Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Ngô Nguyên Nghiễm


Họa sĩ Rừng / nhà văn Kinh Dương Vương

Bước vào không phận nghệ thuật, người nghệ sĩ đã hóa thân cùng cực trên sự sáng hóa kỳ vĩ mà chính bản thân đã soi rọi bằng ánh lửa biểu tượng đã chọn. Nhưng với Rừng- Kinh Dương Vương, thật tình nhiều lúc nghiêng tâm để chiêm nghiệm và định danh hướng đi kỳ ảo, mảnh liệt đầy lửa của anh, tôi cũng chưa bao giờ phân biệt giữa một họa sĩ Rừng và một nhà văn Kinh Dương Vương. Bề dày, của hai nhánh rẽ trên con đường chung anh đi, lại là những hóa thân kỳ diệu tụ chung của một con người đa bản ngã. Sự ngồn ngộn tư tưởng, phát sinh từ tâm thức sáng tạo, có lúc như vạch ra từ hiện thực những bí ẩn cực đoan của nhu cầu sự sống và hình thể.  Cũng có lúc như quạt đỏ ngọn lửa, đưa tri thức lập dựng một thế giới cùng cực săn đuổi bản ngã. Nét kỳ diệu trong tác phẩm của Rừng – Kinh Dương Vương, đều bộc phá mãnh liệt dù trên văn chương hay hội họa…đã khiến cháy bỏng cả một vũ trụ quan được lập dựng, hiển hiện đặc thù riêng biệt, dù ở đó là ký ức nguyên sơ, hay một dự phóng tương lai của một phương trời tạo lập khai sinh… Tác phẩm của Rừng – Kinh Dương Vương, đặt nặng một nhân bản sáng hóa thật bộc phá, hầu như tất cả nhào lộn trên ngọn lửa hóa sinh lập dựng một sinh thái đa dạng, mà ngôn ngữ chỉ là một cách diễn đạt sâu lắng của ý tưởng.
(more…)

Phạm Ngọc Thái


Thi sĩ Hàn Mặc Tử (1912-1940)

Mùa xuân chín

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
– Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Hàn Mặc Tử

“Mùa xuân chín” được rút ra từ trong thơ điên của Hàn Mặc Tử (đề mục Hương Thơm). Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh có nhận xét bao quát về mảng Hương Thơm này như sau: “Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói”. Nhưng đã xem Mùa Xuân Chín ta thấy chẳng những thơ không điên, lòng thi nhân thanh tao, cõi hồn siêu thoát, tựa thể ông đang ngồi thụ cảnh thiên thai của bậc khách tiên sa. Mạch thơ cũng tách bạch ra khỏi hẳn cõi sao trăng, ảo tình sương khói ấy:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.

(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Trong phần hai của tiểu thuyết Une voix dans la nuit (Tiếng vọng trong đêm), Nguyễn Mạnh Tường dùng hình thức đối thoại để mô tả cuộc chiến một mất một còn giữa người cộng sản và người trí thức, qua các cuộc nói chuyện tay đôi giữa Năng và Tổng Bí Thư; giữa Hiên và Đắc; giữa luật sư Mạn và bác sĩ Xuân. Người đọc tinh ý sẽ nhận ra Hiên và Mạn là hình ảnh Nguyễn Mạnh Tường, Đắc là Nguyễn Hữu Đang, người đến mời Nguyễn Mạnh Tường tham gia phong trào NVGP, và Xuân chính là bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên, người được chánh án Châu (Đặng Châu Tuệ) mời vào đảng Xã Hội cùng một lúc với Nguyễn Mạnh Tường. Tổng Bí Thư xuất hiện hai lần trong tiểu thuyết, lần đầu sau khi hoàn tất chiến dịch Cải cách ruộng đất [trên thực tế, trước tháng 10/1956, Trường Chinh làm Tổng Bí Thư, từ tháng 10/1956 đến tháng 9/1960, Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch kiêm Tổng Bí Thư] và lần thứ nhì, khi Đảng quyết định làm đám ma cho hai đảng Xã hội và Dân chủ [1] lúc đó Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí Thư.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Trúc Thanh Tâm

Gần 20 năm trước, Châu đốc đón nhận thêm một nhà thơ lãng du bước vào địa phận của vùng khí thiêng sông núi Thất Sơn. Hành trang phiêu bạt chỉ là một túi thơ, gói gọn những ước mơ tuổi trẻ. Trúc Thanh Tâm có những cái hay như những người làm văn nghệ miền sông nước, là sự phiêu lãng, an nhiên, không xem danh vọng như một điều tối cần thiết trên bước đường đi – về. Dù rằng, Trúc Thanh Tâm cũng có một bề dầy quá trình cật lực với văn nghệ, anh bước đến nghệ thuật thật sớm, vững chãi trên bước thơ đi. Làm thơ từ lúc còn tuổi thiếu niên, một lớp tuổi học trò 15 – 16 ôm tràn đầy ảo mộng tình yêu trinh nguyên và trong sáng.
(more…)

Phan Tấn Hải

Viện Việt Học California vừa xuất bản tập truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Văn Sâm, người nổi tiếng về nhiều công trình nghiên cứu văn học nhưng cũng là một nhà sáng tác văn học với giọng văn rất Nam Bộ trong kiểu riêng của ông.

Bạn đã từng đọc Hương Rừng Cà Mau của nhà văn quá cố Sơn Nam, và đã nhận ra một giọng văn độc đáo Nam Bộ trong đó đúng là có hương rừng Cà Mau. Nguyễn Văn Sâm cũng là giọng văn rất là Nam Bộ, nhưng những dòng chữ của ông lại là một cực khác với Sơn Nam.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Lý Thừa Nghiệp

Thời gian bước đi thần tốc với những biến dịch trọng đại suốt đời sống con người không ngờ trước dược. Thấm thoát, đã hơn 30 năm đằng đẵng trôi qua, đến giữa mùa thu 2005, tôi mới diện kiến lại nhà thơ Trầm Mặc Nghệ Thế. Mọi sự thay đổi chóng vánh, trước thế sự, trước tâm linh, làm ngơ ngác bước đi của bao nhiêu tâm thức, dù đã được định vị trong sự khai nguyên của đức tin và trầm lặng đời người. Tôi mang trong trí nhớ, nhân dáng lãng bạt đầy trực tính của một nhà thơ đồng bằng Nam bộ này.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Thi sĩ Trần Kiêu Bạt (1948-2005)

