chiến ấy Thái ham viết nhật ký và làm thơ! Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng, Thái vẫn thường hay đọc thơ cho chúng tôi nghe. Được biết những cuốn nhật ký đó đã bị mất trong chiến tranh, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài tản mạn, cũng là một điều đáng tiếc.
(more…)

Phan Tấn Hải

Đây là một tập thơ lạ. Một tập thơ rất lạ, đối với người đọc thơ bằng ngôn ngữ Việt. Nhưng cũng trên những trang giấy của thi tập “MÙA YÊU CON Thứ Nhất,” độc giả thuộc bất kỳ khuynh hướng văn học nào cũng bắt gặp một phần của mình trong đó — và cũng bất kể độc giả Việt đó đang ở phần đất nào trên địa cầu. Dù vậy, tập thơ hình thành rất đơn giản: đây là những lời của Trangđài Glassey-Trầnguyễn nói với đứa con còn rất nhỏ của cô, và cũng là một vũ trụ rất mới đang khai mở cho cô.
(more…)

Nguyễn Lương Vỵ
Nhân kỷ niệm lần thứ 76, ngày sanh [15.03] và lần thứ 6 ngày mất [22.03] của Thanh Tâm Tuyền.


Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền – Đinh Cường

Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền (15.03.1936 – 22.03.2006,) một trong những thành viên sáng lập trụ cột của Tạp Chí Sáng Tạo (1956 – 1960,) một trong những thi tài tầm cỡ nhất của thi ca miền Nam (1954 – 1975,) với 2 thi tập tiêu biểu: Tôi Không Còn Cô Độc (NXB Người Việt, 1956), Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (NXB Sáng Tạo, 1964.) Là người tiên phong của phong trào Thơ Tự Do, một phong cách thơ phóng khoáng, cách tân, hiện đại và đầy tính sáng tạo. “Tôi đi tìm tiếng nói/Cho cổ họng của tôi.” Thanh Tâm Tuyền đã tạo được ảnh hưởng và nguồn cảm hứng thơ khá lớn đối với giới cầm bút trẻ lúc bấy giờ và kể cả sau nầy.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Roman Jakobson sinh ngày 11/10/1896 tại Moscova, mất ngày 18/7/1882 tại Harvard. Say mê thơ từ rất sớm. Thời còn sinh viên, năm 1915, ông đã là một trong những thành viên xây dựng Câu lạc bộ ngữ học Mạc Tư Khoa, rồi câu lạc bộ ngữ học Pétrograd (1917).

Từ 1920 đến 1939, Jakobson bỏ Nga sang Tiệp Khắc, trở thành một trong những thành viên chính xây dựng nên Câu lạc bộ ngữ học Praha.

Năm 1939, tránh Đức quốc xã, ông chạy lên Bắc Âu, cộng tác với Câu lạc bộ ngữ học Copenhague (Đan mạch). Năm 1942, ông sang định cư tại Hoa Kỳ, dạy học ở đại học Columbia, rồi Harvard, và M.I.T (Massachusetts Institute of Technology).
(more…)

Phạm Đức Nhì

Phân biệt Ý và Tứ

Ý: Điều tác giả muốn nói đến

Tứ: Cách để tiếp cận, diễn đạt ý

Khi tác giả chọn cách nói trực tiếp, nói thẳng vảo điều muốn nói, bài thơ có ý và tứ giống nhau. Ý là tứ, tứ là ý, ý với tứ là một.

Thí dụ:

Anh Lái Đò của Nguyễn Bính

Ý và Tứ là một: Anh lái đò nói về mối tình tuyệt vọng của mình.

Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác

Ý và Tứ là một: Hào khí của một sĩ phu trước cảnh đất nước điêu linh
(more…)

Lật Tư
Trần Yên Thảo trích dịch


Trống đá khắc thơ (Nguồn: Confucius Institute Online)

Trong lịch sử văn hoá nghệ thuật Trung Hoa, “Trống đá” (Thạch cổ: 石 鼓) là một tác phẩm nghệ thuật tối cổ (thời Tây Chu), một di vật quí hiếm còn được bảo tồn đến nay. Trống đá được phát hiện thời Sơ Đường trên đường Trần Thương, một vùng thảo nguyên cách phía Nam huyện Thiên Hưng (nay là huyện Phượng Tường, Thiểm Tây) khoảng 20 dặm. Tất cả gồm 10 chiếc có hình dạng chiếc trống. Đường kính mặt trống từ 70-80 phân, cao khoảng 1 thước. Mỗi mặt trống đều chạm khắc một bài thơ 4 chữ, 10 bài ghép thành một trường thi tự sự trên 700 chữ.
(more…)

Lê Hoài Nguyên


Trương Tửu (1913 – 1999)

Cuối 1954, hòa bình được lập lại sau chín năm chiến tranh. Trương Tửu cùng các đồng nghiệp trở về Hà Nội tiếp quản Đại học Hà Nội. Trước thời điểm này, năm 1953 ông đã được bổ nhiệm làm Giáo sư ở Trường Dự bị đại học tại Thanh Hóa. Năm 1956, Ông được phong hàm Giáo sư cấp II giảng dạy về Lý luận văn học và Lịch sử văn học Việt Nam hiện đại ở Đại học Văn Khoa và sau là Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội.

