Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Phùng Thành Chủng

quan_an_nam

Viết lách ngày xưa không có chế độ nhuận bút như bây giờ. Tác giả, tác phẩm nào may mắn được “con trời” (vua – Thiên tử) để mắt đến thì được thưởng (có trường hợp, không những không được thưởng mà lại còn bị phạt nữa); còn thưởng (hoặc phạt) nhiều hay ít thì …tuỳ hứng! Song, dù là chuyện “dăm thì mười hoạ”, quanh việc này cũng khối chuyện để nói: Vui có, buồn có, mà sau đây chỉ là vài chuyện điển hình.
(more…)

Phùng Thành Chủng

con_rong

Theo “Từ điển Tiếng Việt” (NXB Đà Nẵng và Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 1997 – trang 805) thì con rồng được định nghĩa như sau: “Rồng: Động vật tưởng tượng theo truyền thuyết, mình dài, có vẩy, có chân, biết bay, được coi là cao quý nhất trong các loài vật”. Như vậy, con rồng không và chưa bao giờ tồn tại với tư cách là một sinh vật của giới tự nhiên, nhưng trong tâm thức người Việt, nó còn “thật” hơn cả những con vật có thật.

Trước hết, rồng có nhiều loại:

– Thanh long (rồng xanh):

Tả thanh long, hữu bạch hổ.

– Hoàng long (rồng vàng):

Rồng vàng tắm nước ao tù.

– Hắc long (rồng đen) và Bạch long (rồng trắng):

Rồng đen lấy nước thì nắng.
Rồng trắng lấy nước thì mưa.

(more…)

Thân Thiện Tâm

buddhist_monk

Phật giáo du nhập vào nước ta hơn ngàn năm nay. Trải qua bao thăng trầm, tôn giáo từ nước Ấn Độ xa xôi này đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt Nam. Một số danh từ Phật giáo đã thành câu nói cửa miệng của mọi người, đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền văn hóa dân tộc. Chưa hết ! Phật giáo còn là nguồn cảm hứng cho các nhà thơ, để khi thưởng thức ta không khỏi thốt lên “tuyệt diệu hảo từ”

Lấy chí nhân mà thay cường bạo
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

(more…)

Đỗ Trường

san_ga_xe_lua

(Viết tặng con gái út đang học lớp 10 trường Gymnasium, CHLB Đức. Khi con chợt hỏi, tại sao chúng ta lại ở nơi này và học sinh ở Việt Nam có phải học viết bình luận thơ văn không? Tuy con sinh ra, lớn lên ở nơi đây, nhưng ba mong con cố gắng tập đọc, để có thể thấy rõ hơn những cuộc chia ly đẫm máu và nước mắt của trên hai triệu người Việt trên xứ người. Từ đó con cảm thông được cái đau, nỗi nhớ gần ba mươi năm qua trong ba cũng như hiểu một chút gì đó về giáo dục và văn học quê nhà.)

Nói đến Nguyễn Bính, nhà thơ hương đồng gió nội, dường như người Việt Nam, thuộc thế hệ chúng tôi trở về trước, không ai là không thuộc dăm ba câu thơ của ông. Nhiều câu thơ của ông đã ru vào lòng người, làm cho nhiều người tưởng đó là ca dao. Cuộc đời của ông cùng khổ, phiêu bạt giang hồ. Có thể nói, đời ông là một tấn bi kịch gắn liền với xã hội đương thời.
(more…)

Khuất Đẩu

kiet_tan
Nhà văn Kiệt Tấn

Bệnh viện Paul Brousse, ngày…

“Có hai điều tôi sợ nhất trên đời là bệnh tật và cô đơn. Mà rồi bây giờ tôi cô đơn và bệnh tật. Hôm nay là ngày đầu tiên tôi ở nhà thương điên…”

Đó là những dòng mở đầu cho nhật ký của ông. Và câu chuyện ở nhà thương điên, cho dù là nhà thương điên của Tây có mỹ từ là bệnh viện tâm lý thì cũng như Nguyễn Ngu Í và Bùi Giáng ở Chợ Quán Biên Hoà, có chi mà đáng nói đáng viết. Đúng là không có chi nếu không có cái sự vụ một em tóc vàng sợi nhỏ cũng điên như ông!
(more…)

Đặng Châu Long

tu_hoai_tan
Nhà thơ Từ Hoài Tấn

Đêm qua chưa những đêm
Ôi những đêm
Đên rạch mặt kêu thương
Đên ngủ ngồi trên gai lửa
Đêm la hét cầu cứu dưới vực sâu
Đêm dài trong bóng tối
….
Những đêm thâu trên xứ sở tôi
Chỉ còn đêm
Tiếng hú của đêm
Tiếng mừng vỡ của đêm
Đang ngậm mòn tuổi trẻ
Khuôn mặt thù của đêm ngày ngày vẫn đối diện nhau
Trong hầm chông cuộc chiến

(Từ Hoài Tấn, Những đêm chờ bình minh)

Có biết bao đêm dài như thế ở quê hương ta từ những ngày mới lớn. Những đêm dài rền vang bom đạn trên mọi chốn mọi nơi đả phô bày vô vàn cảnh tượng tang thương trước mắt mọi người như cảnh báo một con đường dài không có bình minh. Tương lai nào cho anh, tương lai nào cho tôi giữa cơn biến loạn này. Chẳng ai tự nhận là tác giả những bi thương đó và con người trong vòng xoáy đã cũng cơn lốc dữ trầm luân. Bài thơ đầu tiên của quyển thơ Phục sinh tôi & em của Từ Hoài Tấn đã đưa chúng ta về lại một thời. Thời của những hoang mang, cùng cực, nghi ngại và đổ vỡ niềm tin.
(more…)

Phạm Đức Nhì

ong_do_gia

Bài thơ  Ông Đồ được đăng năm 1936 trên báo Tinh Hoa lúc tác giả của nó, Vũ Đình Liên, mới 23 tuổi. Ông là người theo tân học, đậu Tú Tài năm 1932 (lúc 19 tuổi). Nhờ khả năng quan sát sắc bén ông đã sáng tác được bài thơ mà theo Hoài Thanh: “Theo đuổi nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ lưu danh với đời.” (Thi Nhân Việt Nam).

