Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Nguyễn Vy Khanh

vo_hong_3
Nhà văn Võ Hồng (1921-2013)

Tác giả

Võ Hồng sinh ngày 2-12-1922 (khai sinh ghi 5-5-1921) tại làng Ngân Sơn, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên. Con một gia đình điền chủ, sớm mồ côi mẹ. Học trường làng, trường phủ Tuy An và trường tỉnh Sông Cầu rồi trường Collège Qui Nhơn. Năm 1940, ông đậu bằng thành-chung, ra Hà Nội học tú tài. Năm 1943, Hà Nội bị đồng minh oanh tạc, ông bỏ về quê nhà. Năm 1945, ông lên Ðà Lạt giữ chức bí thư tòa Tổng Ðốc bốn tỉnh cực Nam Trung Việt thời nội các Trần Trọng Kim, sau đó ông trở lại Tuy Hòa dạy học. Ông làm hiệu trưởng một trường trung học thời kháng chiến. Năm 1954, ông vào định cư hẳn ở Nha Trang và dạy học tại các trường trung học Lê Quý Ðôn và Bồ Ðề. Ðầu thập niên 1970, ông được cử làm hội viên Hội đồng Văn hóa giáo dục. Ông lập gia đình với một giáo sư Anh văn và âm nhạc nhưng bà mất sớm; từ 1957, ông “gà trống” nuôi ba con lúc mẹ mất mới 9, 6 và 3 tuổi. Võ Hồng khởi viết truyện ngắn từ năm 1939 trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy (Hà Nội) với bút hiệu Ngân Sơn. Sau này viết báo ở trong Nam ông dùng tên thật làm bút hiệu.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

bia-toi_khong_con_co_doc

Tôi Không Còn Cô Độc (1956)

Như thiền thi đời Trần lên núi hét một tiếng để nhận chân thân phận cát bụi nhỏ nhoi của mình trong hư vô, Tôi loan báo “Tôi Không Còn Cô Độc” để thấy hiện rõ cái cô độc của mình, của thân phận con người.

Nhưng tôi chấp nhận vì tôi muốn làm kẻ nhập cuộc, hết mình dấn thân, để tự giải thoát. Tôi bất chấp ám ảnh, cạm bẫy, lừa dối, buồn nôn vây phủ, cả tự tử và tha nhân là địa ngục (Jean-Paul Sartre). Tôi “phải” khởi đi từ những yếu lý siêu hình đó! Mở đầu tập Tôi Không Còn Cô Độc đã có hàng chữ tự xác định mảnh đất thi ca riêng, nhưng cũng là một phản ứng của kẻ loan truyền cái mới, cái khác:

“Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

thanh_tam_tuyen-duy_thanh
Thanh Tâm Tuyền qua nét vẽ Duy Thanh

Thanh Tâm Tuyền (sanh năm 1936, mất 22-3-2006), một trong những khuôn mặt văn nghệ trội bật của miền Nam thời kỳ 1954-1975, bắt đầu văn nghiệp với thi ca, tiếp nối với tiểu thuyết và trở lại với thơ trước khi ngưng viết. Về thơ, hai tập Tôi Không Còn Cô Độc (1956) và Liên, Đêm Mặt Trời Tìm Thấy (1964) như là những tuyên ngôn cho thơ Tự do chúng tôi đã dành ở một chương khác. Về văn xuôi, các tác phẩm tiêu biểu của ông là Bếp Lửa (1957) và Khuôn Mặt (1964), Dọc Đường (1966) – hai tập sau là những tập truyện ngắn. Ngoài ra ông đã xuất bản các tập tiểu thuyết khác, Cát Lầy (1967), Mù Khơi (1970), Tiếng Động (1970), Một Chủ Nhật Khác (1975),… một tập Tạp Ghi (1970) gồm những bài viết trên nhật báo Tiền Tuyến ký Ba-Tê, một tập kịch Ba Chị Em (1967), và một tập thơ sau khi ông sang Hoa Kỳ định cư theo diện HO, Thơ ở Đâu Xa (1990).
(more…)

Thụy Khuê

thanh_tam_tuyen_5-dinh_cuong
Thanh Tâm Tuyền (sơn dầu trên bố 16 x 20 in) – Đinh Cường

Sự ra đời của Sáng Tạo

Trong vòng mười năm, từ 1945 đến 1954, những xu hướng đổi mới văn học nghệ thuật tạm thời lắng xuống, một phần vì chiến tranh, một phần vì chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản mà Tố Hữu là đại diện chính thức, chủ trương đề cao thơ mới. Những người có đầu óc cách tân dần dần bỏ cuộc: Nguyễn Xuân Sanh (Xuân Thu Nhã Tập) quay lại với thơ mới, Tô Ngọc Vân vẽ tranh tuyên truyền, Nguyễn Đình Thi làm thơ có vần, Văn Cao im lặng…

Những đòi hỏi đổi mới tư duy văn học trổi dậy sau ngày chia đôi đất nước. Ở Bắc, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm tranh đấu cho tự do sáng tác, chủ trương cách tân văn học, dân chủ hóa đất nước. Riêng trong địa hạt thi ca, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt muốn đoạn tuyệt với thơ mới, để bước vào thơ hiện đại. Nhưng họ thất bại và phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dẹp tan. Mãi đến cuối thập niên 80, nhóm Nhân Văn mới được “phục hồi”. Đặng Đình Hưng trở lại văn đàn với Bến LạÔ Mai, Lê Đạt với Bóng Chữ. Thi pháp của họ đánh dấu khuynh hướng hiện đại thơ ở Bắc.
(more…)

Nguyễn Vy Khanh

rung_phong_1

Sau biến cố 30-4-1975, báo-chí miền Nam đã theo người tị nạn ra xứ người và một nền văn học không cộng sản tiếp nối nền văn học khai phóng, dân-chủ, tự do cùng với các sinh-hoạt chính-trị, xã-hội của con người Việt-Nam Cộng-Hòa. Đầu tháng 5 năm 1975, chính phủ Canada đã bắt đầu đón nhận người Việt miền Nam đến tị nạn chính-trị; báo-chí tiếng Việt cũng từ đó xuất hiện liên tục gần 38 năm qua với sứ mạng, mục-đích và sinh-hoạt mỗi thời. Chúng tôi trình bày sơ lược theo thứ tự xuất hiện và dĩ nhiên thể nào cũng còn nhiều thiếu sót, nhất là những vùng ngoài các tỉnh bang Ontario và Quebec.
(more…)

Phan Ni Tấn

bia_nuoc_mat_cua_rung

Amai B’Lan là bút hiệu của một cô giáo từng dạy học thiện nguyện ở miền cao. Cô còn rất trẻ và dù chỉ dạy một quãng thời gian ngắn tại một buôn làng heo hút của miền Thượng du nhưng cũng đủ để cô thực hiện được ước mơ nhỏ bé của mình là viết ra tập bút ký mang một cái tên hết sức “miền Thượng”: Nước Mắt Của Rừng *.