Bối cảnh lịch sử Việt Nam 1954-1955 hết sức phức tạp. Hai chế độ cùng tồn tại trên hai miền lãnh thổ nhưng còn đan xen vào nhau. Về hình thức thì hòa hoãn, hợp tác việc thi hành Hiệp định Giơ ne vơ, chuyển giao quản lý lãnh thổ, tập kết người từ Nam ra Bắc, di cư người từ Bắc vào Nam theo điều khoản tự nguyện cư trú của hiệp định dưới sự giám sát của Ủy ban quốc tế. Tại miền Bắc, chế độ xã hội mới được thiết lập nhưng tại Hà Nội và các đô thị buổi đầu cuộc sống vẫn giữ hình thái sinh hoạt theo Hiến pháp nước VNDCCH 1946, tự do tư tưởng ít nhiều được bảo đảm đối với trí thức và các hoạt động truyền thông, xuất bản, văn nghệ… Tuy nhiên sự áp dụng mô hình quản lý của chế độ mới như đăng ký hộ khẩu, cải tạo tư sản, mậu dịch và sự thiếu thốn hàng hóa, lương thực, thực phẩm đã gây ra tâm lý căng thẳng trong dân chúng, cả cán bộ, bộ đội… Trong cán bộ, bộ đội mà sau này một bộ phận đáng kể bị tác động bởi luồng gió cải cách dân chủ từ Liên Xô, Trung Quốc đang tìm cách thoát khỏi bế tắc tư tưởng do áp lực của chủ nghĩa Mao đang tăng dần lên từ giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến. Hết chỉnh huấn thì cuộc Cải cách ruộng đất đợt 5 lại được triển khai làm cho tâm lý người dân và xã hội càng căng thẳng. Trong những chuyển biến xã hội đáng chú ý nhất là bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ nhạy cảm đang hy vọng có sự đổi mới cho việc xây dựng một hình thái xã hội (dân chủ cộng hòa trong thời bình) cởi mở thoải mái hơn về tư tưởng, về sáng tạo văn nghệ…
(more…)

Ninh Hạ

Thơ phổ nhạc có lẽ là một thể loại sáng tác đặc biệt Việt Nam. Có thể vì bản chất thơ Việt nam là vần điệu. Trong thơ đã có nhạc. Các nhạc sĩ đã làm cho các bài thơ được đại chúng hoá. Sự phối hợp giữa thơ và nhạc nhiều khi đã nâng giá trị bài thơ lên cao hơn trên mức độ thưởng ngoạn.

Thơ Việt nam được phổ nhạc rất nhiều. Nhưng, “Ngậm ngùi” thơ của Huy Cận, “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư, được Phạm Duy phổ nhạc; “Chiều” thơ Hồ Zếnh, nhạc Dương Thiệu Tước phải kể là những phối hợp tuyệt vời giữa thơ và nhạc. Thơ không bị đổi lời hay thêm lời cho đúng nhịp điệu và âm giai, đã nhờ nhạc mà hay hơn. Nhạc có thơ mà ngôn từ hóa âm thanh, chuyên chở cảm xúc trực tiếp đến người nghe.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Trường phái hình thức Nga, như đã trình bày trong chương 4, gồm những nhà ngữ học đã tìm cách khai phá đường lối nghiên cứu văn chương theo phong cách khoa học, thuần túy dựa trên văn bản và gạt hẳn ra ngoài những yếu tố khác như tiểu sử, tâm lý, triết lý, v.v…

Bằng những phương pháp khác nhau, họ đã nghiên cứu cặn kẽ các thể loại văn học khác nhau: Về thơ có công trình nghiên cứu của Roman Jakobson, về truyện cổ tích, Vladimir Propp, về văn xuôi, Chklovski, Tomachevski, v.v…

Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày những nét chính trong phương pháp phân tích hình thức của Boris Tomachevski về thơ văn, Vladimir Propp về truyện cổ tích và Roman Jakobson về thơ.
(more…)