Hoài Thanh đưa ra những lời khen ngợi trên và đã chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam chứng tỏ bài thơ Ông Đồ của Vũ Đình Liên, dưới cái nhìn của đôi mắt thơ có nội lực sung mãn vào hạng nhất thời bấy giờ, được đánh giá rất cao.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

do_hong_ngoc
Bác sĩ, nhà văn Đỗ Hồng Ngọc

Với hơn 30 tác phẩm đã xuất bản từ năm 1967 đến nay, gồm nhiều thể loại: Thơ, tuỳ bút, tạp văn, y học và cả Phật học… không biết nên xếp Đỗ Hồng Ngọc vào hàng ghế nào cho thật chuẩn. Nhà thơ, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, nhà văn? Đối với ông, vị trí nào cũng chính xác. Bởi những gì ông viết, đã xuất bản và đến tay độc giả đều tròn đầy, khiến họ thích thú đến bất ngờ, vì ngoài cốt cách văn chương, những suy nghĩ của ông về các vấn đề xã hội, đời sống, không xa vời; nó gần gũi, quanh quẩn, ẩn núp đâu đó quanh ta mà ta chưa thể nhìn thấy; chỉ đợi khi ông viết lên, đọc lại, ta mới thấu lẽ, à lên một tiếng, vài ba tiếng, tùy theo tâm trạng mỗi người kèm với không gian, thời gian của người đọc: nó có đấy mà sao ta không thể nhìn thấy, ta không hề nghĩ ra được nhỉ? Những điều bình thường cũ rích, trong đời sống, qua ngòi bút của ông hoá ra quá đỗi mới lạ; nói theo ngôn ngữ Đỗ Hồng Ngọc là ngòi bút ông đã hoá giải, đã khải thị giúp ta từ những cách nhìn, nghĩ một cách hạn hẹp, quanh co cạnh ta thành rộng ra để ta “như thị”?
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

tran_hoai_thu_2
Nhà văn Trần Hoài Thư

Đôi khi, ta bất chợt nghe một câu hát, lòng bỗng dậy lên chút bùi ngùi, nhớ nhung về chốn cũ xa xôi. Đôi khi, ta bất chợt đọc một câu thơ, đầu óc mụ mị bỗng nhòe nhoẹt vết lăn trên đường. Và dường như thấp thoáng đâu đó, có những phút giây ta hối hả cùng bạn trong khói sóng mông lung và, những xao xác cô đơn đến vô cùng tận, một mình bên quán nhỏ dọc đường…

Thời trai trẻ, những tình cờ đến đi như chút gió cuối mùa hiu nhẹ buổi xế trưa, thì đâu có chi lạ lùng? Nay, đã qua tuổi “tri thiên mệnh” khá xa, lại vô cớ bồi hồi vì hình ảnh ẩn dụ trong một câu thơ; những lướt thướt âm thanh trong một bài hát, đã cảm thấy chạnh lòng, huống chi lòng đang chùng xuống, mắt mênh mông một vùng khói trắng?

Có phải vậy không?
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

vu_huu_dinh2
Nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981)

Đọc thơ Vũ Hữu Định nhiều đâm “ghiền” như “ghiền” hương thơm của người trinh nữ. Chỉ tiếc là chưa một lần gặp mặt anh qua những bức thư hẹn hò. Chúng tôi như hai con thú hoang ở hai đầu cánh rừng ngút ngàn lùm bụi, khói sương, suối sâu và bờ vực. Chúng tôi đuổi bắt nhau như bắt lấy chính bóng mình. Đó là những năm tháng kinh hoàng và mệt nhoài khoảng đầu thập niên 70. Tôi ngồi chờ anh ở nhà Hạc Thành Hoa (bên bờ kênh Cái Sơn, Sa Đéc) thì anh đã lên Sài Gòn. Phóng vội xe đò lên Sài Gòn thì hình như anh “nhìn thấy cơm sôi chợt nhớ nhà” và leo xe đò về Đà Nẵng…
(more…)

Bảo Trọng Cư

bia_phien_ban_tinh_yeu

Phiên Bản Tình Yêu là một tác phẩm công phu, tâm huyết, nặng trí tuệ, có tính điển hình cao với một văn phong độc đáo, đa dạng, sắc bén, quyết liệt nhưng cũng đầy chất thơ.

Ắt hẳn vẫn có vài nhược điểm mà độc giả có thể nhìn thấy đâu đó, nhưng đây là một tác phẩm xứng tầm lịch sử – cho hôm qua, hôm nay và cả mai sau. Tôi tin Phiên Bản Tình Yêu sẽ cùng tồn tại với bi kịch lịch sử mang tên Việt Nam.
(more…)

Đỗ Trường

luan_hoan-dc
Nhà thơ Luân Hoán – Đinh Cường

Tôi có hai ông bạn, là thông gia của nhau. Một ông nguyên là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa và ông là cựu bộ đội. Cả hai cùng cư ngụ gần thành phố Frankfurt/M. Có chung đến nửa tiểu đội cháu, sắp lấy chồng, lấy vợ đến nơi rồi, ấy vậy, hễ ngồi cùng bàn là hai ông chọc ngoáy, cãi cọ nhau. Kỳ nghỉ hè vừa rồi, tôi đi Wien vòng sang Paris, lúc về, tạt qua thăm cả hai ông. Trong bàn nhậu, tôi ngồi giữa, thế mà hai ông vẫn tranh luận, xỉa xói khá căng thẳng. Ông nào cũng cho, các nhà thơ, nhà văn khoác áo lính của (phe) mình là nhất. Dường như, thấy nguy cơ bát đĩa chuẩn bị bay, hai bà vợ hết cười lườm rồi lại quát, nhưng hai ông cứ khoa tay, múa chân đều đều. Có lẽ quen nhờn như vậy rồi, nên hai bà thở dài. Tôi phải ấn vai hai ông xuống, đùa giảng hòa: Em có hai người lính, nhà thơ, dù ở hai chiến tuyến khác nhau, nhưng có nhiều điều giống nhau đến kỳ lạ. Hai ông này, đại diện cho hai bác, có lẽ, bất phân thắng bại về tài năng cũng như nhân cách, nếu đem ra tỉ thí. Ngoài ra, dám tử vì thơ trong thời bèo cám này, có lẽ, chỉ còn sót lại hai ông thi sỹ này.