Đọc Nước Mắt Của Rừng, người đọc dễ nhận thấy ngay Amai B’lan viết về Tây nguyên với biết bao thiện chí chân thành như viết về cuộc đời mình: “Tôi mê cao nguyên không đơn thuần chỉ vì vẻ đẹp trinh khôi của nó, mà còn vì trong chuyến đi mạo hiểm đầu đời, tôi được những con người tốt bụng của cao nguyên đùm bọc khi sa cơ lỡ bước. Giờ đây, tôi muốn làm một cái gì đó cho vùng đất đáng yêu này.”
(more…)

Lê Thương

tha_la_xom_dao

Tha La, trước năm 1975, người dân Miền Nam đã nghe tên nầy qua các bản nhạc “Tha La Xóm Đạo”, “Hận Tha La”, “Vĩnh Biệt Tha La”. Tha La nằm trong vùng Trảng Bàng, nếu bắt đầu đi từ Sài-Gòn theo hướng Tây Bắc đến Hóc Môn rồi vượt Củ Chi và đến quận Trảng Bàng.

Từ Trảng Bàng theo con đường đất đỏ mà hai bên đường là các thửa ruộng, rẫy chen lẫn với các nhà dân. Tha La chỉ là một xóm nhỏ với những mái nhà lợp tranh, lợp tôn nhưng thỉnh thoảng cũng có những nhà lợp ngói thấp thoáng sau những vườn cây ăn trái. Nguyên thủy Tha La tên gốc từ chữ Schla của người Khmer, có nghĩa là trại hoặc nơi nghỉ mát rồi không biết từ khi nào người Việt đọc Schla thành Tha La và địa danh nầy tồn tại cho tới ngày nay. Tha La thuộc ấp An Hội, Xã An Hòa nằm trong quận Trảng Bàng thuộc tỉnh Tây Ninh và là một Xứ Đạo Thiên Chúa. Từ thời vua Minh Mạng dân theo đạo trốn chạy lánh nạn vào đây rồi khai quang lập ấp, xây dựng cuộc sống để bảo tồn nền đạo cùng niềm tin Thiên Chúa. Trong Tha La, nơi nhộn nhịp, trù phú nhất là khu vực dân cư sống chung quanh họ đạo gần nơi thánh đường Thiên Chúa Giáo. Tuy nhiên, cũng có một số người theo đạo Phật, theo đạo Cao Đài hay thờ cúng tổ tiên sống ở Tha La.
(more…)

Trần Văn Sơn

tran_phu_the
Nhà thơ Trần Phù Thế

Nhà thơ Trần Phù Thế được nhiều người biết đến ở hải ngoại sau khi anh xuất bản hai tập thơ: Giỡn bóng chiêm bao (2003), Gọi khan giọng tình (2009), những bài thơ đăng trên các báo Khởi Hành, Văn Hóa Việt Nam, Thư Quán Bản Thảo … và trên các trang báo điện tử như: Sáng Tạo, Da Màu, Phố Văn… Anh còn phụ trách trang thơ trên tuần báo Tuổi Trẻ ở Dallas – Texas. Thật ra, anh làm thơ đã lâu, lúc còn ở Việt Nam, từ thuở cắp sách đến trường, gần nửa thế kỷ nay. Năm 1962, anh cùng với Lâm hảo Dũng – Lưu Vân – Triệu Ngọc thành lập thi văn đoàn Cung Thương Miền Nam tại tỉnh Sóc Trăng, về sau có thêm nguyễn lệ Tuân – Trần biên Thùy, mục đích phổ biến thơ văn của nhóm trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Bài thơ đầu tiên của anh mang tựa NHẠC TRĂNG đăng trên báo VĂN vào thập niên sáu mươi với bút hiệu MẶC HUYỀN THƯƠNG. Cần phải nói thêm, tạp chí Văn là tờ báo văn học nghệ thuật nổi tiếng tại Việt Nam. Chủ nhiệm Nguyễn đình Vượng, thư ký tòa soạn Trần phong Giao, và sau là nhà văn Nguyễn xuân Hoàng. Bài vở chọn lọc cẩn thận, thơ văn đăng trên báo này rất có giá trị. Những nhà văn đã thành danh như Y Uyên, Lê văn Thiện…đều xuất thân từ tờ Văn. Anh còn có bài trên các tạp chí Thời Nay của Khánh Giang, Khởi Hành của Viên Linh …Năm 1967, anh định in tập thơ đầu tay “ Thầm yêu trộm nhớ ’’ nhưng không thực hiện được vì có lệnh nhập ngũ vào trường SQTB Thủ Đức.
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

le_lai

Trong bài Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Vương mở đầu: “Dư thường văn chi: Kỷ Tín dữ thân đại tử nhi thoát Cao Đế…”(Ta thường nghe Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế….)

Trong truyện Lê Lai, theo Đaị Việt Thông Sử chép: Trước tình thế nguy cấp, Lê Lợi họp các tướng lại hỏi:

– Nay thế trận nguy hiểm có ai dám bắt chước Kỷ Tín đời Hán, thân khoác hoàng bào mà chết thay ta không?

Các tướng ngồi yên không ai dám thưa. Duy, chỉ có Lê Lai đứng dậy nói:

– Thần nay nguyện tử trận thay cho Chúa Công….

Vậy Kỷ Tín là ai ? Lê Lai là ai? Và Lê Lai so với Kỷ Tín, ai dũng khí hơn ai ?
(more…)

Lê Thương

kieu-mai_thu
Kiều – tranh Mai Thu

Đoạn Trường Tân Thanh tức Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du là một áng văn chương tuyệt tác của nền văn học Việt Nam, được phổ cập sâu rộng trong mọi từng lớp dân gian, từ trí thức cho đến bình dân. Sở dĩ được như vậy là vì ngoài giá trị độc đáo của văn chương, Truyện Kiều còn gói ghém những thực trạng xã hội với những tình tiết tâm lý éo le khiến người đọc có thể tìm thấy đâu đó trong Truyện Kiều hoàn cảnh và tâm trạng của chính mình rồi ngâm lên cho khuây khỏa nỗi lòng. Chẳng hạn như chúng ta, những kẻ đang sống nơi đất khách quê người bèn mượn hai câu Kiều để gởi gấm tâm trạng nhớ nước, thương nhà:

Đoái trông muôn dặm tử phần,
Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
(more…)