Dòng sông Hậu chảy vắt ngang một ngôi nhà cổ, mái lợp âm dương đầy nét cổ kính của miền đồng bằng sông nước Nam bộ. Nhiều lần trong đời, tôi có dịp lưu trú và hòa mình trên nếp sống  nơi này, như bao nhiêu sự thân quen kỳ cựu từ tiền kiếp vọng về. Cái đến thật nhẹ nhàng nhưng mang  tất cả tâm hồn, chan hòa trong tình nghĩa của gia đình, cái ở lai hòa mình trong những thân thuộc máu thịt mà ngỡ rằng tổ ấm là đây, và khi ra đi những lời nhắn nhủ chân thật, và tình thương làm nhung nhớ lạ lùng, nhiều khi làm chùn chân bước. Nhà Trần Kiêu Bạt có một sinh khí hiền nhân kỳ là vương vải đầy ắp tình người, mà kẻ đến như con cháu ở xa về, người đi lòng lại u hoài một nẻo nhớ nhung. Tất cả,  gia đình nhân hậu từ song thân đến đàn em tài hoa lịch lãm, chan hòa đầy phương cách sống của những tâm hồn tri kỷ Đông phương.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Trong buổi nói chuyện trên RFI tháng 9/1995, trả lời câu hỏi: Từ sự đoàn kết dân tộc thời toàn quốc kháng chiến 1946, đến thời kỳ phân hoá chia rẽ dân tộc chỉ có 10 năm. Tại sao? Nguyễn Hữu Đang giải thích:

“Có thể hiểu việc đó như thế này: Ngay trong cương lĩnh của đảng Cộng sản Đông Dương cũng ghi rõ là làm Cách mạng để tiến tới Cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cho nên 10 năm sau, nhất định nước Việt Nam phải tiến lên Chủ nghĩa xã hội và muốn tiến lên Chủ nghĩa xã hội thì phải tiến hành Đấu tranh giai cấp, phải xóa bỏ địa vị, quyền lợi của hai giai cấp bóc lột là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản. Trước kia đoàn kết Mặt trận giải phóng dân tộc, giờ đây phải Đấu tranh giai cấp để tiến tới Chủ nghĩa xã hội. Trong Đấu tranh giai cấp như thế thì quyết liệt lắm, có ảnh hưởng chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao Trạch Đông là quá tả, rất ác liệt, (…) Chúng tôi chống, là chống cái chủ nghĩa Staline và chống chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa Mao Trạch Đông đưa đến nhiều hiện tượng -nói là chuyên chính thì chưa đủ- phải nói là cực quyền toàn trị, nó gay gắt ghê lắm. Nó gay gắt ghê lắm! Ðảng Cộng Sản đã phạm sai lầm trong Cải cách ruộng đất, rồi thì Chỉnh huấn, Chấn chỉnh tổ chức, Ðăng ký hộ khẩu v.v… Tất cả những cái đó đều do những cái quá tả, từ phương Bắc nó xâm nhập vào, chứ không phải chờ đến bây giờ nó mới đem cái tả khuynh hữu trí vào nước Việt Nam. Cái thời mà cụ Hồ chưa về nước và ông Trần Phú làm Tổng bí thư, thì làm cái cuộc gọi là Xô Viết Nghệ Tĩnh, đưa ra cái khẩu hiện rất quái gở tức là “Trí, phú, địa, hào đánh tận gốc, trốc tận rễ”. Nó quá tả như thế thì còn làm sao giành được độc lập! Như thế là chia rẽ dân tộc”.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Thi sĩ Hư Vô

Đi vào cõi thơ Hư Vô như một cuộc du hành chiêm nghiệm đầy tình cờ, giống như suốt bao nhiêu năm tháng qua, sự tò mò đã giúp tôi tìm đọc và phân tích tính thơ của các bằng hữu. Hôm đọc tạp bút của nhà văn Toại Khanh, về điện thư chủ đề Vàng Em Áo Hạ, kèm theo file video thơ Hư Vô, nhạc Phạm Quang Ngọc, nhận định của ông, khiến tôi thật sự tâm đắc về nét nhìn thoáng rộng và sâu sắc của hai người bạn văn nghệ chưa hề quen biết hay gặp mặt nhau một lần. Ngôn ngữ mà nhà văn Toại Khanh ghi nhận về thơ Hư Vô có một góc cạnh tinh khôi, mà ông cho là mới lạ… theo tinh thần Phật pháp. Quả nhiên, rải rác trong dòng thơ tình của nhà thơ Hư Vô, sự tinh khiết chìm đắm trong ngôn ngữ kỳ diệu một con tim, tạm gọi là kinh tình yêu… Lật lại từng trang sách ẩn hiện dòng thi ca đầy ảo hóa của nhà thơ, hầu như tâm thức anh đi thẳng vào một đề tài muôn thuở. Thời gian xa xưa trôi qua cuộc hóa thân trên ngôn từ, chiêu niệm cho một thời áo trắng tàn phai theo năm tháng. Anh ngược dòng nắm bắt lại những hình tượng mơ hồ còn đọng lại trong kỷ niệm: Hình ảnh tinh khôi của tình yêu muôn đời vĩnh cửu, trải dài trên bước đường phiêu lãng mà Hư Vô đang ngược chiều trở lại quá khứ. Ôm những vầng nhật nguyệt bay quanh những ngày tình, những ngày còn vang đầy tiếng guốc mộc, trên mê lộ phố xưa, vẫn còn nghe lạ lẫm mùi hương trải vô biên xuống tiệc đời…
(more…)

Phan Tấn Hải

Sau những dòng cuối của cuốn tiểu thuyết ‘Xe Lên Xe Xuống’ của tác giả Nguyễn Bình Phương in và phát hành vào tháng 12-2011 bởi nhà xuất bản Diễn Đàn Thế Kỷ, nhà bình luận Thụy Khuê trong bài phê bình văn học nhan đề ‘Bản Chúc Thư Trên Đỉnh Tà Vần’ đã có nhận xét như sau:

“Cách đây hơn 20 năm, Bảo Ninh mô tả chiến tranh như một bộ máy nghiền nát tất cả, trừ tình yêu.