Hai ông bạn tôi nhao lên, sốt ruột bỏ mẹ, dài dòng làm gì, là ai, nói toẹt ra đi…
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

hoang_chinh
Nhà văn Hoàng Chính

Giới y-sĩ Việt-Nam cầm bút không nhiều trước biến cố 30 tháng Tư 1975 (Hoàng-Vũ Hoàng Văn Đức, Trần Ngọc Ninh, Nhân-Tử Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Hữu Phiếm, Trần Văn Tích, Dương Tấn Tươi, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, v.v.); sau ra đến hải-ngoại thì có tăng nhân-số nhưng là tăng theo cùng tỉ lệ với số cây bút tài tử và cộng đồng ngoài giới này, và cũng lão hóa có phần nặng nề hơn khuynh hướng chung. Những cây bút y-sĩ sau 1975 viết nhiều thể loại từ thơ văn đến nghiên cứu, từ điển, hồi ký,… Tuy vậy những ngòi bút thuần túy văn-chương thì vẫn không nhiều so với tổng-số người hành nghề y-khoa – trong khi những ngành nghề khác cung cấp nhiều nhà văn thơ hơn như giáo chức, nhà báo, chuyên-viên điện toán, v.v. Đã khởi viết từ trước, nay tiếp tục sáng tác văn-chương ở hải ngoại có Trang Châu, Ngô Thế Vinh,… thật mới và tương đối mới thì có Nguyễn Xuân Quang, Mai Kim Ngọc, Hoàng Chính, Trần Long Hồ,…
(more…)

Đỗ Trường

bia_duoi_bong_da_chua_vien_giac

Trong một bài viết gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Đức cho rằng, Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo là ba cây bút nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Tôi không thể phản đối đánh giá trên của ông. Nhưng tôi nghĩ, nếu như đọc và nghiên cứu Trần Trung Đạo, chắc chắn Nguyễn Hoàng Đức sẽ phải viết tiếp: Ngoài Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, chúng ta còn có một Trần Trung Đạo thơ, một Trần Trung Đạo văn, và cõng trên lưng cả mảng phê bình nghị luận xã hội.

Thật vậy, công việc chủ yếu của một kỹ sư điện toán đã vắt kiệt sức, nhưng với Trần Trung Đạo, thơ văn, nghiên cứu lại là hơi thở, là bữa ăn hàng ngày. Có thể nói, Trần Trung Đạo không sống bằng nghề viết, sự viết lách chỉ là giải tỏa cái đau và nỗi nhớ của người xa quê. Ông chỉ cầm bút, khi con tim chính mình rung lên, thôi thúc và mách bảo. Do vậy, thể loại nào, mảng nào, ông cũng để lại những tác phẩm đóng đinh vào lòng người. Và như một lần tôi đã viết:  Nếu không có biến cố 30-4-1975 và không có những con thuyền lá tre kia, cố lao đi để tìm sự sống thật mong manh, trong cái mênh mông của biển cả, giông tố của đất trời, thì chúng ta sẽ không có một nhà thơ đa tài Trần Trung Đạo hôm nay. Những cơn mưa nguồn, gió bể ấy là những nhát búa gõ vào hồn thơ anh, rồi như tiếng chuông ngân lên từ cõi lòng, vọng về bên kia bờ đại dương.
(more…)

Trần Thị LaiHồng
Viết cho Emma

ngan_hanh_bach_qua_1
Bạch Quả Saragota, hình LH Dec 2012

Lá mùa Thu lá không bay nữa
Lá rụng tơi bời lối tử sinh
(Võ Đình, Nàng Thu phong)

Trái Trắng, nghe nghịch ngợm, nhưng đơn giản chỉ là tiếng Việt của hai chữ Bạch quả/bai guo hay Ngân hạnh/yin hsing, tiếng Trung Hoa; Mơ bạc/Apricot d’argent, tiếng Pháp. Mỹ gọi nôm na là Maidenhair/tóc tiên, dẫu cây chẳng có sợi tóc nào.

Đó là cây Ginkgo biloba L.

Tôi say mê cây Trái Trắng Bạch quả từ ngày định cư tiểu bang xanh mãi ngàn xanh evergreen state Washington vùng Tây Bắc Mỹ. Từng nằm hàng giờ trên thảm lá dưới tàng cây đang thay màu lả tả rơi rụng. Lá Bạch quả một khi đổi màu xong là hàng loạt mảnh vàng anh sáng rực lìa cành. Nằm ngắm lá. Lưng sát mặt đất lạnh lại thấm cảm một nỗi ấm áp kỳ diệu khi lắng nghe từng cọng cỏ cánh lá lao xao rì rào. Lá chao mấy vòng rồi đáp nhẹ nhàng. Cả người tôi phủ đầy lá vàng long lanh sắc Thu, một sắc Thu sáng loáng vàng rực thật tươi thật mát. Không như những loại màu vừa nâu non nâu già vừa vàng rộm vừa đỏ rực, rực rỡ dữ dội đến lạnh người.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

song_thao
Nhà văn Song Thao
(Photo: Võ Văn Thạnh, Houston 8/2011)

Song Thao (Tạ Trung Sơn) thực sự đến với thế-giới văn-học từ khi ra đến hải-ngoại (1985) và đã tỏ ra là một cây viết bền bĩ, hăng hái nhất là khi mới xuất hiện – khoảng 1991, lúc mà văn-chương chữ nghĩa được xem như khí cụ đấu tranh và sống còn, lúc văn-học hải-ngoại đang vào cuối giai đoạn tị nạn, lưu vong. Từ năm 1993 đến nay, ông đã xuất-bản 7 tập truyện ngắn Bỏ Chốn Mù Sương (1993), Đong Đưa Cuộc Tình (1996), Còn Đó Bóng Hình (1997), Chân Mang Giày Số 6 (1999), Cuối Ngày, Một Lần Ngồi Lại (2001), Bên Lưng Những Con Chữ (2003) và Chốn Cũ (2006). Những năm gần đây, Song Thao được biết nhiều hơn với các truyện phiếm (film) trên các báo và tạp-chí ở hải-ngoại và đã in 4 tập Phiếm (2004-2007). Trong bài này, chúng tôi thử phân tích thời-gian và dừng lại ở ý niệm Chốn Cũ, qua các truyện ngắn và bút ký của Song Thao đã xuất-bản.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

hoang_xuan_son
Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn

Hoàng Xuân Sơn tác-giả các tập thơ Viễn Phố (Việt Chiến, 1989), Huế Buồn Chi (Tác giả xb, 1993), Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (Thư ấn quán, 2004), từng và hiện thường xuyên có mặt trên nhiều tạp-chí ở hải-ngoại dưới tên thật hoặc các bút hiệu Sử Mặc, Hoàng Hà Tỉnh, Vô Định,… Qua ngôn-ngữ thơ, Hoàng Xuân Sơn một mực nòi tình và rất Huế. Cuộc tìm giao cảm bắt đầu với con chữ và liên tục, thiết tha.
(more…)