Trần Văn Nam

bia_sach-xe_len_xe_xuong

Đọc truyện “Xe Lên Xe Xuống” của Nguyễn Bình Phương, ai cũng nhận ra tác phẩm viết thật phức tạp, chuyện này bắt qua chuyện khác, quá khứ hiện tại tương lai không theo thứ tự, nhân vật khi có tên khi không tên, nội dung khó hiểu vì thiếu mạch lạc theo cảm nhận thông thường. Các nhà văn học, với những bài viết mà người viết bài này đã đọc qua nói về tác giả này: như  Hoàng Đăng Khoa, Thụy Khuê, Phạm Xuân Đài, Phan Tấn Hải… đều nhận xét tác giả viết theo lối tân kỳ, hoặc là Hậu-Hiện-Đại, hoặc pha trộn vài khuynh hướng khác như Viết-Theo-Dòng-Ý-Thức; Hiện-Thực-Huyền-Ảo, Tiểu-Thuyết-Mới. Nói chung, họ đều nhận xét đây là tác phẩm đóng góp được nét sáng tạo vào văn học Việt Nam. Có thể cấu trúc vạch ra đây không đúng trăm phần trăm, nhưng chắc cũng có phần nào được hé lộ. Phần viết trọng tâm thứ hai của bài này: thử nêu ra Tính Thơ Huyền Ảo, điều này có màu sắc khác với Siêu Thực Huyền Ảo hay Hiện-Thực-Huyền-Ảo mà tác giả có ý định đưa vào. Phần viết thứ ba, xin thử nêu ra một thông điệp tiềm tàng trong tác phẩm, những thông điệp không phải phỏng đoán mà do những điều tác giả thường lặp lại, hàm chứa thông điệp ta bắt gặp khi đọc dù chỉ một lần.
(more…)

Tiêu Dao Bảo Cự

bia_sach-ben_thang_cuoc

Cuốn sách Bên thắng cuộc của tác giả Huy Đức vừa mới ra đời đã tạo thành một hiện tượng, nhiều người tìm đọc, giới thiệu cho nhau, ngợi ca và phê phán. Một cơn sốt trong dư luận như thế này là điều hiếm có từ một cuốn sách khá khô khan.

Về bản thân cuốn sách Bên thắng cuộc

Nội dung của Bên thắng cuộc không phải là vấn đề mới. Lịch sử Việt Nam sau 1975, ai đã từng trưởng thành trong giai đoạn này mà không sống trải, chiêm nghiệm hay nghe, biết ít nhiều về những gì đang trào sôi trên đất nước và ảnh hưởng đến từng số phận con người. Cái mới ở chỗ tác giả đã tập trung vào một số chủ đề nổi cộm với cách trình bày sáng sủa, đầy ắp tư liệu để cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể, sinh động và liên tục.
(more…)

Vy Vy

trong_thuy-my_chau

Tác phẩm âm nhạc trường ca Trọng Thủy Mỵ Châu của nhạc sĩ Vĩnh Điện , theo truyện thơ Nguyễn Thu Hà, hòa âm nhạc sĩ Kiên Thanh, biểu diễn ca sĩ Kim Khánh, Đăng Hiếu, Thái Hòa và nhóm bè V&V. Độ dài 32 phút, có bốn chương hồi.

Tác phẩm được nhạc sĩ Vĩnh Điện và nhà thơ Nguyễn Thu Hà viết từ cảm hứng qua mối tình Trọng Thủy Mỵ Châu bị lợi dụng cho những mưu đồ chính trị của Triệu Đà ( cha Trọng Thủy ). Và cuối cùng Thục Phán kết liễu đời mình sau khi giết con là Mỵ Châu, còn Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự tử với cả khối tình sâu đậm. Triệu Đà đã thắng bằng âm mưu chính trị trong đó lợi dụng hạnh phúc của cả con mình. Biết đâu ở một góc khuất nào đó Triệu Đà có ăn năn ??? Mối tình này để lại ngàn đời sau những viên ngọc trai được rửa ở giếng ngọc sẽ sáng và đẹp tuyệt vời như những gì họ đáng được hưởng. Chúng ta có thể tham khảo thêm nội dung ở bài viết của Trường Đinh trên trang Sangtao.org
(more…)

Trần Văn Nam

cover-wuthering_heights

Người lữ khách Lockwood đi tìm sự yên tĩnh cho tâm hồn trong miền đồng cỏ Gimmerton, được chủ nhân Đỉnh Gió Hú cho mướn chỗ trú ngụ tại trang trại Thushcross-Grange cách đó bốn dặm đường. Đỉnh gió hú, nơi có lâu đài hoang vắng, có người chủ nhân Heathcliff lạnh lùng và những người thân cận lặng lẽ như cái bóng biệt lập với đời sống văn minh, nơi có oan hồn lảng vảng trên đồng cỏ hoang sẽ trở về trong những đêm khuya gió thổi lồng lộng.  Lockwood hoang mang muốn tìm hiểu sự thật, và quá khứ của những chủ nhân trên lâu đài được lần lượt kể lại qua lời của bà lão Nelly Dean, kể lại bắt đầu từ ngày bà còn thơ ấu theo mẹ giúp việc trên lâu đài Đỉnh Gió Hú.
(more…)

Lê Thương

nguy_van_tha

Trận hải chiến đẫm máu ở Hoàng Sa-Trường Sa giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Cộng bắt nguồn từ ngày 11-1-1974 khi Trung Cộng lên tiếng tuyên bố các quần đảo nầy thuộc lãnh thổ của họ, đồng thời họ gởi nhiều tàu chiến ngụy trang tàu đánh cá đổ quân lên các đảo lân cận.

Ngày hôm sau, 12-1-1974, Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa Vương Văn Bắc cực lực bác bỏ những luận điệu ngang ngược, vô căn cứ nầy và mạnh mẽ lên án trước dư luận thế giới về ý đồ xâm lăng của Trung Cộng. Để bảo tồn sự vẹn toàn lãnh thổ, ngày 15-1-1974, Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam phái Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ16 ra tăng cường tuần tiễu và bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam ta. Ngày xưa, vị anh hùng Lý Thường Kiệt mang gươm đi đánh Tống, ngày nay con tàu mang tên ông cũng đang lướt sóng trực chỉ Biển Đông, sẵn sàng chống giữ Hoàng Sa.
(more…)