Nguyễn Bình Phương tiến thêm một bậc: chiến tranh nghiền nát cả tình yêu chỉ để lại tội ác, không cho con người một hy vọng nào. Bình Phương chiếu ống kính vào tội ác của một dân tộc được giáo huấn thường trực trong các bài học chiến thắng và anh hùng, mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. Chiếu vào hậu quả của các chiến thắng từ thời Lý, thời Tây Sơn-Gia Long, đến thời Cách Mạng-Thổ Phỉ, cuộc chiến Việt-Trung… Văn hoá chặt đã thấm vào máu, nằm trong mâm cơm: dân ta mải chặt mà quên sống. Vùng đất biên giới anh hùng nằm trên những xác ngưòi, chỉ tạo nên những hệ gia đình thui chột như gia đình Hiếu: Ông ngoại trùm phỉ bị chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh chiến sĩ đánh Tàu, chết vì điên, bị chuột gặm mắt và hai cánh mũi; em trùm phỉ hiện đại, bị phục kích chết ở đỉnh Tà Vần…

Sự giáo dục chiến thắng chỉ tạo nên những thánh, nhưng “không một bà mẹ nào muốn con là thánh”. Nền tảng đầu tiên của con người là gia đình đã bị hủy diệt. Hệ thống mây ngũ sắc chụp lên toàn lãnh thổ, khiến con người không thoát ra được vòng phong toả để tìm đến một chân trời mới. Thế hệ thanh niên, ngụp lặn trong vùng đấtthánh, gây tội ác, bị rình rập, chạy lên đỉnh, bị sập lưới, đẩy xuống vực sâu. Họ chưa từng ý thức được thế nào là tội ác, trước khi lìa đời.” (hết trích)
(more…)

Vũ Trọng Quang

Đa phần thơ tập hợp vào Viết trong bóng tối. Amen (*) đã xuất hiện trên các mạng văn chương: tienve, vanchuongviet, damau, litviet; bây giờ văn bản hiện hữu trên Giấy Vụn chứng tỏ một thái độ, minh chứng ngoài luồng, ngoài thuồng luồng kinh kỳ, ngoài hệ thống gọi tên chính thống, mà chính thống để làm gì, để được nằm trong khuôn khổ trói buộc à ? Thái độ viết trong bóng tối là thái độ từ vị trí tọa độ âm u nơi mở đường cho chùm ánh sáng chiếu thẳng tới, không có sự từ từ rón rén mò mẫm mà mạnh dạn lao đến, đi mãi, có thể ngừng một chút ở giao lộ, vận động hành trình ánh sáng tiếp tục. Hai âm Amen thiêng liêng vừa là tiếng đồng vọng thánh ca chấm câu vừa là tiếng âm vang bắt đầu gieo mở; như tiếng thơ Lê Thánh Thư vang cường độ decibel qua màng nhĩ tai lừa: lừa mị, lừa lọc, điếc lừa…; mở trang sách mở ra cánh cửa dành cho sự đồng cảm, không cài then, nhưng không phải ai cũng mở được nếu không có password tâm hồn tâm trạng (Biết đâu có bàn tay nhám nhúa luồng tay vào trong khóa lại!).
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Đặng Kim Côn

Bước vào thế giới sáng tạo của Đặng Kim Côn, nét nhìn chân thật nhất, là sự bộc phát trong ngần trong tư tưởng sáng hóa, nếu không muốn nói có một sự mãnh liệt của tâm và ý hòa quyện với tri thức cần mẫn, tạo dựng một khuôn hình riêng biệt không lẫn vào các khuynh hướng sáng tác của các tác giả khác. Sự chuẩn mực trên ý hướng,  hóa hiện trong tác phẩm, là những ý thức chân thực, nhiều lúc có vẻ bạch hóa ngôn ngữ, khiến thơ văn anh có nét hài hòa của một khóm hoa hướng dương, vàng rực trước tia sáng chiêu dương… Quả thật, cái chân thật được dàn trải trong sáng tác Đặng Kim Côn, không che đậy một ý niệm, bắt chộp những kỷ vãng ngưng đọng lại, giải bày và như một cuộc tình cờ soi rọi xuống chân phương, huyền hóa những tư hướng quan hoài còn đọng sâu thẳm trên dung nhan. Dù thời gian thanh thoát trôi đi, những cái có – không chỉ là những phôi pha, dần dần tan chảy trước khí hậu của đời sống. Nhưng với Đặng Kim Côn, sự nắm bắt ý thức dừng lại và hóa hiện trên tư hướng sáng tạo, cực kỳ thông thái mà vẫn giữ được sự thật của một tâm hồn nghệ sĩ, không thay đổi để làm lệch biến dịch của thiên cổ. Khi tôi đọc ý kiến của Du Tử Lê, về tính định đề trong thơ Đặng Kim Côn, sự thật chưa thấm sâu vào ý hướng mà nhà thơ Du Tử Lê bóc trần trên thể xác thơ Đặng Kim Côn. Vì có lẽ, anh Du Tử Lê nạp đề không phải riêng cho người bạn thơ mình, mà diễn dịch hầu như cho tất cả ý nghĩ được dàn trải trên tư thức cho mọi khuynh hướng thơ khác. Theo Du Tử Lê, là câu thơ tự thân thơ vượt qua được bản chất xóa bỏ không ngưng nghỉ, rất cần mẫn với thời gian!… Anh dùng chữ lạ sẩy chân cho câu thơ trong cõi giới thi ca, thật ra là một cách diễn giải trên quan điểm tư thân, nó tự nhiên hiện ra, như khí trời, như mưa nắng. Chính chữ sẩy chân đã làm đắc địa thêm cho thơ Đặng Kim Côn, vì sự sáng tạo ngôn từ nhiều khi phải kéo dài bao nhiêu đoạn đường năm tháng, để hình thành một chữ hanh thông. Nó vừa như một định mệnh, vừa đánh dấu được mầm móng khai sinh của một hóa hiện trên cõi đời này, mặc nhiên, không định trước được, mà cái có – không trong vũ trụ này, hay cái sáng tạo của người nghệ sĩ, hình như đột biến từ mầm móng bí tử, được hoàn chỉnh từ ADN trên những vòng xoắn định vị cho một hình hài. Hình hài đó là thi ca, cũng có thể là cái khác, nhưng tụ chung những vật chất hữu cơ không thể đi từ chuyển biến của vụn vặt, mà hóa thành. Hóa thành từ bản chất vô ngã, tượng hình theo cơ duyên nghiệp lực, hiển hiện phong phú hình hài thơ, theo từng cấp bậc vô niệm trong lành của nhà thơ…
(more…)