Nguyễn Hưng Quốc

bia_dung_vung_ngan_nam

Tôi được Ngô Nhân Dụng tặng cuốn Đứng vững ngàn năm: Nhờ đâu nước Việt vẫn còn sau ngàn năm Bắc thuộc? vừa được Người Việt xuất bản trong chuyến đi California vừa qua. Lúc ở Cali, tôi đọc loáng thoáng được chương đầu. Rất thích. Nhưng vì quá bận bịu với bạn bè nên không thể đọc tiếp được. Tôi chỉ đọc trọn cuốn sách dày ngót 500 trang ấy trên chuyến bay từ Los Angeles về lại Sydney. Đọc say sưa. Nhờ thế, chuyến bay dài 15 tiếng tự dưng thấy ngắn hẳn lại.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

vo_ky_dien
Nhà văn Võ Kỳ Điền

Nhà văn Võ Kỳ Điền sinh ngày 30.10.1941 tại Dương Đông, Phú Quốc, trưởng thành và hành nghề dạy học ở Bình Dương (và một thời gian ở Ba Xuyên) sau khi tốt nghiệp ban Việt Hán Đại học sư phạm Sài-Gòn. Vượt biển đến Mã Lai năm 1979 và định cư ở Montréal rồi Toronto. Võ Kỳ Điền bắt đầu viết văn khoảng năm 1980, những truyện ngắn đầu tay của ông xuất hiện trên tờ Dân Quyền ở Montréal và Làng Văn ở Toronto (Canada) trước khi trở thành một trong những nhà văn góp phần đánh dấu một giai đoạn văn học lưu vong nặng chính trị nhất của người Việt. Tờ Dân Quyền số 1 ra đầu tháng 2-1978 đến năm 1987 ngưng mặt báo chí, thông tin văn nghệ để tham gia các liên minh và mặt trận đấu tranh trên các diễn đàn hải ngoại – nay đi vào quên lãng đối với các thế hệ sau. Những cây viết của nhóm như Bắc Phong nay ngưng làm thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy, nhà thơ Vũ Kiện đã mất ở Québec, Nguyễn Ngọc Ngạn từ bàn đạp tiểu thuyết chống Cộng trở thành nghệ sĩ nói, một số khác (đã) đi vào đấu tranh và số khác nữa sử dụng ‘lý tưởng’ để hợp tác với ‘kẻ thù’ theo… thời. Phần tư thế kỷ sau, thời gian và chính trị thế-giới đã xoay chiều. Cuộc chiến tranh lạnh đối với nhiều nước và chiến-tranh Việt-Nam đối với Hoa-Kỳ đã là chuyện… tiền kiếp, với người Việt thì vết thương chiến-tranh đó có khi vẫn chưa thành sẹo. Dĩ nhiên nếu không nuôi… sẹo như Triều Sơn thời tha hương đi lính cho Pháp thì cũng không thể quên vết sẹo nhiều lúc vẫn làm ngứa tâm can, một loại sẹo “thế hệ” không dễ gì quên. Nhưng, đời sống vẫn theo dịch lý tuần hoàn và nước vẫn chảy dưới cầu, mùa Đông cực Bắc Mỹ có đông giá nhưng nước vẫn âm ĩ chậm trôi ngầm bên dưới những tảng băng. Cũng chính thời gian đã cho thấy Thiện Ác và nhân quả nhãn tiền. Riêng Võ Kỳ Điền, sau những trận… chiến Văn Bút và nghiêng ngã tình đời, tình người, ngưng sáng tác một thời gian, nay hình như đã ổn định cuộc đời và gần đây sáng tác trở lại và thiên về bút-ký.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

khuat_dau
Nhà văn Khuất Đẩu

Khuất Đẩu, bút danh mới toanh và lạ hoắc lần đầu tiên xuất hiện trên tạp chí văn nghệ, trên các trang Webs nên có thể tạm gọi là nhà văn trẻ. Nhưng đọc qua từng trang viết lại thấy giọng văn rất già dặn. Ông là ai, ở đâu? Không ai biết. Có thể ông khởi viết từ thời Mai, Thế Kỷ Hai Mươi, Hiện Đại,Văn Nghệ, Sáng Tạo… Cũng có thể mới đây, sau những năm tháng tích luỹ kinh nghiệm sống. Nhưng chắc chắn ông là người có tuổi, từng sống qua thời kỳ u ám kinh hoàng. Vì: đọc qua từng trang viết của ông, chúng ta cảm thấy như rất gần. Gần bởi ông kéo xích thời gian xa lắc đến với người đọc, bởi ông dựng lại bối cảnh khủng khiếp thời đấu tố ở vùng “tự do” (*) liên khu V một thời chúng ta đã  từng sống trong không khí sặc sụa sỉ vả lăng nhục, sặc sụa máu và nước mắt, hay ít ra cũng đã từng nghe nói đến.
(more…)

Trần thị LaiHồng
Tranh minh họa của Võ Đình

trung_thu_mua_lan-vo_dinh

Cội nguồn tinh hoa văn hóa dân tộc nằm trong ca dao, kho tàng vô giá của văn học. Theo định nghĩa của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức, qua tập Việt Nam Tự Điển do Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931, ca dao là những câu hát phổ thông trong dân gian: ca là những bài hát thành khúc, dao là những câu hát ngắn độ một vài dòng.