Thiếu Khanh


Phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây

Nhân một bài viết của nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy phổ biến trên một số trang mạng về sự kiện chữ viết cổ xưa của người Lạc Việt được phát hiện ở Tỉnh Quảng Tây Trung quốc [1], có người đã phản ứng như sau:

“Xã hội có nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà toán học, nhà vật lý, nhà khảo cổ . . . Bây giờ, xã hội chúng ta lại có thêm nhà ru (viết ngắn của nhà ru ngủ dân tộc), có mặt khá nhiều trên Net, hay trên sách. Chẳng có gì đáng “vui mừng,” hay “tự hào,” như Hà Văn Thùy nói. Xin nhắc lại, đó chỉ là những ký hiệu, không phải chữ.
(more…)

Phan Xuân Sinh


Thi sĩ Hoàng Lộc qua nét vẽ Đinh Cường

Viết về thơ Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình, mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một. Chính điều nầy đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ khác khi làm thơ tình, họ có một cái “air” thơ giống của anh, nội dung na ná của anh, chữ dùng đôi khi mượn của anh. Ngay cả tôi trước đây, làm thơ tình đọc lên nghe như hơi hám của Hoàng Lộc. Như vậy đủ biết thơ tình Hoàng Lộc “dễ sợ” lắm chứ không phải chơi. Thơ anh làm ảnh hưởng rất nhiều người, khi giật mình bứt phá ra khỏi cái ảnh hưởng đó, thì cũng thật gian nan. Nói như vậy để biết rằng Hoàng Lộc có một chỗ đứng khá sâu trong lòng người đọc, trong lòng anh em làm thơ.
(more…)

Vũ Ðình Trọng

Tập thơ “MÙA YÊU CON Thứ Nhất” của Trangđài Glassey Trầnguyễn là chứng cớ của cuộc tình tay ba giữa Trangđài, Cưng, và Cục Cưng của cô, như cô cho biết. Tuy nhiên, đối với tôi, đây là một tác phẩm không chỉ dành cho “cuộc tình tay ba” của Trangđài mà đó còn là một món quà quý giá đối với ai đã từng được làm Mẹ, từng được làm Cha, và hơn lúc nào hết, nó quý giá với tất cả mọi người con.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Nhà văn vẫn đứng ngoài nắng. Nhà văn Mai Thảo đã nhận định về một chân dung đã có tới hơn 60 năm cầm bút là nhà văn Nhật Tiến như vậy. Trước năm 1975, ông là một khuôn mặt văn học tiêu biểu của 20 năm văn học miền Nam và đã đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc năm 1961. Ông là nhà văn của tuổi thơ, của những bức xúc về một cuộc chiến tranh và là một người lưu lạc suy ngẫm về thân phận của mình và của chung một thế hệ phải trải qua những ngày chiến tranh và những ngày hậu chiến tranh mà những bi thảm, những bất toàn của xã hôi lại còn đáng sợ hơn thời còn khói lửa. Ông viết với tâm cảm mà những ý nghĩ trung thực được biểu lộ không e ngại và là tiếng nói được lắng nghe từ công luận. Sau năm 1975, ông lại là chứng nhân của những cuộc đổi thay nghiệt nghã và văn chương ông ghi chép lại những thực tế đáng buồn của một thời đại đảo điên bi thảm của dân tộc Việt Nam.
(more…)

Trần Tuấn Kiệt


Nhà thơ Trần Yên Thảo

Cũng trong đêm nay, sau khi nghe nhạc Trầm Tử Thiêng thì cũng tình cờ sau lưng tôi một tập thơ bạn tặng đã lâu chợt rơi xuống từ trên kệ sách. Vì lúc này tôi đang treo bức họa chân dung của mình do anh Hà Cẩm Tâm vừa mới về phác họa cho, tôi đã đọc các tập thơ, sách dịch và biên khảo của Trần Yên Thảo từ lâu, nhưng lúc này thần kinh căng thẳng, nhiều lần tôi cầm bút viết về anh nhưng vừa nghĩ đến đã bị choáng không viết được. Cái ý định của tôi là viết thật kỹ về Trần Yên Thảo, vì sau khi tôi đọc tập sách “Con Đường Tơ Lụa” của anh dịch, tôi biết anh là một cây bút có tài, có kiến thức và cả tài làm thơ hơn hẳn các bạn đương thời là loại cảm hứng từ Cổ Thi, Đường Thi trước hết là tập”Quà Tặng Người Xưa”, thi phẩm với lời giới thiệu của Bùi Giáng đề tựa như sau:

Dở trang gay cấn
dở càn
Vô duyên là thế
Muộn màng
thế ru?
Mình đi? Để chút
lời chào
Ta ngồi ngắm mãi
đưa vào vi vu.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992) qua nét vẽ Tạ Tỵ