Đàm Trung Pháp

Tôi quen biết tác giả Nguyễn Văn Sâm của tập truyện Quê Hương Vụn Vỡ từ nhiều năm nay. Phải thưa điều này ra ngay với quý bạn đọc vì tôi tâm đắc lời tâm sự dưới đây của thi sĩ Bàng Bá Lân trong trang mở đầu cuốn sách Kỷ Niệm Văn Thi Sĩ Hiện Đại của ông, xuất bản năm 1962 tại thủ đô miền Nam nước Việt:

“Nhiều lúc ngâm đọc những bài thơ, đoạn văn ưa thích, tôi [Bàng Bá Lân] thường tự hỏi: Không biết tác giả có thích như mình không? Đây có phải bài thơ, đoạn văn mà tác giả ưng ý nhất không? Và nếu không thì là bài thơ nào, đoạn văn nào? … Ý nghĩ ấy cứ ám ảnh tôi hoài, nhất là những khi tôi đọc những bài phê bình văn học hoặc chính tôi phải làm việc bình giảng văn thơ. Mắt nhìn những dòng chữ nhảy nhót mà lòng tôi thắc mắc hoang mang. Tôi hoài nghi tự hỏi: Có thật tác giả có tư tưởng này, có dụng ý kia, có tâm sự nọ? Hay tất cả chỉ là võ đoán? Rồi sự thắc mắc trên đưa tới kết luận này: Muốn phê bình thật đúng một nhà thơ, nhà văn nào, phải quen biết nhà thơ, nhà văn ấy!
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà thơ Âu Thị Phục An

Chui ra từ nẻo càn khôn hiu quạnh, hình ảnh mặc khải đầy vẻ hoang vu của bước đầu đi vào cửa ngõ luân hồi, để chập chững đứng lên trong một quá trình làm người. Nẻo đi trước mặt chưa có một định hướng, và suốt con đường hóa sinh còn vấp phải bao nhiêu lớp cát bụi ngăn cách tâm thức, đâu dễ tạo dựng hoàn mỹ hình tượng vững chãi cho kiếp người. Nguyên lý hầu như bất di bất dịch, suốt mấy ngàn năm mà ý thức con người vẫn trần trụi hoang sơ giữa vũ trụ thiên nhiên. Nhà thơ Âu Thị Phục An bày tỏ sự có mặt bản thể,  bằng câu thơ chui ra từ một nẻo càn khôn hiu quạnh,  lập dựng bối cảnh sân khấu lộ thiên hoang dại, thần bí cho một kiếp hóa sinh. Quá khứ từ đâu hiện hữu, ôm một tiền căn không rõ rệt, mông lung mờ mịt từ cõi vô hạn nào, hiu quạnh xuất hiện như một định kiếp. Giữa mênh mông lẻ loi hóa hiện như giọt tinh quang rơi rụng, từ kẽ hở của một đêm trăng, của đêm Nguyệt Thực. Thơ Phục An, nhiều lúc có nét sáng hóa kỳ quái và huyền bí như vậy, tạo dựng một khuynh hướng thi ca có nét sống mãnh liệt, đầy dương tính, pha trộn ý thức hóa sinh đầy rẫy hơi thở tiềm phục. Mở ngõ tử sinh cho gió bốn phương tràn ngập, mang âm sắc thinh lặng ngàn xưa lang thang về cõi sống… Mê đắm trong từng nét thở dài, mà vẽ lên bóng chiều xưa, sức sống tinh khôi cựa mình chồm lên cơn đau lạnh lẽo từ năm tháng nào. Vang dội thanh âm khát khao, kỳ vọng tụ hình, phá chấp và lập dựng, trong nẻo đời hư tạm là sự tự do trên cõi đi – về. Mặc ảo ảnh phù du phủ kín kiếp người lẻ loi, mặc lối du hành đang hủy diệt hay không hề tồn tại, người kỵ sĩ vẫn cỡi ngựa đen điên cuồng / chạy ngược tìm bóng… Thơ Phục An đầy rẫy những hình ảnh lập dựng sáng hóa một cách kỳ diệu, tức khắc giữa từng hơi thở, dù bình thản hay đang chơi vơi… Sự nắm bắt dòng thơ, không thể dễ dàng, vì sự đột biến trong thơ Âu Thị Phục An, nhiều lúc hóa hiện một cách kỳ lạ, giữa đạo và đời không tách biệt, hòa nắn nhào trộn tạo thành một sinh khí diệu hoặc, đầy hình tượng lập dựng một thế giới ảo giác, khác nẻo thường hằng: Phất lá cờ màu trắng / Đi trong im thinh… cái âm tính phục trang rõ ràng trong tiềm thức, thì tức khắc Cơn mơ tái sinh giục / ngày bừng lên hơi thở… hai dòng thơ chỉ cách nhau một câu chuyển hướng Phơi ngoài lồng ngực mở kế cận, để xuống hàng đầy nét phục sinh. Chính vậy, sự bay nhảy trong không gian sáng tạo của nhà thơ, hình như sự trộn lẫn tư thức và định mệnh thành một khối hoa cương ép chặt từng phẩn tử li ti, không thể phân chia. Dù trong đó, còn nhiều tư tưởng đối lập phải sống chung sinh tử cùng nhau, một loài thực vật thượng đẳng và một loài cộng sinh cần thiết trong một thế giới thai sinh bất khả kháng không thể tách rời, để tạo lập một vũ trụ riêng mình.
(more…)

Đàm Trung Pháp


Thiếu nữ, chim và hoa hồng – Dương Tuấn Kiệt

Tài liệu giáo khoa tại các quốc gia sử dụng tiếng Anh phân biệt hai phương cách ví von trong ngôn ngữ. Cách thứ nhất là sự ví von gián tiếp giữa hai yếu tố qua môi giới của các chữ hoặc nhóm chữ dùng để so sánh như like, as, than, seem, similar to. Cách ví von gián tiếp này được mệnh danh là simile (ví von). Cách thứ hai so sánh trực tiếp, không cần môi giới chi cả, mang tên là metaphor (ẩn dụ). Theo các định nghĩa này, câu thơ dưới đây của Robert Burns là một ví von:

O my love’s like a red, red rose!