Xưa Đức Khổng Tử suốt đời chu du thiên hạ mong gặp cơ hội thực hành chính giáo giúp người đời sống an bình hạnh phúc, nhưng đã gặp từ thất vọng này tiếp thất vọng khác, ngót bảy mươi lui về quê cũ dạy học, sọan kinh sách, san định Kinh Thi, là tập sách ghi lại những bài thơ dân gian, hầu hết tác giả khuyết danh, tức là những bài ca dao. Vị thầy của hàng vạn thế hệ – Vạn Thế Sư Biểu – cuối đời đã quyết dùng nghệ thuật thi ca hạ tầng cơ sở để giúp người đời tu thân tạo đức, xây dựng căn bản gia đình, xã hội và nhân loại.
(more…)

Nguyễn Thu Hà

nguoi_linh_luan_hoan
Thi sĩ Luân Hoán

Sinh tại Hội An vào năm 1941, ấu thơ trôi qua các vùng Đông Bàn, Trung Phước, Tiên Châu Tiên Phước, Hòa Đa Hòa Vang, để rồi trụ lại và trưởng thành tại Đà Nẵng, người làm thơ ghép tên cha mẹ làm bút hiệu này, hẳn khó đoạn lìa với tình đất quê hương. Nơi chốn sinh ra cũng ảnh hưởng phần nào đến tính cách của con người. Với dải Trường Sơn trải dài vây quanh, sông Thu Bồn, phố cổ Hội An cùng nhiều thắng cảnh khác…tạo nên một cảnh sắc làm ta luôn lưu luyến và không nguôi nỗi nhớ thương, mỗi khi nhớ về chốn quê nhà. Tình yêu quê hương của ông luôn bàng bạc trong hầu hết các tác phẩm thơ. Với 2 câu dưới đây, ta có thể hình dung về tình yêu đất nước của Luân Hoán, nhà thơ và Lê Ngọc Châu, người lính Quốc Gia.

“Quê hương nhắm mắt như sờ được
Đà Nẵng muôn đời trong trái tim…”

(Cám ơn đất đá trổ thơ. Lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài)
(more…)

Phạm Khắc Trung

khong_tu

Bốn câu chữ nho trên hình là:

Khảm tượng lai điền
Ly quái thành ách
Thiên hạ định vị
Phản bổn hoàn nguyên.

Khổng Tử san định bốn bộ Kinh là Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Thi, Kinh Nhạc, bao bọc bộ Kinh Dịch ở trung cung, mà Truyện Man Nương nói là bốn pho tượng Phật bằng gỗ là Pháp Văn, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, bao phủ phiến đá thô không đẽo, không gọt, là hiện thân của người con gái, tác phẩm trứ danh của nàng Man Nương và nhà sư Đồ Lê. Vì bằng đá nên khó mài dũa và nặng thành thử chìm xuống nước, trong khi bốn pho tượng gỗ nhẹ và mềm nên nổi và dễ đẽo gọt khiến người đời hâm mộ. Nhưng sự thực thì khối đá kia mới có giá trị vô biên cần bảo trọng, nên không những Ngài phải dùng bốn pho tượng gỗ để bảo bọc, che chở, mà còn “lấy vàng tô lên để phụng thờ”, tức là dùng mọi phương thức mà che đậy cho phiến đá khỏi mai một: “Nhà Tần cách đời cổ chưa xa, nên sách Chu Dịch nhờ về bói toán mà không bị đốt” (Kinh Dịch, Ngô Tất Tố, trang 57). Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt hết các sách về triết học, văn học, sử học…, chỉ cho giữ những sách dạy nghề, mà môn bói thời đó là một nghề được trọng vọng.
(more…)

Đỗ Xuân Tê

khuat_dau
Nhà văn Khuất Đẩu

Mấy năm về sau này, tôi ưa đọc những tác phẩm của nhà văn trong nước, trong số họ nhiều  người có tài, dám đi vào những mảng đề tài giàu chất  nhân văn, đầy tình nhân bản, bỏ lại đàng sau lối viết minh họa trong những thập niên của nền văn nghệ chỉ huy.

Những Tháng Năm Cuồng Nộ của Khuất Đẩu hình như cũng muốn soi rọi một điều gì, và qua nhân vật “thằng chó đẻ” tác giả muốn dùng nó như một nhân chứng hé lộ nhiều cảnh đời gian nan oan trái của hơn nửa thế kỷ giông bão khởi đi từ nạn đói Ất Dậu 45 cho đến những năm đầu của thiên niên mới. Càng đọc tôi càng tâm đắc với thằng chó đẻ, tôi cùng tuổi với nó, tuy tôi ngoài bắc, nó ở trong nam, thực sư là mảnh đất khu 5 cũ, nhưng những gì thằng chó đẻ biết tôi cũng biết một phần, những gì thằng chó đẻ can dự và trải nghiệm, thì tôi hoặc thành viên trong họ hàng tôi tùy nơi chốn và thời điểm cũng không thoát khỏi cơn xoáy của ‘những tháng năm cuồng nộ’. Nhìn chung thằng chó đẻ nói hộ tôi và thế hệ tôi nhiều điều, gợi lại trong chúng tôi những ký ức đau thương với niềm phẫn nộ tưởng chừng đã tắt.
(more…)

Mặc Giao

bia_nguyen_chi_thien_trai_tim_hong

Tính đến đầu tháng 10 – 2013, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã từ bỏ cõi trần được một năm. Ông ra đi, để lại cho nhân gian một trái tim hồng, như hai câu thơ trăn trối của ông:

Một trái tim hồng với bao chan chứa
Ta đặt lên bờ dương thế, trước khi xa

Nhà văn Trần Phong Vũ đã lấy lời và ý của hai câu thơ trên để đặt tên cho cuốn sách mới nhất của mình: “Nguyễn Chí Thiện, Trái Tim Hồng”, do Tủ Sách Tiếng Quê Hương ấn hành. Có lẽ tôi là một trong những người may mắn được đọc soạn phầm này rất sớm, dưới dạng bản thảo, trước khi được gửi sang Đài Loan in.
(more…)

Trần Đán

Xem loạt Tranh Đen của Nguyễn Thái Tuấn làm tôi liên tưởng đến Kafka hay Samuel Beckett. Cụ thể tôi xin chọn một bức tranh của họa sĩ để bình phẩm về phong cách Nguyễn Thái Tuấn: bức tranh số 37.