Trần Văn Nam

nguyen_van_sam
Nhà văn Nguyễn Văn Sâm

Nhớ một lần, người viết bài có đọc qua một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Văn Sâm mà đến nay chưa sưu tầm lại được, nên không còn nhớ nguyên văn đầy đủ nhan đề, hình như là “Theo Dấu Huyền Trân Công Chúa”. Huyền Trân theo trong truyện này là những Huyền Trân con nhà thường dân nghèo khổ ở Sài Gòn thời xa xưa, lấy chồng ngoại chủng như người Ấn Độ (vài người làm nghề cho vay nặng lời nên dân chúng không thiện cảm, thường gọi họ là những Anh Bảy Chà-Và), hoặc  người Trung Hoa (những thương buôn nào đầu cơ tích trữ làm nhũng loạn thị trường thì dân chúng mất cảm tình gọi là mấy anh Cắc-Chú, do phát âm từ-ngữ khách-trú không chính xác); hoặc thực dân Pháp đang đô hộ người dân không ưa gọi là “Tây Lang-Sa”. Nhưng những phụ nữ Việt lấy chồng người ngoại quốc như vậy, đôi người lại thành công ở chỗ nương nhờ thế-lực tài-chánh của chồng mà giúp đỡ dân chúng nghèo khổ người Việt. Vài người thành công hơn nữa, đã chuyển hướng từ những người chồng làm tai hại nước Việt thành những người chồng cùng vợ làm phát triển kinh tế cho Việt Nam. Vì vậy mà nhà văn Nguyễn Văn Sâm gọi họ là những “Huyền Trân bình dân” noi theo dấu vết giúp dân giúp nước của “Huyền Trân Công Chúa” thời nhà Trần.
(more…)

Lê Thương

cong_chua_huyen_tran
Công chúa Huyền Trân – Thanh Trí

Trải qua 707 năm, từ năm 1306 đến năm 2013, trong chiều dài của trang sử Việt, có lẽ thiên tình sử “Duyên Việt-Tình Chiêm” là một bi kịch tình sử đã làm tốn nhiều giấy mực cho giới văn nhân thi sĩ.

Thật vậy, qua bài học “Trọng Thủy-Mỵ Châu”, người Việt xưa kia rất bảo thủ trong việc gả con gái cho người dị chủng nên dân gian có hai câu ca dao chê trách cuộc hôn nhân này:

Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [16], [17]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

II-Tại sao viết?

Viết và đọc

Câu hỏi Tại sao viết? là nội dung của chương hai. Để trả lời, Sartre phân tích mối tương quan giữa viếtđọc như sau:

Văn chương giống như con quay, nó chỉ hiện hữu khi chuyển động, mà muốn nó chuyển động lại cần một hành động khác, là đọc. Tóm lại, văn chương chỉ hiện diện khi người ta đọc nó, nếu không, nó chỉ là những vết ngoằn ngèo trên giấy. Nhưng nhà văn lại không đọc được những gì mình viết ra (sđd, trang 48). Tại sao vậy? Sartre giải thích:

Hành động viết hàm chứa một động tác khác, gần giống như đọc, và chính động tác này đã làm cho tác giả không thể đọc văn bản của mình như những độc giả khác: Khi những chữ tuôn ra ngòi bút, tác giả nhìn thấy chúng, nhưng anh ta không khám phá ra chúng như một người đọc bình thường, bởi vì anh ta đã biết chúng từ trước khi viết ra. Cho nên cái nhìn của tác giả không phải là cái nhìn của người đánh thức những con chữ đang ngủ, mà chỉ là để kiểm soát những ký hiệu ngôn ngữ (mà anh vừa viết ra) là đúng hay sai: một công tác thuần túy sửa chữa không có hiệu năng gì hết, trừ việc điều chỉnh những sai lầm.
(more…)

Lâm Hảo Dũng

bia_sach-de_trang_khuya

Tập thơ do nhà xuất bản Thư Ấn quán xuất bản năm 2011.

Con người phải chăng luôn tự hỏi mình, bởi kiếp người may rủi, sướng khổ, thành công hay thất bại; thậm chí ngay cả việc sinh tử cũng đành phó thác cho Trời. Ðấng tạo hóa vô tưlững lờ như chẳng biết, chẳng nghe, chẳng thấy. Như mây cứ phiêu du, như nước cứ trôi, như ta làm gã tiều phu cứ lên rừng đốn củi, nhưchàng thợ may cứ miệt mài cắt đo, may vá, và ngay cả như chính tác gỉa một người lính tài tử , bỏ chốn đông người rủ nhau vào rừng chơi trò cút bắt bằng súùng đạn, nhưng trong trái tim của tác gỉa rất trung chính, chân thành. Ta thấy tác gỉa có phong vị của một thiền gỉa ngồi đâu đó trên núi, ngắm trăng chim, ngắm sương mây bao phủ, ngắm mình và cảm khái than:

“ Trời đất thấy ta ngồi trên núi không?
Ngọn thấp ngọn cao, đá dựng đá chồng
Ðãï rêu phong ta nghìn năm sinh tử
Mưa nắng cõi người bao giờ đơm bông”
(Trên đỉnh mê xưa, trang 10)
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15], [16]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Trong cuốn L’imaginaire – Vùng tưởng tượng, Sartre dùng hiện tượng luận để phân tích trí tưởng tượng l’imagination dẫn đến vùng tưởng tượng nói chung, giúp ta giải mã một số câu hỏi nền tảng của văn chương nghệ thuật, nói riêng: Thế nào là một hình ảnh (image)? Làm sao để có một hình ảnh? Khi nói: “Tôi có hình ảnh Pierre (trong đầu)”, có nghiã là óc tôi đã trải qua bao nhiêu giai đoạn? Tóm lại, khi nói: Tôi có hình ảnh Pierre, thì chắc chắn Pierre là đối tượng trong ý thức hiện tại của tôi. Một khi ý thức này chưa thay đổi, tôi có thể tả được một khía cạnh của Pierre đang hiện ra trong óc (ví dụ: Pierre đứng hay ngồi, Pierre ở Paris hay Berlin…) nhưng tôi không tả được hình ảnh này đúng như nó hiện ra. Nói cách khác: Tôi thấy Pierre hiện ra trong óc, nhưng muốn mô tả Pierre như thế nào thì tôi chịu. Để xác định rõ đặc tính hình ảnh này, tôi phải vận dụng đến một hành động mới của ý thức: tức là tôi phải suy nghĩ. Có nghiã là tôi phải bỏ Pierre sang một bên để hướng về cái cách mà Pierre hiện ra trong óc. Động tác suy nghĩ này giúp tôi xác định: “Tôi có một hình ảnh”. Vậy động thức suy nghĩ cấp cho ta cái bản chất của hình ảnh.
(more…)

Thụy Khuê

bia_sach-ngoi_hong_vay_uot

Sau hơn ba mươi năm kết thúc chiến tranh, những đề tài về chiến tranh dường như cũng biến mất trên văn đàn chính thống Việt Nam. Chúng đã đầu thai kiếp khác hoặc tìm cách trốn ra nước ngoài. Ngồi hong váy ướt, tập truyện mới nhất của Võ Thị Hảo hội đủ hai yếu tố: đầu thai kiếp khác mà vẫn phải chạy ra nước ngoài, tháng 7 năm 2012, tủ sách Thi Văn Hồng Lĩnh của Bùi Xuân Quang ở Paris, xuất bản.