Ôi, người yêu tôi như một bông hồng thật đỏ!
(more…)

Lê Thương

Khi đề cập đến phụ nữ Việt Nam, ai ai cũng đều thừa nhận rằng từ ngàn xưa cho đến nay họ là những người đàn bà dịu hiền, thùy mị, đoan trang, đảm đang, trung trinh tiết hạnh, giàu lòng hy sinh. Trong gia đình thì hiếu thảo với cha mẹ, tảo tần lo cho chồng con, ra ngoài là những bậc anh thư liệt nữ. Chính những đức tính đẹp nầy đã nâng cao phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam:

Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh,
Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm.
Ra ngoài giúp nước, giúp non,
Về nhà tận tụy chồng con một lòng.
(more…)

Phạm Thị Nhung


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

Tình yêu là một nguồn thi hứng vô tận của loài người, bất luận ở phương trời nào và ở thời điểm nào. Chẳng thế ông cha chúng ta, từ thuở xa xưa, khi chưa có chữ viết đã biết bày tỏ tình yêu qua những câu ca dao truyền khẩu, tuy đơn sơ nhưng đã vô cùng thơ mộng và thắm thiết như:

Một yêu là sự đã liều
Mưa mai cũng chịu, nắng chiều cũng cam.

hay:
Tóc mai sợi vắn sợi dài,
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm
.

Trong văn chương bác học của chúng ta cũng không thiếu những bài thơ tình diễm tuyệt, như những bài thơ tình của Nguyễn Trãi, Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Dực Tông, nhưng dù sao phải đợi đến giữa thế kỷ XX, khi phong trào thơ văn lãng mạn ở nước ta bộc phát và lên cao, trong khoảng thời gian 1925-1943, thơ mới chiếm ưu thế trên thi đàn, thơ tình yêu mới thực sự trăm hoa đua nở.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Dự các hội nghị quốc tế

Mặc dù đã từ chối vào Đảng và luôn giữ khoảng cách với chính quyền, nhưng Đảng vẫn phải nhờ Nguyễn Mạnh Tường trong việc đối ngoại, bởi khó tìm được người có đủ khả năng thay thế: Ông được cử đi dự ba Hội nghị quốc tế vì tài hùng biện.

Về Hội nghị Bắc Kinh, 1952, hiện không có tài liệu.

Về Hội nghị Vienne, cuối 1952, đầu 1953, Boudarel phân tích khá kỹ:

“Năm 1952, vì vì nhu cầu tuyên truyền và viễn ảnh những thương lượng mới về Đông Dương đi đôi với vấn đề Triều Tiên đang thảo luận, người ta đã lôi Tường trong nhà tù bóng tối ra ánh sáng. Ông được gọi đi Vienne dự Hội nghị các dân tộc, do Phong trào hoà bình thế giới ảnh hưởng Liên Xô, tổ chức. Một lần nữa, ông lại làm phát ngôn viên khôn khéo và hùng biện cho chính phủ Hồ Chí Minh, dù ông không chia sẻ mọi quan điểm, nhưng đối với ông, chính phủ này, trước hết, bảo đảm nền độc lập.
(more…)

Nguyễn Ước


Oil painting of Gibran by Yusef Hoyiek, 1908.

I. Đôi nét tiểu sử

Kahlil Gibran là tiểu thuyết gia, họa sĩ, thi sĩ tâm linh với cung giọng ngôn sứ và triết gia theo chủ nghĩa hiện sinh hữu thần. Ông sinh năm 1883 tại làng Bsharri, thuộc vùng núi Miền Bắc Li-băng (Lebanon) vào thời xứ sở ấy còn là một phần của Syria, chịu sự đô hộ khắc nghiệt của Đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ. Nằm sát phía bắc vùng hoạt động chính của Đức Giêsu là Ga-li-lê, mảnh đất Li-băng tuy nhỏ nhưng vang danh với những người con nổi tiếng từ buổi bình minh của nền văn minh. Tuyết nghìn năm phủ trên đỉnh núi và mùa xuân xanh thắm của Li-băng tạo cảm hứng cho vô số văn thi sĩ Kitô giáo.
(more…)

Phạm Cao Dương


Tượng Vua Quang Trung tại viện Bảo tàng Quang Trung, thành phố Quy Nhơn

Như một hiện tượng bất ngờ của lịch sử, trong những tháng cuối hè, đầu thu năm 2011, những biến cố liên hệ tới việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trước nạn xâm lấn của người Tàu đã đồng loạt và liên tiếp xẩy ra không riêng ở trong nước mà luôn cả ở Hải Ngoại và rộng hơn nữa là ở khắp nơi có ngưòi Việt cư ngụ. Biển Đông cùng với các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở ngoài khơi, các cao điểm ở biên giới phía bắc, trên đất liền, các khu rừng đầu nguồn, Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, các khu kỹ nghệ mới do người Tàu trúng thầu xây dựng dọc theo lãnh thổ của quốc gia với hàng chục ngàn, có thể tới hàng trăm ngàn và hơn nữa nhân công họ mang từ Trung Quốc sang đã trở thành đề tài cho các cuộc biểu tình tranh đấu, các cuộc thảo luận hay phản đối chính sách của nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội cùng đối tác của họ là Trung Hoa Cộng Sản. Công hàm mang tên và chữ ký của ông Phạm Văn Đồng, người đã nắm chức thủ tướng trong chính quyền Cộng Sản Việt Nam lâu nhất trong lịch sử, đã trở thành trọng tâm của sinh hoạt báo chí và truyền thông cũng như các cuộc tranh luận của không riêng người Việt mà còn cả quốc tế nữa. Tội danh bị coi như là bán nước của ông thủ tướng họ Phạm và những kẻ đồng lõa với ông cũng như Đảng Cộng Sản Việt Nam sau một thời gian dài được giấu kín, đến thời điểm này đã được những người liên hệ thú nhận và vụng về bào chữa. Trong ít ra là mười tuần lễ Hà Nội và Saigon với những cuộc biểu tình của ngưòi dân thuộc đủ mọi thành phần, đặc biệt là của những nhà trí thức và những chuyên viên hàng đầu của chế độ đã trở thành hai trung tâm được người Việt từ mọi nơi hướng về và được giới quan sát quốc tế hàng ngày theo dõi.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Richard Lederer là một nhà giáo ngôn ngữ  nổi tiếng và giàu có, nhờ vào biệt tài nhìn ra những điều vô tình hóa ra nực cười trong tiếng Mỹ rồi viết  về chúng trong ba cuốn sách duyên dáng mua vui cho thiên hạ, bán chạy như tôm tươi. Đó là các cuốn Anguished English (1987), Crazy English (1989), và Fractured English (1996).
(more…)

Phạm Ngọc Thái

“Nheo mắt nhìn thế giới” – NXB Văn học 2008, là một tập thơ có tiếng vang và hay nhất của Bằng Việt. Trong lời giới thiệu tập thơ, Ông đã viết:

Thơ đối với tôi (tức tác giả) không chỉ là thơ mà còn là một thái độ sống. Đã là một thái độ sống, thì bút pháp thể hiện cốt sao nói được hết điều mình cần nói, cần tỏ thái độ…

Một đoạn khác cũng lời giới thiệu ấy, Ông còn nhấn mạnh:

“Nheo mắt nhìn thế giới” – đầu đề tập thơ này thoạt nghe có vẻ hơi kênh kiệu, thậm chí có phần xấc lược! Nhưng đọc kỹ các bạn sẽ thấy, thực ra là một thái độ, một tâm trạng khá kìm nén, đến mức có phần nhẫn nhịn, lặng lẽ chiêm nghiệm, đôi khi chua chát, ngậm ngùi…
(more…)

Đàm Trung Pháp, PhD
Giáo sư ngữ học giáo dục
Texas Woman’s University


Tác giả Đàm Trung Pháp

Lai lịch bài viết này: Một buổi hội thảo giáo dục mang chủ đề “Academic success for all limited-English-proficient students” đã được Oklahoma State Department of Education tổ chức ngày 22-2-2002 tại University of Central Oklahoma. Được mời làm diễn giả chủ đề (Keynote speaker) khai mạc cuộc hội thảo, tác giả bài viết này đã đề cập đến một thực trạng có thể làm buồn lòng một số thính giả trong buổi hội thảo nhưng vẫn phải nói ra. Xin gửi đến bạn đọc bốn phương bản dịch sang tiếng Việt của bài thuyết trình đó.
(more…)

Thụy Khuê


Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Ngày 30/10/1956, Nguyễn Mạnh Tường diễn thuyết 6 tiếng trước Mặt Trận Tổ Quốc tại Hà Nội (3 giờ buổi sáng, 3 giờ buổi chiều) về những sai lầm trong cải cách ruộng đất. Trường Chinh, Xuân Thủy và Dương Bạch Mai yêu cầu ông viết lại nội dung cuộc nói chuyện ứng khẩu thành văn bản. Ông viết lại với tựa đề: “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạo”, đánh máy làm hai bản, trao cho Trường Chinh và Xuân Thuỷ, chỉ giữ lại bản nháp viết tay.
(more…)

Đàm Trung Pháp


Pablo Neruda (1904-1973)

Nhà thơ kiêm nhà ngoại giao nước Chí Lợi mang bút hiệu Pablo Neruda (1904-1973) đoạt giải Nobel văn chương năm 1971. Tên trên giấy khai sinh của ông là Neftali Ricardo Reyes Basoalto, nhưng từ năm 1946, bút hiệu Pablo Neruda đã được hợp thức hóa thành tên chính thức. Có thể nói Neruda là nhà thơ Nam Mỹ được thế giới biết đến nhiều nhất, và thi tập đầu tay của ông viết  năm 20 tuổi đã bán được trên một triệu cuốn và đã được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ từ đó đến nay.
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng
Traduttore, traditore (châm ngôn Ý)

Sáng 12-8-2011, khi vào trang Thư Viện Sáng Tạo trên máy vi tính tôi cảm thấy hứng khởi khi thấy giới thiệu ở ngay dòng đầu : “Người khách lạ (Truyện ngắn; Albert Camus; Võ Công Liêm chuyển ngữ)” và định bụng sẽ mở đọc liền. Hứng khởi, vì trước tình trạng sinh hoạt văn học Việt Nam hầu như dậm chân tại chỗ hiện nay, việc cho quảng bá một tác phẩm có giá trị văn học quốc tế của một nhà văn từng được giải thưởng Nobel tôi cho là một việc làm rất hữu ích và cần thiết. Thoat đọc cái tựa “Người khách lạ”, tôi nghĩ ngay tới nhân vật Meursault và cuốn “L’Etranger” (1942) của A.Camus. Nhưng chỉ sau mấy dòng đầu, tôi đã ngỡ ngàng vì không gặp mấy câu văn để đời nói lên thái độ dửng dưng, hầu như vô cảm của một đứa con có bà mẹ mới chết (mà tôi đã thuộc nằm lòng) : “Aujourd’hui maman est morte. Ou peut-être hier, je ne sais pas.»(Hôm nay mẹ mất. Mà cũng có thể là hôm qua, tôi không biết nữa). Rồi, chỉ cần đọc thêm không đầy nửa trang, tôi liền nhận ra đây là bản dịch truyện ngắn mang tựa đề « L’hôte » trong tập truyện « L’Exil et le Royaume » (1957). Tiếp tục đọc tới dòng cuối tôi mới biết người dịch đã không dựa trên nguyên tác, mà dịch lại theo một văn bản đã được dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Anh. Rút kinh nghiệm những lần gặp phải một số bản dịch không được dịch từ nguyên tác, mà lại dựa trên bản dịch lại bằng một ngôn ngữ khác, tôi vội đem đối chiếu bản dịch tiếng Việt với nguyên tác « L’hôte » của Camus trong tập « L’Exil et le Royaume » sẵn có. Và tôi đã phải thất vọng với những mong muốn hứng khởi ban đầu.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Mời ăn “rắn trong lỗ” hay sao đây?

Từ nhiều năm nay tôi thường có một số sinh viên quốc tế theo học chương trình  giáo dục ngôn ngữ  tôi phụ trách tại Texas Woman’s University. Cách nói và viết tiếng Anh khá đặc thù của họ đã kích thích tính tò mò của tôi và thúc đẩy tôi tìm hiểu thêm về những dạng thức khác nhau của tiếng Anh ngày nay trên thế giới. Đôi khi tôi thắc mắc và tự hỏi liệu những người nói tiếng Mỹ “tiêu chuẩn” như quý bạn và tôi có khó khăn gì không khi giao dịch với những người nói tiếng Anh loại này, chẳng hạn trong trường hợp giả dụ rất có thể xảy ra dưới đây?
(more…)