Cách đây hơn 40 năm, những năm đầu thập niên 70, trong giai đoạn đất nước dầu sôi lửa bỏng, những tác phẩm phản chiến được phát triển rầm rộ. Một phần, trước cuộc chiến càng ngày càng leo thang một cách cùng cực, sinh mệnh người dân như tấm bia thử nghiệm cho những thể chế, không biết ngày nào hy vọng bình yên trở lại quê hương. Một phần sự loạn ly làm đình trệ tư tưởng, đời sống và văn minh văn hóa khoa học, đem lợi ích phát triển hơn là sự tàn phá nghiệt ngã vô ích. Thơ văn là tiếng nói của người làm văn nghệ, được bày tỏ bằng những bức xúc, chứa đầy cảm năng đối thoại với chiến tranh đang phủ chụp khắp xóm làng. Thật vậy, nghệ sĩ với lửa con tim đều biểu lộ bằng những sáng tác trên hội họa, văn chương, âm nhạc,…Trịnh Công Sơn là một hình ảnh tượng trưng về nét phản chiến thực tiễn trong những thập niên 60-70. Chuỗi tác phẩm của Trịnh Công Sơn đã ghi lại những dấu ấn siêu việt ảnh hưởng từ trong và ngoài nước, mà bất cứ hàng quán nào kể cả tư gia của người thôn dã đều chất đống âm vang những ca khúc giữa đời sống hằng ngày…
(more…)

Phạm Xuân Đài

Ngay sau chiến thắng của phe cộng sản tại Việt Nam tháng Tư năm 1975, một sự kiện bi tráng đã xảy ra và kéo dài liên tục trong hơn 15 năm: đó là cuộc vượt biên của nhân dân Việt Nam nhằm đào thoát ra khỏi chế độ cộng sản.

Cuộc đào thoát thoạt tiên xảy ra tại vùng đất thua trận miền Nam. Từ lâu, dân miền Nam là “bà con gần” với thế giới tự do, cho nên trong cơn hoạn nạn ngay trên đất nước của mình, thì phản ứng tự nhiên là chạy tới tìm nhờ bà con. Cũng từ lâu, khi nói tới vượt biên, hầu hết chúng ta chỉ nghe nói những địa chỉ tới của các con thuyền lén lút ra khơi là Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân, Úc. Từ các bến bãi miền Nam, thuyền tị nạn tìm đến các bến bờ vùng Nam Á ấy là lẽ tự nhiên – về địa lý cũng như về sự tin cậy. Thế nhưng đường tị nạn còn một hướng nữa, về phía Bắc, mà hầu hết đều tấp vô bến Hồng Kông. Một số người vượt biên từ các tỉnh cực bắc của VNCH cũ, như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi có khuynh hướng chạy ngược lên hướng Bắc vì đường gần hơn. Nhưng xem kỹ lại thì đa số người tị nạn trong các trại Hồng Kông có vẻ là những người ra đi từ miền Bắc Việt Nam, là miền đất thuộc phe thắng trận năm 1975.
(more…)

Châu Thạch

Một mình vá áo

chiếc áo một ngày không hẹn, rách.
vụng về sợi chỉ mấy đường may
cây kim sứt mũi đâm vào vải
những tiếng buồn thiu giữa ngón tay!

con chim bìm bịp gù trong lá
ai giấu niềm đau ở cuối vườn
ta giấu niềm đau nơi mảnh vá
mảnh vá quàng như một vết thương!…

Nguyệt Lãng

Lời bình: Châu Thạch

Có những bài thơ khi đọc xong, nếu trong ta có vết thương lòng thì bài thơ hình như hàn gắn lại cho vơi bớt nỗi đau, nhưng cũng có những bài thơ đọc xong, dầu trong ta không có vết thương nào cũng thấy lòng nhói đau như có vết, còn nếu trong ta có vết thì bài thơ khơi thêm niềm đau ấy âm ỷ trong lòng ta mãi miết. Cả hai lọai thơ ấy đều là những bài thơ hay mà tác giả của nó phải là những thi sĩ tài hoa, đã từng sâu nhiệm trường đời. Với tôi bài thơ “Một mình vá áo” là bài thơ thuộc lọai thứ hai, nó đã hành hạ tôi chẳng khác chi cây kim sứt mũi đâm vào vết thương mà tôi lầm rằng thời gian đã làm liền da lại. Chỉ với câu thơ đầu tiên của “một mình vá áo” Nguyệt Lãng đã đưa tôi vào cảm giác bất ngờ vì liên tưởng đến biết bao điều bất hạnh đột xuất trong một đời người:
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Đến đầu thế kỷ XX, phê bình văn học vẫn còn dựa trên nền triết học duy sử, tức là khảo sát tiểu sử và tâm lý nhà văn, rồi dùng tác phẩm để chứng minh cho tiểu sử và tâm lý tác giả, đặt nhà văn vào những khung hiện thực, lãng mạn… có sẵn, với những kiến giải mơ hồ; ví dụ: tác giả này viết cuốn sách này trong một hoàn cảnh như thế nào và từ đó rút ra kết luận: tác phẩm “nói lên” những sự kiện này, biến cố kia trong đời sống của mình, cách phê bình Nguyễn Du và truyện Kiều trong rất nhiều tác giả của ta là như thế.
(more…)