Võ Thị Hảo sinh năm 1956 tại Diễn Châu, Nghệ An, nổi tiếng trên văn đàn với các tập truyện ngắn Biển cứu rỗi, 1992, Chuông vọng cuối chiều, 1994, Người sót lại của rừng cười, truyện dài Giàn thiêu, 2003, vv…

Trong tác phẩm mới nhất, Võ Thị Hảo nhìn hội chứng chiến tranh, độc tài và tội ác như tác dụng nhân quả thể hiện qua những truyện ngắn huyền ảo. Cảm giác bị tấn công mãnh liệt bởi những mạnh vụn trái phá và những chân rết ung thư tội ác tàn phá nội tạng người đọc.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14], [15]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Tóm tắt lịch trình phê bình nửa đầu thế kỷ XX

Những khuynh hướng khác nhau trong phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX, gần như đã phát triển một cách độc lập. Những trường phái, phong cách, ít có điều kiện trao đổi hoặc phối hợp với nhau bởi sự giao lưu tư tưởng giữa các nhà phê bình chưa được phát triển vì hai lẽ: Đại chiến thứ nhất và Cách mạng tháng mười kéo dài hậu quả phân chia thế giới, lãnh địa. Việc dịch thuật chưa mở rộng kể cả ở những nước tiên phong như Pháp, Đức… Vì vậy, phê bình Nga và Đức hầu như không “biết” nhau. Thêm nữa, các thể chế độc tài Cộng sản và Đức Quốc Xã thống trị trên sự đàn áp tư tưởng, tác phẩm nghiên cứu của nhiều nhà phê bình bị vùi dập, bản thân nhà phê bình bị đe dọa. Để trốn tránh chế độ độc tài, một số nhà phê bình Nga và Đức phải chạy ra nước ngoài. Rồi đại chiến thứ nhì gây thêm đổ vỡ, tan nát, làm chựng việc giao lưu tư tưởng. Đó là những lý do khiến những khuynh hướng phê bình trong nửa đầu thế kỷ XX, tuy phong phú, nhưng không liên lạc mật thiết với nhau. Mỗi cá nhân, mỗi xu hướng làm việc riêng rẽ, ít có sự kết hợp tư tưởng một cách “toàn cầu” như hiện nay.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13], [14]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Georges Poulet sinh tại Chênée, thuộc tỉnh Liège, Bỉ, ngày 29/11/1902, và mất tại Bruxelles ngày 31/12/1991. Sau khi tốt nghiệp đại học Liège, ông giảng dạy tại nhiều đại học trên thế giới: Edimbourg, Baltimore (1952), Zurich (1956), Nice (1968). Georges Poulet coi Marcel Raymond như một người bạn, một người cha của trường phái ý thức. Khi được nhận chức giáo sư danh dự tại đại học Genève, trong thư viết cho Raymond, có câu: “Đúng là tôi thấy mình có liên hệ chặt chẽ với đại học Genève, vì đó là trường của anh, nhờ anh (…) mà một trường phái phê bình đã phát sinh tại đây, và có thể nói, mỗi ngày tôi đều cảm thấy mình hân hạnh và sung sướng đã có phần đóng góp”. (Marcel Raymond – Georges Poulet, Correspondance (1950-1977), Corti, 1981).

Georges Poulet được coi là cha đẻ của nền phê bình mới.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12], [13]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Phê bình ý thức, phát xuất từ Thụy Sĩ, có thể coi như chiếc cầu nối giữa hai dòng phê bình lớn: dòng ngữ học, phát triển nửa đầu thế kỷ XX ở Nga và dòng ký hiệu học, phát triển nửa sau thế kỷ XX, ở Pháp. Nếu các nhà hình thức Nga chuyên chú vào việc khảo sát văn bản, gạt ra ngoài những yếu tố khác như lịch sử, xã hội, tác giả, và các nhà bác ngữ học Đức đưa ra một cái nhìn toàn bộ về văn học sử và văn chương Âu Châu, thì các nhà ý thức ở Genève, chú ý đến quan hệ nội tại giữa người đọc và người viết.
(more…)

Phan Thành Khương


Cao Bá Quát (1809 – 1855)

Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông từng được mệnh danh là “Thánh Quát”. Thơ chữ Nôm của ông đã hay, thơ chữ Hán của ông càng hay hơn.

Sa hành đoản ca“(Bài ca ngắn đi trên cát) của Cao Bá Quát là một bài thơ chữ Hán độc đáo, kín đáo, nhiều tầng nhiều lớp nghĩa, hiện thực mà tượng trưng, tượng trưng mà hiện thực. Bài thơ biểu hiện một tinh thần phản kháng, một tư tưởng phủ định, một sự thức tỉnh của người trí thức trước thời cuộc.

SA HÀNH ĐOẢN CA (Phiên âm)

Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia  mĩ thụy ông,
Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng!
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung.
Phong tiền tửu điếm hữu mĩ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu tuý giả đồng.
Trường sa, trường sa nại cừ hà?
Thản lộ mang mang uý lộ đa.
Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca,
Bắc sơn chi bắc sơn vạn điệp,
Nam sơn chi nam ba vạn cấp.
Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

Cao Bá Quát
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

“Không có nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh, phía sau có lửa, phía trước có máu của mình”
(Y Uyên, Mùa Xuân Qua Đèo)

Trên tờ tuần báo Nghệ Thuật, số đầu tiên ra ngày 1-10-1965, Mai Thảo đã dựng lên một tuyên ngôn của những người cầm bút (trong nhóm) về thái độ của nhà văn trước thực tế của đất nước, bằng một cái nhan rất kêu: “Văn học Nghệ thuật trong chiến tranh hiện tại và hoà bình tương lai” bằng thái độ chọn lựa rạch ròi, bằng trách nhiệm và bổn phận trước quốc gia, dân tộc, lịch sử mà nghe cứ như lời rao giảng ngày tận thế với cơn đại hồng thuỷ và chiếc thuyền của Noé:“Nói đến đời sống, cái chết, chiến tranh và hoà bình, lửa máu và nước mắt, nhân phẩm và danh dự, nói đến hạnh phúc, bất công áp bức, ý thức, thượng đế, thân phận con người, triết thuyết, hành động, thực tế và trí tuệ, cá nhân và toàn thể, nói ở đâu bằng ở Việt Nam không nói, nói ở đâu bằng Việt Nam đau khổ, nói ở đâu bằng Việt Nam treo căng trên từng từng bất hạnh, nói ở đâu bằng Việt Nam có quyền nói đến trước tiên? Văn học nghệ thuật chúng ta phải nói lên bằng được sự thực vĩ đại hiện hình trên Việt Nam quằn quại.
Vai trò của Văn học nghệ thuật hiện nay do đó là phải đi vào thực tế chiến tranh, bởi thực tế ấy là một sự thực…” (SĐD).
(more…)