Đàm Trung Pháp

Trong thời Pháp thuộc, một nông dân Việt được mướn để làm vườn trong tư dinh viên công sứ người Pháp tại miền thượng du Bắc kỳ. Một hôm, một con hổ lọt hàng rào vào vườn, đạp nát các luống hoa, rồi lững thững trở về rừng. Buổi chiều khi viên công sứ về nhà, thấy những vết chân khổng lồ trên các luống hoa, ông không hiểu là trâu bò nhà ai đã dám cả gan vào tận tư dinh công sứ phá phách như thế. Người làm vườn giải thích cho chủ rõ là hổ đấy chứ chẳng phải trâu bò nào đâu, “Lúy tí ti dôn, tí ti noa, lúy gầm, lúy gừ, lúy măng-dê me xừ, lúy măng-dê cả moa” (Nó tí ti vàng, tí ti đen, nó gầm, nó gừ, nó xực ông, nó xực cả tôi). Vậy mà ông tây thuộc địa hiểu ngay, rồi há hốc miệng, vung tay lên trời và chỉ nói được hai chữ “Un tigre?” (Một con hổ à?) rồi té xỉu. Người làm vườn phải dìu ông chủ vào nhà và trong bụng mừng lắm, vì ông công sứ đầy quyền uy rõ ràng đã hiểu thứ tiếng Tây “giả cầy” của mình. Đó là thứ tiếng Tây sử dụng cú pháp và lối phát âm Việt, trong đó ngữ vựng của hai ngôn ngữ phứa phừa giao duyên.
(more…)

Thụy Khuê

Tuy không chính thức có vụ án Nam Phong, nhưng sau khi Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác bị xử tử năm 1945, tại miền Bắc, Nam Phong được coi là tờ báo của thực dân do “trùm mật thám” Louis Marty điều khiển với hai “tay sai đắc lực” Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác.
(more…)

Đàm Trung Pháp
Kính tặng Giáo sư Nguyễn Khắc Kham trong dịp Lễ Mừng Thọ Bách Niên


Noam Chomsky

Năm nay (2007) xấp xỉ 80 tuổi, nhà lý thuyết ngữ pháp Noam Chomsky – với những kiến thức siêu phàm về luận lý, triết, và toán học – là một trong những bộ óc có nhiều ảnh hưởng nhất trong thời đại chúng ta. Ông cũng là một trong số rất ít các khoa học gia mà công trình nghiên cứu được quần chúng quan tâm theo dõi.

Sau khi hoàn tất văn bằng tiến sĩ ngữ học tại Viện Đai Học Pennsylvania vào năm 1955, Chomsky bắt đầu dạy tại Viện Kỹ Thuật Massachusetts  (MIT). Ông được thăng giáo sư thực thụ năm 1961, và năm 1976 được nhận tước vị “Institute Professor”, tức là được gia nhập một hàng ngũ chọn lọc các đồng nghiệp mà đa số đã lãnh giải Nobel về các bộ môn khác nhau. Rất nhiều chuyên viên ngữ học thời danh khắp năm châu từng là học trò cũ của ông hoặc từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của ông nên vẫn một lòng tiếp tục ngưỡng mộ và quảng bá những lý thuyết cũ cũng như mới của Chomsky.
(more…)

Đoàn Nhã Văn


Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng có những tác phẩm xuất bản trước 1975. Ở ngoài nước, ông viết thêm bốn tác phẩm khác, gồm bộ Người Đi Trên Mây, hai tập: tập I – Người Đi Trên Mây, tập II – Bụi và Rác, cùng tiểu thuyết Sa Mạc và tập truyện Căn Nhà Ngói Đỏ. Trong những tác phẩm viết sau 1975, theo tôi, bộ Người Đi Trên Mây có thể xem là tác phẩm tiêu biểu của ông. Vì thế bài viết này phần lớn sẽ dựa vào đó để rọi sáng phần nào văn chương của Nguyễn Xuân Hoàng trong giai đoạn ở ngoài nước, dù rằng tài liệu trong những tác phẩm khác có được đề cập đến, nhưng mục đích cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về văn chương trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Hoàng.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Sau nhiều năm quan sát, ghi nhận và chia xẻ, giới nhà giáo ngôn ngữ đã có thể đưa ra một giả thuyết về “tác phong” của một học viên ngoại ngữ hữu hiệu qua một số đặc trưng. Tôi xin giải thích vắn tắt về những đặc trưng đó cùng với các thí dụ bằng tiếng Anh để làm sáng tỏ vấn đề.

Người học viên hữu hiệu ấy:

  • Sẵn sàng đoán ý nghĩa của một chữ mới gặp lần đầu, căn cứ vào ngữ cảnh (context) của chữ mới ấy. Điều này rất hữu lý, vì đâu có phải lúc nào học viên cũng có tự điển trong tay? Khi nghe hoặc đọc một đoạn đề cập đến một “obese man” nặng trên 300 pounds đang thở hổn hển leo cầu thang, thì học viên đoán được ngay ý nghĩa của chữ “obese” phải là “mập phì” rồi. Sau đó khi có thì giờ, người học viên sẽ tra tự điển để phối kiểm ý nghĩa, cách phát âm, cũng như chính tả của chữ “obese”cho chắc ăn.
  • (more…)

Châu Thạch

Có ba dòng sông trong một đời người:

– Dòng sông quê hương
– Dòng sông đời mình
– Dòng sông hoài niệm

Đọc bài thơ Dòng Sông Ký Ức của tác giả Lê Ngọc Phái trong tập thơ cùng tên, tôi liên tưởng đến ba dòng sông ấy và tôi nghĩ rằng mỗi chúng ta không ai không có ba dòng sông trên cho nên không ai không đồng cảm với bài thơ nầy.

Mở đầu bài thơ với khổ thứ nhất tác giả giới thiệu dòng sông Vĩnh Định, một dòng sông của quê hương Quảng Trị chảy êm ả, với lũy tre xanh, với bờ lau trắng như bao dòng sông khác trên miền trung đất Việt:

Làng tôi ở bên bờ sông Vĩnh Định
Con nước dài ấp ủ bóng trăng thanh
Chiều đi qua êm ả đón bình minh
Lũy tre xanh điểm những cành lau trắng.

(more…)

Đàm Trung Pháp

Hai loại tiếng Anh

Cần phân biệt hai loại tiếng Anh: (1) tiếng Anh “hội thoại” để truyền thông trong các cuộc giao tế hàng ngày, và (2) tiếng Anh “hàn lâm” để dùng trong học đường, trong sách giáo khoa, trong các cuộc tranh luận trí thức, và trong các loại văn viết trang trọng. Muốn thành công nơi học đường, tất cả các học sinh bắt buộc phải “chế ngự” được cả hai thứ tiếng Anh này. Các học sinh gốc ngoại quốc thường có thể làm chủ được tiếng Anh hội thoại khá nhanh, trong khoảng tối đa là 2 năm. Nhưng các em cần khá nhiều thời gian (từ 5 đến 7 năm, hay hơn nữa) mới có thể đạt được mức tiếng Anh hàn lâm của các học sinh bản xứ cùng lứa tuổi, từ khi sinh ra chỉ nói tiếng Anh.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Ảnh hưởng Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh.