Nguyễn Khôi


Thi sĩ Hoàng Cầm (1922-2010)

LỜI DẪN: Theo nhà thơ Hoàng Hưng (VN Lagi & Talawas ngày 19-09-2010) thì: Nhà thơ Hoàng Cầm viết tập thơ “về Kinh Bắc” từ 1959 – 8 / 1982, chủ yếu lưu truyền bằng chép tay (ngoài luồng) – đây là một sự kiện “hậu Nhân văn- Giai Phẩm”, trong đó bộ 3 “cây – lá – quả” (cây tam cúc – lá Diêu bông – quả vườn ổi) là nổi bật nhất” vì chúng được (giới Văn nghệ) xì xầm diễn giải như một lời oán trách của “Em” (văn nghệ sĩ) với “chị” (Đảng) .. đại khái là “Em” yêu “chị” , nhưng “chị” đã lừa “Em” , cho “Em” ăn toàn “quả rụng”, rồi bỏ mặc “Em” bơ vơ để đi lấy chồng.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Chân dung Trần Yên Thảo (qua ống kính Lâm Hồng Lân)

Cái hứng khởi của người làm văn nghệ là tìm được sự đồng điệu với tha nhân, tất cả những nỗi niềm đột ngộ được bùng vỡ một cách hạo nhiên, tự tại vô cùng giữa trời đất mang mang. Người tri kỷ phải chăng cũng được sắp đặt giữa định mệnh, chỉ cần một tiếng sét vô minh đánh vụt xuống sân tiềm thức, cho chợt vỡ oà trong bức màn đêm còn phủ dụ của cái riêng ta. Đó là lúc giao cảm sáp nhập vào tri ngộ, đưa đẩy khí thiêng trở về với bản lai…Trứng đá bỗng nhiên thoát thai cung nghênh cùng thiên địa bao la, một cái nhảy cũng vung vẩy pháp hoa ra tận tam thiên đại thiên thế giới, cho xanh ngát một lời thơ, như tiếng hét lạnh ngập thái hư…Có lúc , thi nhân cô độc ôm cái đạo phi thường, đứng lặng lẽ trên đỉnh núi cao, với tay chạm vào ngàn sao phiêu bạc, mây trời và gió núi là những tri âm bao phủ quanh một hồn thơ tiền định, giữa bao la của thương hải tang điền, ngơ ngẩn suốt mấy hướng thơ đi. Giờ đây, suốt hành trình với tâm thức, đằng đẵng hơn nửa thế kỷ du phương, hành giả vẫn lặng lẽ chống gậy vàng, trôi suốt dọc đường phong vũ, rải thơ như rải hoa vô ưu, rực rỡ bên cát bụi. Cát bụi thì vẫn vô tâm lăn lóc giữa trần gian đầy thay đổi biến thiên, nhưng hoa vô ưu đã sáng rực trong pháp âm vi diệu, hoá thân thành rừng cây già đầy trái tinh hoa, nặng trĩu giữa cuộc đời. Với tay mà hái cái hạo nhiên huyền diệu ấy , cắn vào răng ngà dòng sữa ngọt tụ đẫm thần khí hậu thiên, phải chăng người thơ vẫn ngơ ngác trước thành tựu ngàn năm vừa tụ lại trong đêm. Trăng thì vàng óng, hoa thì say sưa nở nhuỵ, nhưng trăng có soi xuống êm đềm cho hoa nở, và hoa có bừng nở lúc trăng soi? Mơ màng trong cái giao hoà của hư và thực, đã đẩy đưa tinh tuý được chắt lọc diệu kỳ cho thơ anh rực rỡ, và đẹp như chiếc ráng hoàng hôn nghiêng bên vùng cổ địa biên giới và núi cao…
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Aristote sinh năm 384 trước Tây lịch[1] tại Stagire[2], miền nam Macédoine[3] gần núi Athos. Mẹ: Phestias. Cha, Nicomaque, là bạn và thầy thuốc của vua Macédoine. Năm 367, Aristote rời Stagire đi Athènes. Từ 365 đến 347 ông là môn sinh của Platon tại Hàn Lâm Viện và trở thành học trò nổi tiếng nhất của Platon. Aristote có giọng nói nhỏ nhẹ, chân yếu và mắt nhỏ, luôn luôn ăn mặc kiểu cách, đeo vòng và cạo râu nhẵn nhụi.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981)