Hoàng Thụy Anh

Người làm thơ đâu dễ dàng tìm đường, phôi thai một giọng điệu, một cách thể nghiệm mới trong sáng tác, thực hiện sứ mệnh đưa thơ đến những vùng thẩm mỹ mới mà họ phải trải qua những thử thách, những đớn đau, tung mình vào chiến trường chữ, vào những thế cờ cuộc đời, lúc ấy, họ có thể gặt hái được thành công. Con đường thơ của Nguyễn Lãm Thắng có nhiều bước chuyển. Sau “Điệp ngữ tình”, “Giấc mơ buổi sáng” (333 bài thơ thiếu nhi), Nguyễn Lãm Thắng thử nghiệm, gieo hạt giống thơ của mình vào thế trận khác: thế trận đời. Ở thế trận này, Nguyễn Lãm Thắng đoạn tuyệt hẳn cái nhìn trong trẻo của “Điệp ngữ tình”, cái hồn nhiên thơ trẻ của “Giấc mơ buổi sáng”, ném vào thơ cái nhìn từ góc độ của người mù, nhờ thế, Nguyễn Lãm Thắng “có thể nói nhiều về điều không thể nói”. Chất thế sự, giọng triết lý trở thành gam màu chủ đạo trong tập thơ “họng đêm”.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11], [12]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Erich Auerbach không đưa ra một phương pháp phê bình kiểu mẫu và cũng không viết lý thuyết văn học. Chỉ cần đọc những bài phê bình của ông thì sẽ hiểu cách ông làm việc như thế nào.

Đến gần cuối cuốn Mimésis [1], ông mới ngỏ mấy lời đại ý như sau: “Tôi chẳng bao giờ có ý định viết lịch sử văn học hiện thực Châu Âu. Làm như thế không những mình sẽ bị đống văn bản đồ sộ đè bẹp, mà còn rơi vào cuộc tranh luận vô ích về việc phân chia các thời kỳ văn học, phân chia các nhà văn theo khuynh hướng riêng, nhất là sẽ gặp những khó khăn trong việc định nghĩa khái niệm hiện thực. Một mặt khác để viết cho đầy đủ, tôi lại phải viết về những hiện tượng mà mình chỉ biết một cách hời hợt. Và để đáp ứng nhu cầu của đề tài, tôi sẽ phải đọc tất cả những phần mà kiến thức tôi thiếu, điều đó tôi cho là vô bổ: bởi chỉ vì cái chủ đề mà tôi chọn mà tôi phải đắm chìm trong một núi thông tin mà nhiều người đã biết hoặc họ có thể tìm thấy trong những sách tham khảo khác. Ngược lại, nếu tôi lấy một số những chủ đề đã có sẵn trong đầu mình, đem đối chiếu với một loạt văn bản quen thuộc và sống động mà mình đã nghiên cứu trong địa hạt bác ngữ học, thì việc này xem ra phong phú và có thể làm được. Bởi tôi tin chắc rằng, những chủ đề chính của lịch sử văn chương hiện thực bắt buộc phải nằm trong bất cứ văn bản hiện thực nào.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10], [11]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Léo Spitzer cùng với Ermst-Robert Curtius (1886-1956) và Erich Auerbach (1892-1956) được coi là ba nhà phê bình lớn nhất của Đức trong thế kỷ XX. Với kiến thức uyên bác về ngữ học, một phương pháp phê bình đặc biệt và một trước tác đồ sộ gồm 33 tác phẩm, 88 bài viết, năm thứ tiếng: Đức, Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, Spitzer được coi là người xây dựng nền móng phong cách học – stylistique hiện đại.

Léo Spitzer sinh tại Vienne, Áo, ngày 7/2/1887 và mất tại Forte dei Marmi, Ý, ngày 16/9/1960. Học ở Berlin và Halle. Dạy đại học Marburg và Cologne. Năm 1933, ông bị buộc rời nước Đức, sang Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Ba năm sau, 1936, ông sang Mỹ ở hẳn, dạy đại học John Hopkins, Baltimore.
(more…)

Phạm Ngọc Thái


Cảnh thôn Vỹ Dạ

Đây thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Hàn Mặc Tử
(Rút trong tập “đau thương” – Thơ điên của HMT)

Bài thơ được mở đầu với lời trách móc của người con gái. Lời trách ấy có lẽ do một hoàn cảnh gặp gỡ nào trước đó được thi nhân nhớ lại:

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
(more…)

Thụy Khuê


Hàn Mặc Tử qua nét vẽ Thanh Trí

Tiểu sử

Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, là con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Duy, sinh ngày 22/9/1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, trong một gia đình công giáo lâu đời, có 6 người con, bốn trai, hai gái (Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín và Hiếu). Cha làm thông phán phải thuyên chuyển dọc theo bờ biển Trung Việt từ Đồng Hới tới Quy Nhơn, khi ông đổi đến Sa Kỳ (1920), Trí và Tín (Nguyễn Bá Tín) mới vào trường tiểu học Quảng Ngãi.

Tháng 6/1926, sau khi cha mất, gia đình về Quy Nhơn sống với người anh cả, Trí và Tín vào trung học ở Quy Nhơn. Sau đó Trí ra Huế học trường Pellerin (1928-1930). Một lần bơi xa ngoài biển suýt chết đuối, từ đó Trí thay đổi hẳn tâm tính, trầm lặng hơn, có vẻ đau yếu, gia đình nghi Trí mắc bệnh tâm thần, ít ăn, lười tắm gội thay quần áo.

Hàn Mặc Tử bắt đầu nổi tiếng năm 1931 với bút hiệu P.T (Phong Trần). Năm 1932, làm việc ở sở đạc điền Quy Nhơn, quen với Quách Tấn. 1935 vào Sài Gòn làm báo. Tháng 5/1936 người anh cả Nguyễn Bá Nhân, cột trụ của gia đình mất. Hàn rời Sài Gòn về Quy Nhơn. Cuối năm 1936, gia đình bỏ tiền cho Hàn in Gái quê.