Người đầu tiên Phan Khôi chịu ảnh hưởng trong nghề báo là Nguyễn Văn Vĩnh. Bởi lối viết vừa đàm vừa luận của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đăng Cổ Tùng Báo (1908) sau này sống lại trong lối hài đàm của Phan Khôi. Hai nhân vật mà Phan Khôi đặc biệt kính trọng trong địa hạt văn học và thương mại là Nguyễn Văn Vĩnh và Bạch Thái Bưởi.
(more…)

Song Thao

Anh Trà Lũ và tôi thỉnh thoảng lại điện thoại cho nhau. Người ở Montreal, người ở Toronto, xa mặt nhưng không cách lòng. Chuyện mưa nắng, chuyện văn nghệ văn gừng, chuyện sinh hoạt nơi chúng tôi đang sống. Cũng là những chuyện vui thôi. Duy có một chuyện chúng tôi chia nhau đứng thành hai phe riêng rẽ, chưa bao giờ đồng ý với nhau. Đó là chuyện già. Anh Trà Lũ thì lúc nào cũng than thở mình già, còn tôi nhất định không cho mình là già, chỉ nhiều tuổi! Vậy mà khi cho xuất bản hai cuốn “400 Chuyện Cười” và “Đất Thiên Thai”, anh gửi lên Montreal biếu một người có cái tên là “Cụ Song Thao”! Tôi bèn phôn xuống Toronto tức thời. Đại ý tôi nói là trên Montreal không có ai là “cụ Song Thao” cả và tôi đã định không nhận! Anh Trà Lũ cười xòa. Anh đánh trống lảng không nói chi nhưng tôi biết anh ấy nhất định giữ lập trường…già như thường lệ.
(more…)

Thụy Khuê


Phan Khôi (1887-1959)

Ngày nay một phần tác phẩm Phan Khôi đã được in lại, nhưng cuộc đời thực của ông vẫn chưa được soi tỏ. Hệ thống xuyên tạc và bôi nhọ Phan Khôi trong hơn nửa thế kỷ đã tạo cho quần chúng sự e ngại khi nhắc đến tên ông, nỗi hoài nghi về con đường tranh đấu của ông.

Chúng tôi cố gắng tìm lại cuộc đời đích thực của Phan Khôi, ưu tiên qua những điều do chính ông viết ra, lượm lặt trong các truyện ký, truyện ngắn như: Lịch sử tóc ngắn, Chuyện bà cố tôi, Bạch Thái công ty thơ ký viên, Đi học đi thi, Ông Bình Vôi, Ông Năm Chuột và bài trả lời phỏng vấn, do bà Phan Thị Nga (vợ Hoài Thanh) viết lại, năm 1936. Những tài liệu của gia đình như Phan Khôi niên biểu của Phan Cừ, Phan An (Chương Dân thi thoại, Đà Nẵng, 1996) và Nhớ cha tôi (Đà Nẵng, 2001) của Phan Thị Mỹ Khanh, về niên biểu, cũng phỏng chừng, nhiều sự kiện trước sau lẫn lộn, có chỗ viết sai. Những bài đánh Phan Khôi của Nguyễn Công Hoan, Đào Vũ… dù rất nhơ bẩn, nhưng có vài chi tiết dùng được, bởi những người này đã có dịp gần Phan Khôi trong 9 năm kháng chiến, nghe ông kể nhiều chuyện rồi xuyên tạc đi, để buộc ông tội phản quốc.
(more…)

Trangđài Glassey-Trầnguyễn


Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, 1986

Nguyễn Xuân Hoàng, người thật, là một con người vui vẻ, ý tứ, kín đáo. Ít ra là trong lần duy nhất tôi gặp ông. Ngoài ra, tôi chỉ thỉnh thoảng giữ liên lạc với ông qua điện thư. Nhưng ông luôn là một người thân thiện, vui vẻ, và lịch sự. Chưa bao giờ ông chậm hồi âm. Chỉ trừ khi tôi gửi email đến địa chỉ đã rơi khỏi quỹ đạo sinh hoạt của ông.
(more…)

Vương Trùng Dương


Nhà văn Doãn Quốc Sỹ qua nét vẽ Đinh Cường

Ngày 10 tháng 12 năm 1970, Hàn Lâm Viện Thụy Điển tuyên bố trao tặng giải Văn Chương Nobel cho nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Điểm đặc biệt trong giải thưởng Văn Chương Nobel nầy với nhà văn A. Solzhenitsyn là toàn bộ tác phẩm mô tả đời sống trong lao tù trên toàn cõi Liên Bang Xô Viết được mệnh danh là GULAG (Glavnoye Upravieniye Lagereiy) và xã hội của Liên Xô mà ông là chứng nhân, điển hình qua các tác phẩm: Một Ngày Trong Đời Ivan Denitsovitch (One Day in The Life of Ivan Denitsovich), Khu Ung Thư (Cancer Ward), Tầng Đầu Địa Ngục (The First Circle), Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago)…
(more…)

Lê Văn Phúc


Nguyễn Khuyến (1835-1909)

Qua mấy bài truớc, bạn đọc đã nhớ lại hai bậc đại nho lừng lẫy trong văn học sử nước nhà.

Nguyễn Công Trứ thì văn tài, võ tướng hiên ngang, chí làm trai, phận sự kẻ sĩ lo tròn, công nghiệp lừng danh thiên hạ. Hồi thiếu thời chưa danh phận cũng lả lướt rong chơi  văn nghệ “giang sơn một gánh giữa đồng”. Khi đỗ đạt vẻ vang đã đem tài ra giúp nước cho thỏa chí nam nhi. Lúc về già cưỡi bò rong chơi, theo sau một lũ tiểu đồng. Nhìn lại cuộc đời, Nguyễn Công Trứ chỉ mong nếu có kiếp sau thì xin được làm cây thông đứng giữa trời mà reo chứ không muốn làm người nữa!

Trong tâm sự ấy hẳn ẩn chứa một điều gì cay đắng của kiếp nhân sinh…

Chu Mạnh Trinh cũng đỗ đại khoa, tiếng tăm lừng lẫy, cũng văn nghiệp, công nghiệp xây dựng chùa chiền, cũng nổi danh là một thi nhân có tấm lòng yêu mến thiên nhiên, có tâm hồn thanh cao, tài hoa phóng khoáng…

Đến Nguyễn Khuyến, chúng ta lại thấy thêm một nhân tài làm vẻ vang cho đất nước.
(more…)