Bóng dáng của Vũ Hữu Định như một con ngựa hoang, ngày tháng chất chồng trên vó ngược mà chính bản thân chủ nhân cũng không lường trước được phương hướng để định vị cuộc đời trước mặt. Đã là hóa thân loài ngựa hoang, sự thuần hóa là điều không tưởng, bước đi nhảy vọt không hai chắn mắt, vì vậy hướng tương lai như chiếc bóng phù ảo, cứ chạy đuổi miệt mài trong cái hư không vô cùng tận. Có lẽ định mệnh quy cách cho một số phận đầy nghiệt ngã, khiến Vũ Hữu Định cứ rong cương cất vó vô định hình trong không gian lưu trú, lãng bạt suốt bề dài tuổi thanh niên. Cũng có lẽ bao nhiêu bất trắc cứ đổ đầy trên số phận nhà thơ, đem tất cả phong trần thế gian phủ chụp cho nát nhàu kiếp số. Long đong và nghiệt ngã bám đầy trên vai áo Vũ Hữu Định không biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng khi anh gặp tôi tại Sài Gòn, hình như gió bụi cộng sinh đã là chiếc bóng gắn chặt vào cuộc đời, không tách rời khỏi được số phận và thơ Vũ Hữu Định. Chan hòa tan nát trong sự vần vũ của vũ trụ, bản thân như hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, cái mất đi còn có hình thể gì đâu mà phải phân trần, nhưng cái còn lại của một tâm thức người thơ trụ lại được trong cái an nhiên, thì đó là cái khó được thử thách thật quyết liệt. Vũ Hữu Định biến hóa sự nghiệt ngã trở thành sự tịch tịnh hằng ngày trong hành xử với thế sự và chính bản thân, như một đóa sen hồng điềm đạm thanh khiết giữa tứ bề sương khói phủ vây. Trong đời tôi, giao tiếp thân tình với bằng hữu bốn phương, dĩ nhiên cũng gặp nhiều khuôn mẫu tuyệt vời trong cuộc sống. Nhiều nhân dáng chuyên chở từ tâm thức kỳ diệu gần như những đạo vị, được hóa thân tự tại, dù có quay cuồng trong nghiệt ngã… Vũ Hữu Định là một con ngựa bạch lãng bạt phiêu du dưới những giọt trăng vàng, đói hớp sương tạo dựng sự sung mãn cho khí thơ, hiện thành bất chợt luân lưu hòa nhập với từng đoạn đường trường sải vó qua truông.
(more…)

Trần Thị LaiHồng


Hai Bà Trưng – Tranh Võ Đình

Tự thuở hồng hoang, loài người đã tìm cách lưu lại sinh hoạt bằng ngôn ngữ tạo hình, qua những nét vẽ hoặc khắc trên vách đá hang động, thân cây, tảng đá, tấm gỗ, thanh tre … rồi tiến dần văn minh, đẽo gỗ, khắc phù điêu, tạc bia mộ, vẽ tranh, đúc gạch ngói, đúc tượng, đúc trống đồng …
(more…)

Đỗ Xuân Tê

Chẳng phải ngẫu nhiên cách đây hai mươi năm tôi chọn đọc tác phẩm của Phạm thị Hoài, một nhà văn trẻ, nữ giới, có học thức, sinh ra trong chiến tranh, viết văn trong thời bình, trùng hợp với thời trước và sau ‘mở cửa’. Những năm tháng này (86-92) là những năm tháng ‘ngàn năm một thuở’ cho văn nghệ sĩ khi chính tổng bí thư của đảng tuyên bố ‘cởi trói’, từ đấy nảy sinh những cây viết mang sức đột phá vượt khỏi tầm phong tỏa của dòng văn học chính thống Xã Hội Chủ Nghĩa, không hẳn chỉ mới về nội dung, lạ về ngôn từ, độc đáo trong phong cách thể hiện, mà còn chuyển tải những thông điệp cần ‘gióng lên’ trong tâm thức người đọc về một thời kỳ chuyển mình của đất nước sau chiến tranh.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Lê Thị Thu Tuyết (ảnh tư liệu tác giả)