tranh_den_so_37-nguyen_thai_tuan
Loạt Tranh Đen, bức số 37 – Nguyễn Thái Tuấn

Bức tranh vẽ một người đàn bà (theo lời họa sĩ; nhưng cũng có thể là một người đàn ông, việc đó không quan trọng) không đầu (cái này cũng không tối quan trọng) ngồi trước một máy điện thoại đời cũ đặt trên một cái ghế đẩu. Không gian của họ là một căn phòng không cửa sổ. Ngoại trừ các vật thể đó, căn phòng trống trơn. Họa sĩ sử dụng rất hiệu quả kĩ thuật tối giản để gạn lọc cấu kết của bức tranh, loại đi tất cả những chi tiết không cần thiết.
(more…)

Nguyễn Hưng Quốc

nguyen_xuan_hoang-dinh_cuong
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng qua nét vẽ Đinh Cường

Nếu tôi phải làm một tuyển tập những truyện ngắn hay nhất ở hải ngoại sau năm 1975, trong số các tác phẩm được chọn, nhất định phải có truyện ngắn “Tự truyện một người vô tích sự” của Nguyễn Xuân Hoàng. Đó là một cuốn tiểu thuyết được nén lại thành một truyện ngắn. Nó rất cô đọng và vì cô đọng nên vô cùng mạnh mẽ. Nó là một thứ bonsai. Lại là thứ bonsai không có hoa, thậm chí, không có lá. Chỉ có cành thôi. Cành, xương xẩu và gai góc, đâm tua tủa nhưng nhìn chung, lại theo một trật tự khá hài hoà. Không những hay, đó là một trong những truyện ngắn tiêu biểu; ngay trong nhan đề, đã thâu tóm được hai yếu tố vốn là đặc trưng nổi bật nhất trong phong cách của Nguyễn Xuân Hoàng: “tự truyện” và “vô tích sự”.
(more…)

Phạm Khắc Trung

chu_dong_tu-tien_dung

Khổng Tử là người hiếu học và hay suy xét những chuyện đời xưa, Ngài nói: “Ngã phi sinh nhi tri chi giả dã, hiếu cổ, mẫn dĩ cầu chi giả dã: Ta không phải là người sinh ra đã biết, chỉ là người thích đạo của thánh hiền đời trước, cố sức mà cầu lấy được” (Thuật Nhi, VII).

Truyện Đầm Nhất Dạ ví Ngài như Chử Đồng Tử, vì may mắn mà lấy được công chúa Tiên Dung, con gái vua cháu ba đời vua Hùng, ý nói rằng Ngài may mắn học được cái đạo cổ của Hùng Vương.
(more…)

Thái Doãn Hiểu

nguyen_hai_phuong
Thi sĩ Nguyễn Hải Phương (1933-2002)

Nguyễn Hải Phương (*) là thi sĩ hào hoa. Thi phẩm của người độc đáo đặc sắc nhất là chùm thơ vịnh hoa và các nhạc khí.

Đó phải kể như là một mối tình – tình yêu hoa ! Mỗi loài hoa đều chở trên đôi cánh mỏng yếu ớt đẹp và thơ một ý tưởng sâu sắc về đời sống của người viết.

Vì Cúc tôi thương người áo lụa
Hay vì áo lụa mới thương Hoa ?
Bao lần Cúc đã mang thu lại
Mà bóng người xa vẫn nắng tà !

(Hoàng Cúc)
(more…)

Trần Thị Nguyệt Mai

lu_quynh
Nhà thơ Lữ Quỳnh

Lữ Quỳnh là một tên tuổi đã có mặt trên văn đàn từ trước năm 1975. Ông cộng tác với các tạp chí Bách Khoa, Mai, Phổ Thông, Ý Thức, Thời Nay, Thời Tập… và sau này, từ năm 2001 ở hải ngoại, ông có bài đi trên Văn Học, Khởi Hành… Cát Vàng – tập truyện đầu tay của ông – do nhà xuất bản Ý Thức phát hành năm 1971 (Văn Mới, California tái bản 2006) và Những Giấc Mơ Tôi là tập thơ mới nhất do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013.

Ông đã thành công trong cả hai địa hạt Văn và Thơ như nhà thơ Du Tử Lê [2] đã nhận xét:

“Trong ghi nhận của tôi về 20 năm văn học miền Nam, có nhà văn Lữ Quỳnh. Nhưng, cũng trong ghi nhận của tôi, Lữ Quỳnh còn là một thi sĩ.

Ông không chỉ là thi sĩ qua những hình ảnh trong văn xuôi.

Ông không chỉ là thi sĩ qua những so sánh, liên tưởng, nhân cách hóa trong khá nhiều truyện ngắn của ông. (Mà,) với tôi, ông còn là thi sĩ chan hòa tính nhân bản, trong cuộc trường chinh chữ, nghĩa trên lộ trình sống/chết miền Nam điêu linh, 20 năm.”
(more…)

Lâm Hảo Dũng

bia_gion_bong_chiem_bao

Trải qua một thời kỳ nở rộ của các cây viết học đường sang đến giai đoạn in ấn và ra mắt các đặc san, chúng ta phải kể đến Trần Phù Thế, Lưu Vân, Lan Sơn Đài, Trần Như Liên Phượng, Ngô Nguyên Nghiễm, Hoài Ziang Duy, Nguyễn Bạch Dương… ở miền Tây sông Cửu. Miền Trung có Hoàng Lộc, Hoàng thị Bích Ni, Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Khai Nhan, Nguyễn Lệ Uyên, Hoàng Xuân Sơn, Tần Hoài Dạ Vũ… Riêng Trần Như Liên Phượng đã bỏ cuộc chơi sớm vào lúc mà thơ anh đang độ chín mùi.