Ngay từ đầu năm 1935, trong nhà đã thấy xuất hiện triệu chứng bệnh phong. Năm 1936, bệnh phát rõ hơn. Nhà giấu, chữa chạy riêng, tìm đến các thày thuốc bắc. Đến giữa năm 1939, thuốc bắc vô hiệu, bệnh trở nên trầm trọng. Giữa năm 1940, phải đưa vào bệnh viện phong Tuy Hoà. Quá trễ. Thuốc của một vài ông lang băm đã huỷ hoại cơ thể. Hàn Mặc Tử mất tại trại cùi ngày 11/ 11/ 1940, 28 tuổi.
(more…)

Trần thị LaiHồng


Chơi Chong chóng, tranh Võ Đình, UNICEF 63

Đồng dao, đồng diêu: câu hát chơi, con nít hay hát. Đó là định nghĩa đơn giản nhất của Huình Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị,cuốn tự điển đầu tiên của Việt Nam, xuất bản năm 1895 tại Sàigòn.

36 năm sau, Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo Việt Nam Tự Điển, Mặc Lâm xuất bản tại Hà Nội năm 1931 và Nhà In Imprimarie Trung Bắc Tân Văn phát hành, cũng định nghĩa ngắn gọn. Đồng dao: câu hát trẻ con. Hơn thế kỷ sau, tức là cả 103 năm sau, Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin phát hành năm 1998, định nghĩa đồng dao: lời hát truyền miệng của trẻ con, nhưng không đưa ra một câu nào.

Đồng dao được truyền từ đời này tiếp đời nọ, vùng này qua vùng kia, có khi thay đổi, có khi sai lạc, có khi thất truyền, và bị quên lãng. Tác giả hẩu hết vô danh, hay nói đúng hơn, chính dân gian là tác giả.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9], [10]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

Ngay từ năm 1915, khuynh hướng phê bình bác ngữ học Đức đã quy tụ một số nhà nghiên cứu tên tuổi có kiến thức bách khoa, hoạt động trong lòng các đại học như: Frédéric Gundolf (1881-1931), Ernst-Robert Curtius (1886-1956), Erich Auerbach (1892-1957), Léo Spitzer (1887-1960). Đây là một trong những khuynh hướng nền tảng đầu tiên của nền phê bình hiện tại cùng với trường phái hình thức Nga và Bakhtine.

Phát triển cùng thời với trường phái hình thức Nga, một số nhà bác ngữ học Đức cũng phải sống lưu vong như một số nhà hình thức Nga: Từ 1933, khi chủ nghĩa Đức Quốc Xã phát triển, Spitzer và Auerbach phải trốn ra ngoại quốc, viết những tác phẩm chủ yếu ở nước ngoài. Chống lại chính sách dân tộc cực đoan của Hitler, họ muốn xây dựng một Âu Châu đoàn kết toàn diện trong tương quan liên đới và phổ quát của ngôn ngữ văn chương.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên


Nhà văn Võ Hồng (Nguồn: http://vietsciences.free.fr/)

Nửa thế kỷ cầm bút, Võ Hồng viết trên 30 tập truyện ngắn, truyện dài, thơ… không kể đến một số bài báo có tính cách nghiên cứu… Suốt chừng ấy năm với chừng ấy đầu sách, người ta biết nhiều đến ông, báo chí viết nhiều về ông, bạn đọc tìm đến ông như người thân yêu, bởi nhân cách của ông trong cuộc sống và trên những trang giấy. Có những độc giả, sau khi đọc truyện ông bỗng nhớ đến da diết về chốn quê hương cỏ lá, có người “dám cả gan” vào thư viện xé vài trang truyện (ông mô tả một làng quê với viên cốm đầu năm mới) mang về để thấy quê hương thật gần gũi bên mình, để tận hưởng hương vị ngày tết cổ truyền dân tộc như thể mình đang sống trên mảnh đất còn đầy khốn khó này (trường hợp một nữ độc giả ở Úc khoảng năm 87-88). Và có lẽ ông cũng là nhà văn duy nhất sau năm 1975 được nhiều độc giả mến mộ, thư từ, thăm viếng; được các thế hệ sau luôn gọi ông bằng Thầy mỗi khi tiếp xúc. Nhân cách sống và viết của Võ Hồng làm cho độc giả cảm thấy luôn được gần gũi với ông, sách vở của ông để ông trở thành nhà văn của tất cả mọi người. Trong tận cùng sâu thẳm suy nghĩ của độc giả mọi lứa tuổi, ông là người ông, người bác, người chú, người cha, người anh, người thầy đáng kính, vì trải qua bao cuộc bể dâu, nhân cách ông vẫn giữ nguyên vẹn sự kính trọng đó.
(more…)

Phùng Thành Chủng

Năm Đinh Dậu, niên hiệu Quang Hưng thứ 20 (1597) đời Lê Thế Tông, Phùng Khắc Khoan (lúc đó đã 70 tuổi, đang giữ chức Công Bộ tả thị lang) được cử làm chánh sứ sang sứ nhà Minh. Khởi hành từ trung tuần tháng 4 đến tháng 10 sứ bộ đặt chân tới Yên Kinh. Gặp tiết Vạn Thọ của Minh Thần Tông – thay vì những lễ vật quý hiếm, đắt tiền – lễ vật mà Phùng Khắc Khoan dâng lên mừng thọ ông vua nước lớn này là một… tập thơ (30 bài). Đây là tập thơ có nhan đề: “An Nam sứ thần Vạn thọ thánh tiết khánh hạ”. Quả là một lễ vật đặc biệt. Xem xong, Minh Thần Tông đã phê: “Thế mới biết nhân tài không chỗ nào là không có. Trẫm xem thơ, thấy hết lòng trung thành của Phùng Khắc Khoan, rất đáng khen ngợi”. Là một tập thơ chúc thọ được sáng tác kịp thời, nhưng Phùng Khắc Khoan muốn qua đó chứng tỏ nước ta là một nước văn hiến và nhân đó đánh vào lòng tự hào nước lớn của Minh Thần Tông, nhằm buộc Minh Thần Tông phải thừa nhận nhà Lê. Tập thơ này sau đó được vua Minh lệnh cho khắc in để ban hành trong nước (có bài tựa của sứ thần Triều Tiên cũng sang sứ trong dịp đó là Hình Tào tham phán Lý Toái Quang).
(more…)

Phạm Khắc Trung

Lúc có kết quả đậu Tú Tài 2 xong lại cô đơn đâm buồn, bởi cô bồ và đám bạn thân của tôi rớt khóa 1, phải lo gạo bài để thi khóa 2, một mình lang thang không biết đi đâu mới mò vô tiệm sách tìm mua sách đọc qua ngày. Không biết ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào mà tôi ôm về quyển Kinh Dịch của Ngô Tất Tố và quyển Thiền Luận của Suzuki do Tuệ Sỹ dịch. Quyển Thiền Luận tôi rán đọc được ít trang, khi học năm thứ 2 còn có dịp tung ra lòe thiên hạ được, chứ quyển Kinh Dịch thì phát kinh hồn vía.