Mang nặng hành trang phiêu bạt vào cõi lãng du của thế giới văn nghệ, chắc hẳn người nghệ sĩ đã đặt nặng một dấu ấn nghiệp chướng trong vai trò sáng tạo đa mang. Tôi luôn luôn giật mình và tâm đắc với phát biểu của nhà thơ Hạc Thành Hoa, xem một người cầm bút tâm huyết với sự lựa chọn một vũ trụ quan nghệ thuật cho chính mình, là một định danh vào sổ đoạn trường. Thật sự, những khinh khoái  của người làm văn nghệ được tôn vinh như thế nào, sáng tác bộc phá có làm cho sự góp mặt với nghệ thuật thay đổi được chân thiện mỹ cuộc sống? Nhưng tất cả say mê như dâng hiến, đã làm rõ ràng một ước vọng hoàn thiện cho tương lai, đến ngôn ngữ dù còn quá hạn hẹp trong trình diễn được hiện diện bằng tất cả tâm huyết, còn chút suy nghĩ lãng du của người phê bình ngoài cuộc. Cái say mê trong sáng tạo, đã lập dựng một thế giới riêng tư cho tâm hướng trong lành của nghệ sĩ. Một thế giới chắc còn nhiều suy nghĩ về dự phóng vĩnh cửu còn nằm khuất trong một con đường trước mặt mù mờ và khá gay go. Nhưng cây bút của kẻ sáng tạo, vẫn hình dung viễn tượng và kẻ vạch cho mình một hướng đi ngang trời, bằng những tạo dựng phi thường của nghệ thuật và sáng tạo.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Tiền thân của Ngôn ngữ học (Linguistique) là Văn phạm (Grammaire) do người Hy Lạp khai trương và người Pháp tiếp nối.

Thế kỷ 17, các nhà tu dòng Dương thân (Janséniste) ở Port Royal[1] soạn hai cuốn sách cơ bản:

1- Grammaire générale et raisonnée (Văn phạm tổng quát và có suy luận)[2], tìm cách giải thích (kèm theo những kiến giải lịch sử) và cho thí dụ về sự thành lập một tiếng và cách xây dựng (construction) và ngữ điệu (tournure) của một câu.

2- Logique ou Art de penser (Luận lý hay Nghệ thuật suy tưởng)[3], áp dụng luận lý học Descartes vào việc phân tích ngôn ngữ.
(more…)

Mang Viên Long

Cách đây hai năm, trong một lần phone về thăm, nhà thơ Hoàng Lộc có nói ý định, đang chuẩn bị “ý tưởng” cần thiết cho tập thơ thứ 4 của anh. Dịp này, anh cũng cho biết sẽ chọn lại trong hơn 500 bài thơ đã viết trước và sau 75 – ở quê nhà hay lúc tha hương, và chỉ lấy khoàng 100 bài cho tập thơ tình này. Nghe tin vui – tôi đã luôn động viên, nhắc nhở HL là nên có một tập thơ sau hơn 12 năm ( tập “ Qua Mấy Trời Sương Mưa xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1999) để ghi dấu kỷ niệm một chằng đường dài sống gắn bó với Thơ!
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng
Viết để tưởng niệm nhà thơ bất hạnh quá cố


Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992) – Tranh Đinh Cường

Sau ngày 30-4-1975, thời gian còn kẹt lại ở Việt Nam, Nguyễn Tất Nhiên đã sinh sống ra sao ? Tôi nào có biết. Lo lắng cho số phận mình chưa xong, tôi đâu có thì giờ quan tâm đến chuyện người khác, nhất là giữa anh và tôi chẳng có một mối liên hệ thân tình nào. Mãi sau này tôi mới biết anh đã vượt biên trốn khỏi Việt Nam vào năm 1978. Thời gian ba năm kẹt lại ở Việt Nam anh có phải đi cải tạo như tôi, hay may mắn không thuộc diện phải ra trình diện học tập ? Nhưng dẫu có thế nào chăng nữa, tôi cũng phỏng đoán là anh không thể thích nghi với khung cảnh sống đột ngột đổi mới này. Bản chất con người thơ chân phương, chắc chắn anh cảm thấy bị chết ngộp trong cuộc sống khuôn đúc chỉ đòi rập ra một loại tình cảm đơn điệu. Làm sao anh tìm ra được cảm hứng trước cảnh người người buộc phải đeo mặt nạ để làm bộ nhảy múa reo mừng. Bởi vậy bất chấp gian nan hiểm nghèo, anh quyết định tìm đường ra đi. Anh tìm đường ra đi do thôi thúc của hồn thơ sáng tạo, như cánh én tìm về phương nam nắng ấm theo tiếng gọi của bản năng. Phương nam, với anh, là không khí tự do trong lành, điều kiện phát triển hồn thơ anh. Và ước mơ của anh trở thành hiện thực : Sau bao gian nan trắc trở, cuối cùng anh được đặt chân lên đất Pháp, quốc gia đầu tiên tiếp nhận anh là dân tị nạn.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhạc sĩ Phạm Nguyên Lộc