Em chưa đầy mười bốn
Lòng trẻ thơ đâu rồi
Những bước dài bão tố
Vũng nước mặn trên môi”..
(Đó em của Trần Như Liên Phượng trên tờ Tiểu thuyết tuần san)

Những câu thơ gần như tiên tri, báo trước một giai đoạn trổi dậy của tuổi trẻ, của những phong trào hiện sinh vào những năm kế tiếp, nhất là sau năm 1963, có những đổi thay về thể chế chánh trị.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

nguyen_vien
Nhà văn Nguyễn Viện (ảnh Trần Tiến Dũng)

Truyện Kiều của Nguyễn Du, sau khi được khắc bản in, lập tức có sức lan toả rộng rãi trong quần chúng. Tính phổ quát của truyện Kiều hơn hẳn những tác phẩm trước và sau nó để, từ tầng lớp bình dân cho chí các trí thức khoa bảng đều có các đánh giá khác nhau qua mỗi thời đại. Bởi ở đó, từ những nhân vật trong truyện, mỗi người có thể tìm ra những vấn đề tương đồng, những cá tính từng nhân vật như một phiên bản luôn có mặt như những thực thể sinh động trong mọi thời đại.

Đó cũng là lý do tại sao, kể từ khi có chữ viết riêng (quốc ngữ), có báo chí, truyện Kiều được mang ra mổ xẻ khá kỹ, với nhiều luồng trái ngược nhau. Dưới con mắt các nhà nho luôn ôm Luận Ngữ, Đại học… làm sách gối đầu như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng thì truyện Kiều chỉ là loại dâm thư không hơn kém: “Nói cho đúng ra Truyện Kiều chỉ là một dâm thư, rõ ràng không có ích gì mà có hại”.  Trong khi đó, những Phạm Quỳnh, Chu Mạnh Trinh thì lại hết lòng ca ngợi truyện Kiều, xem Kiều như một loại “ngọc tỉ” truyền quốc: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn. Tiếng ta còn thì nước ta còn”- (Phạm Quỳnh).
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

thieu_nu_dung_ben_song

“Tôi yêu anh yêu biết nhường nào
như quê hương yêu anh yêu mê mệt
mà anh dửng dưng, nguội lạnh.
Tôi buồn như những đám dương vùng Đại Lãnh.
Tôi khóc như mưa chiều về với núi Vọng Phu”.

Trước đây, nhiều người vẫn nghĩ rằng, Cảnh Cửu chỉ có một truyện ngắn duy nhất là Thư từ Tuy Hòa, đăng trên tạp chí Văn số 45 chủ đề Françoise Sagan ra ngày 1.11.1965. Nhưng thật ra không phải vậy. Hơn một năm sau, truyện ngắn thứ hai Vòng đai học vấn (1) xuất hiện trên Văn số 72, ngày 1.11.1966; rồi 5 tháng sau là truyện Khởi hành vào mùa xuân tương lai [1] Văn số 79, ngày 1.4.1967; đây cũng chính là truyện cuối cùng ký tên Cảnh Cửu.
(more…)

Phạm Tùng Cương
Chân Phương chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp Une évasion, mais pas celle de T.S. Elliot.

“Văn chương không phải chuyện viết hay hoặc viết dở; văn chương là cầm bút mà viết” (Charles Dantzig)

bia_sach-khmer_bolero

Trước hết tôi phải thú nhận với niềm thú vị tuyệt vời sự kinh ngạc của mình khi đọc thấy rằng một tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp bởi một công dân Pháp gốc Việt (dĩ nhiên) lại được coi như thuộc về văn chương VN. Có phải vì tên sách KHMER BOLÉRO khiến về địa lý nó gần với VN? Chắc tôi đã bỏ sót trước đây một điều gì quan trọng khi đọc Salman Rushdie, Francois Cheng và các ngòi bút khác kiểu Kuzuo Ishiguro mà chẳng được cho biết đấy là văn học Ấn, Trung Hoa hay Nhật bản gì đó. Tôi đã tưởng rằng văn chương tùy thuộc vào ngôn ngữ của tác phẩm cùng với nền văn hóa từ đó văn chương bắt nguồn.
(more…)

Thái Doãn Hiểu

khuat_nguyen_2
Khuất Nguyên (340-278 trước công nguyên)

Khuất Nguyên (340-278 TrCN) là nhân vật lỗi lạc thời cổ đại Trung Hoa cả về cuộc đời, nhân cách và nghệ thuật thơ ca. Ông là danh nhân văn hóa thế giới (1953).

Tên thật là Bình. Ông là quan đại phu của nước Sở (tỉnh Hồ Nam). Xuất thân từ dòng dõi vương tộc nhưng đã sa sút từ đời cha, gần hàng thứ dân. Sử gia Tư Mã Thiên nhận xét “Khuất Nguyên học rộng nhớ nhiều, sáng suốt về chính trị, thông thạo về hiến lệnh” Ông sớm được vua Sở trọng dụng, cân nhắc lên hàng lương đống của triều đình (chức Tả tư đồ, dưới Lệnh doãn – Tể tướng). Đối nội, Khuất Nguyên chủ trương cải cách xã hội bằng những biện pháp nhằm hạn chế đặc quyền của bọn đại quý tộc, chủ trương “cân nhắc người hiền, trao quyền cho người có tài năng”; đối ngoại, chủ trưng liên Tề chống Tần. Khuất Nguyên bị đả kích kịch liệt vì điều đó mâu thuẫn với đường lối quyền lợi của bọn đại thần.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

bia-ngat_nguong_mot_doi_may

Từ khi đến với văn-chương, khác với các bộ môn lý luận, tiểu-thuyết, … thơ với chúng tôi là cả một cuộc hành trình đi tìm hoặc dõi theo cái hồn khí của nhà thơ, của thi ca, nhưng cũng có khi rất đơn sơ – chỉ là đi tìm lại cuộc đời, một sống lại, tìm lại, … Một hành trình nhiều đứt đoạn nhưng vẫn liên tục, … Tìm kiếm, vì cái thế giới đã hình thành xem ra khó thấy ở trần gian, nhất là đối với người Việt. Tìm kiếm ở đây thiển nghĩ cũng là để sống trọn vẹn hơn cái số phần làm người! Bởi, thơ là những biểu hiện bên ngoài, những nhu cầu bộc lộ của đời sống nội tâm, là nơi ẩn chứa những khoảnh khắc của tâm trạng, khởi từ dòng sinh động hoặc thầm lặng của đời sống, từ những liên hệ giữa con người với con người hoặc với ngoại cảnh biến hóa khôn cùng, …
(more…)

Trần Đán

bia_chec_chec

Tập thơ Chẹc chẹc của Nguyễn Đình Chính gồm những bài thơ nhả đầy tiếng liên thanh, tiếng văng tục đường phố, tiếng chắc lưỡi về thời thế ngày hôm nay trên đất nước VN, chấm dứt bởi bài “Thông điệp hoa hồng” nhen nhúm hi vọng.

Là con trai của nhà văn cách mạng nổi tiếng Nguyễn Đình Thi, anh nhập ngũ Quân Đội Nhân Dân miền Bắc lúc anh 18. Nơi luyện quân là rừng già dưới núi Yên Tử, Quảng Ninh, cách Hà Nội 125 cây số, nơi thờ vị vua ở thế kỷ 13 Trần Nhân Tông. Trong nguyên tắc và thực hành, tinh thần hòa giải và cầu hòa của vị vua này, người từng đánh bại quân Mông Cổ, rồi từ ấn về Yên Tử lập ra phái Thiền gọi là Trúc Lâm Yên Tử, hiện đang được đại học Harvard cẩn trọng nghiên cứu. Có lẻ lòng từ bi của vị vua đã độ trì người lính trẻ qua cuộc chiến tàn khốc. Đơn vị của anh lâm trận với các đơn vị Mỹ hùng mạnh, bị tổn thất nặng nề. Nhưng anh sống sót và chỉ bị thương.
(more…)

Trần Thị LaiHồng
Để nhớ môt thời thơ ấu từng chạy qua nhà thờ Ông Già Bến Ngự

tan_da
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939)

Ôn cố tri tân, đọc chuyện xưa nghĩ chuyện nay, dẫu đã ngót trăm năm, hoàn cảnh và tâm trạng có khác, xưa chống ngoại xâm, nay chống giặc ngay trong nước do cấp lãnh đạo cõng về … !!!!!

Trước hiểm họa đất nước bị xâm lăng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có bài thơ Vịnh Bức Dư Đồ Rách. Bài thơ in lần đầu năm 1921, trong tập thơ Còn Chơi.  Đến năm 1925 được tuyển chọn in trong tập Thơ Tản Đà:

Vịnh Bức Dư Đồ Rách

Nọ bức dư đồ thử đứng coi
Sông sông núi núi khéo bia cười
Biết bao lúc mới công vờn vẽ
Sao đến bây giờ rách tả tơi
Ấy trước ông cha mua để lại
Mà sau con chắu lấy làm chơi
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

lam_chuong
Nhà văn Lâm Chương

Không phải mặc nhiên tôi chọn đầu tựa như vậy để bước vào không gian văn chương của nhà thơ nhà văn Lâm Chương, nhưng là cái chọn lựa tâm đắc mà suốt hơn 40 năm nhiều lúc dong ruỗi cùng anh trong nhiều đoạn đường dài đầy gió bụi. Bao giờ tôi cũng rất thán phục những thành công thật tuyệt vời của Lâm Chương, trong từng giai đoạn sãi vó phi nhanh trước một không gian diệu vợi của nghệ thuật. Thật ra, tựa bài phát xuất từ cuộc phỏng vấn của Triều Hoa Đại gom lại trong đề bài Lâm Chương, ngựa Hồ hí gió Bắc . Bài phỏng vấn khá dài, có đoạn so sánh một tác giả được ưa chuộng nhất ở Nhật Bản hiện đang sống rời xa tổ quốc là nhà văn Haruki Murakamai phát biểu, chỉ có thể tìm thấy quê hương khi ở xa quê hương. Vậy, Lâm Chương cũng là nhà văn đang sống xa tổ quốc, anh có cùng quan điểm đó không? Lâm Chương trả lời: “Khổ quá. Anh cứ gọi tôi là nhà văn. Tôi chỉ là chứng nhân thời đại, và đang viết bản tường trình về những gì đã nghe thấy mà thôi. Ý nhà văn Haruki Murakamai muốn nói tìm thấy quê hương ở trong lòng mình. Tôi cũng nghĩ thế. Người xa quê hương, viết về quê hương thắm thiết hơn người ở tại quê nhà”. Tôi nhớ gần kết bài phỏng vấn, nhà thơ Triều Hoa Đại phát biểu bạn bè nói dù lưu lạc nơi đâu hay trong hoàn cảnh nào thì Lâm Chương cũng là Lâm Chương, chẳng khác gì ngựa Hồ mỗi khi gió Bắc lồng lộng thổi về thì chẳng bao giờ quên cất tiếng hí đau thương.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

hoai_ziang_duy
Nhà văn Hoài Ziang Duy (Ảnh tư liệu tác giả)

Tập tuyển truyện Ông Tướng Sang Sông của nhà văn Hoài Ziang Duy bay qua nửa vòng trái đất, như một hạnh ngộ mang đầy vẻ chân tướng, chuyển tận tay tôi vào một buổi chiều tháng 5/2002. Sự xúc động đầu tiên, tưởng tượng cầm chắc tín hiệu tinh khôi của một hiền giả văn nghệ phố núi quê xưa, vẫn cuộn tròn tâm thức trong một định nghiệp văn chương.

Hình ảnh của 40 năm thoáng qua như gió thoảng, là hình ảnh chân phương cùng nhau bơi ngược dòng đời tụ tán trong môi trường cuồng tín nghệ thuật. Bước trên tuổi trẻ, phong lưu ngất ngưởng trên từng trang giấy mê hoặc kỳ diệu của từng tạp san tự lực, phải chăng là bước đầu cho định kiếp người làm văn nghệ? Một định kiếp chỉ được suy ngẫm trong giai đoạn nầy, mái tóc bắt đầu bạc phếch, ngồi xuôi dòng về dĩ vãng cũng chỉ ghi nhập lại bóng dáng một thời vẫy vùng xa xưa, Một thời, mà trên viền áo trắng còn vương vấn chiếc phù hiệu học trò, và tất cả bằng hữu văn nghệ đều ngất ngưởng trên từng câu thơ, từng đoạn tùy bút của một thời để nhớ để thương…Tài hoa không hiển hiện đột biến, nhưng ít nhất cũng báo hiệu rằng tia sáng là của ngày mai. Vài tia sáng đầu đời như thế buộc chặc tư hướng sáng tạo định mệnh cho vài hiền giả sau nầy, mà Hoài Ziang Duy là một tia sáng ấm áp định kiếp đó.
(more…)