Những giọt nắng lạ thường, nhễu xuống khung đời và vô tình đọng lại, hóa thân thành những trường canh, bay nhảy suốt quãng đời thanh niên đầy vọng ước, và mặc nhiên cùng người nghệ sĩ xuôi ngược đằng đẵng suốt nẻo đời lãng bạt phong trần. Gió có thổi qua, hạt bụi nào còn vương trên mái tóc, và hoa có nở âm thầm trên mọi nẻo đường đi,  thì tâm thức của chàng trai vẫn vang vọng đầy ắp những thần khí mà nghệ thuật vẫn tháng năm chan hòa sinh hóa với cơn mê… Thật vậy, sự ảo diệu trên hướng tới của thi ca, của âm nhạc vẫn cuốn hút, gắn chặt vào định số của Phạm Nguyên Lộc, như một nhu cầu không thể tách rời khỏi tử sinh đời người. Năm Phạm Nguyên Lộc tuổi vừa lên 18, một vóc dáng phiêu bồng lãng tử với mái tóc dày cuốn quýt như gói trọn thần sắc, trong ngần của thời niên thiếu. Tài hoa bộc phát, hình như không đợi thời gian để tôi luyện tiềm năng, phát tiết nhất thời dũng mãnh, lắng đọng từ tiền kiếp. Người nghệ sĩ vừa hóa thân trở lại nhân gian, đã đeo gọn hành trang trên đôi vai bước vội qua ngưỡng cửa sinh phù, một cách mặc khải.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Thế kỷ XX là thế kỷ của ngữ học và phê bình. Với sự phát triển của ngữ học, phê bình thật sự đã có những bước tiến đáng kể. Người phê bình không chỉ còn giữa địa vị bình văn theo chủ quan cảm nhận mà còn tiến tới sự kiến giải và bình chú cấu trúc ngôn ngữ, tìm hiểu những ý nghiã, những biểu tượng nằm sau ngôn ngữ, tìm hiểu tác dụng của văn thơ trong xã hội và lịch sử, vv… Một mặt khác, văn học hiện đại đã tách rời khuôn khổ cổ điển, nghiã là kể một truyện có đầu có đuôi, mà bước vào những kết hợp hoàn toàn khác: truyện không có chuyện; pha trộn tưởng tượng và thực tế; đảo lộn trật tự thời gian; tìm đến cái phi thực và phi lý; đi vào địa hạt không tưởng… Đứng trước những tác phẩm như thế, phê bình cổ điển đành phải bó tay, một con đường khác mở ra: trong việc khảo sát văn bản, nhà phê bình không chỉ khám phá bản chất văn chương, tư tưởng chứa đựng trong tác phẩm mà còn phải dựng lại cả cái sườn cấu trúc văn chương tư tưởng của tác giả trong suốt hành trình sáng tác.
(more…)

Lê Ngọc Trác


Nhà thơ Trần Ngọc Hưởng

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, tôi đã đọc được thơ của Trần Ngọc Hưởng trên các báo, tạp chí văn học của miền Nam. Thế rồi, mãi đến 50 năm sau, tôi mới có dịp đọc được nhiều thơ của Trần Ngọc Hưởng. Những bài thơ của một tâm hồn đôn hậu, đầy ắp tình cảm vẫn còn nguyên trinh sự yêu mến trong tôi như thưở ban đầu ngày xưa đã từng đọc thơ anh.
(more…)

Thụy Khuê


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Phê bình là một trong những sinh hoạt hàng ngày của đời sống, là một phản xạ trước mỗi lựa chọn, mỗi hành động. Xuất phát từ ý thức bản thân: khi nghe một lời nói, một bản tin, một bài diễn văn, xem một cuốn phim, đọc một cuốn sách… phản xạ phê bình luôn luôn hiện diện, “nó” âm thầm “làm việc” trong đầu, chỉ cho ta biết điều này nghe được, điều kia ngụy biện, đoạn văn này dí dỏm, bức tranh này xấu, bản nhạc kia hay, v.v…

Mặc nhiên, ý thức phê bình tiềm ẩn trong óc, nếu muốn lộ diện bằng lời nói hay trên văn bản, “nó” phải “có gan” vượt qua thử thách từ môi trường gia đình đến môi trường xã hội.
(more…)