Năm 1980 đi định cư ở Canada, mấy tháng sau bắt gặp danh mục sách do Đại Nam tái bản, tôi mừng quá mua vội quyển Kinh Dịch của Ngô Tất Tố về giấu trong hộc tủ để dành, sợ sau này không có, chứ lúc đó có rán đọc cũng không đủ sức lật nổi qua trang sau.
(more…)

Trần Thị Nguyệt Mai

Trong bài giới thiệu về tác giả Trần Hoài Thư của nhà văn Mai Thảo đăng trên tạp chí Văn ngày 1-3- 1972, ông đã viết:

“…Người đọc có thể chê trách người lính bệnh của Trần Hoài Thư trong Bệnh Xá Cuối Năm đã đề cập tới những chủ đề lớn như chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước, đoàn viên và thương yêu hai miền, bằng một tâm hồn quá đơn giản, thơ ngây. Người lính của chúng ta hiền quá. Hiền thật. Làm thế nào được. Dân tộc ta hiền, mãi mãi hiền, mặc dầu đã hai mươi năm lâm trận. Cái tính hiền đó được biểu hiện cùng khắp trong những truyện ngắn về tiền đồn, về mặt trận, của Trần Hoài Thư, mà Bệnh Xá Cuối Năm là một.”

Thật vậy, trong các truyện ngắn của anh trong tập “Truyện từ Văn” (*) mà tôi hân hạnh được đọc, nổi bật lên hình ảnh người lính VNCH thật hiền, dù là khi nằm trong bệnh viện hay khi đang lâm trận, hoặc ở bên người em, người tình. Họ chỉ có một mơ ước duy nhất, là ngày hòa bình mau trở lại để trở về với làng quê, xóm cũ, bên cha mẹ già, lấy vợ sinh con. Thôi không còn những ngày nằm mương nằm mả truy lùng địch. Không còn hỏa châu, trái sáng, tiếng đạn bom trên quê hương đã quá nhọc nhằn.
(more…)

Thụy Khuê

Đã đăng: [Phản xạ phê bình], Chương [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7], [8], [9]


Vase with oleanders and books – Vincent van Gogh

III – Thẩm mỹ học và lý thuyết tiểu thuyết

Như chúng ta đã biết, trường phái hình thức Nga mở đầu khuynh hướng nghiên cứu văn học được gọi là khoa học văn chương, chủ yếu dựa trên phương pháp ngữ học, chuyên chú vào văn bản, gạt bỏ những yếu tố khác (như tâm lý, triết lý, tiểu sử…) ra ngoài, đem lại những bước tiến mới cho nền nghiên cứu phê bình trong thế kỷ XX.

Bakhtine, ban đầu, khi còn ở trong nhóm hình thức, đã ủng hộ công lao khai phá của trường phái này, nhưng chẳng bao lâu, nhận thấy những bất cập trong phương pháp phê bình hình thức nên ngay từ 1924, ông đã viết những bài đầu tiên, sau được in trong phần I cuốn Thẩm mỹ học và lý thuyết tiểu thuyết (Esthétique et théorie du roman) [1], để phản bác gần như toàn diện lập luận của trường phái hình thức.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm
Bài nói chuyện tại Viện Việt Học, ngày 15.7 trong chương trình Hội Thảo Bảo Tồn Tiếng Việt ở Hải Ngoại.

Trong chủ đề chánh Bảo Tồn Tiếng Việt Ở Hải Ngoại, tôi xin nói chuyện, thiệt là nhẹ nhàng, nằm trong đề tài nho nhỏ: Nói chuyện nầy nọ về một số từ hơi xưa, hơi khó hiểu. Mục đích là cung cấp một số kiến giải về nghĩa của vài từ vốn còn mơ hồ đối với những người từ 5 mươi, 6 mươi trở xuống, cuối bài sẽ có vài gợi ý về tự điển để phụ huynh có công cụ tương đối tin tưởng được, dùng để giải thích những từ kho khó khi bạn bè, con cái hỏi mình.

Mở hàng, xin kể một chuyện vui vui để giải thích từ láu cá.

Một cô gái phóng xe rất nhanh. Cảnh sát xa lộ đuổi theo cô nàng một đoạn đường dài mới bắt được. Hỏi bằng lái cô nói mình không có. Hỏi thẻ chủ quyền xe cô nói xe mình mới ăn cắp mấy ngày nay. Kêu mở cóp xe cô nói có thứ ông không nên coi, đó là thi thể một người tình phản bội tôi mới giết bỏ vào đó tính đem đi thủ tiêu, kêu cô mở hộp đựng giấy tờ lặt vặt cô nói không nên vì có súng đã lên đạn sẵn trong đó, và khi tôi cầm súng thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra…

Người cảnh sát lùi lại kêu gọi nhiều xe khác đến bao vây xe cô gái. Đèn đỏ xanh chớp chớp nghẹt một khu đường.

Sau nhiều thủ tục an ninh, người trưởng toán thấy không có gì khả nghi: giấy tờ xe đầy đủ, bằng lái chưa bao giờ vi phạm… mới hỏi cô gái:

Sao nhân viên của tôi nói là cô không có bằng lái, xe ăn cắp, chứa súng và có thi thể người bị giết vv…

Vậy thì chắc ông ta cũng nói với ông là tôi chạy xe quá tốc lực nữa chắc? Cô gái nhỏ nhẹ, ngây thơ nói trong tiếng thở dài.

Nghe chuyện nầy chắc ai cũng buột miệng: Láu cá!

Vậy láu cá là gì?
(more…)

Nguyễn Minh Thanh


Phạm Hồng Thái ( 1896 – 1924 )

I. Lược sử: Phạm Hồng Thái ( 1896 – 1924 ), tên thật Phạm Thành Tích, có tên Phạm Đài, hiệu Nho – Tư; con Ông Phạm Thành Mỹ ( hoạt động Phong Trào Cần Vương ) và Bà Trần Thị; người huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Về tên Hồng -Thái, con trai ông Phạm Hồng Thái là Phạm Minh Nguyệt cho là cha của ông đã lấy ý từ câu: ” Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái sơn, hoặc khinh ư Hồng mao ” ( Là người ai cũng chết, có người coi cái chết nặng như núi Thái, có người xem nhẹ như lông chim Hồng ) trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Ông Phạm Thành Tích, lấy 2 chữ ” Hồng ” và chữ ” Thái ” ghép lại, rồi tự đặt tên cho chính mình. Và tên ấy đã trở nên lẫm liệt, đồng thời cũng trường cữu với non sông Lạc Hồng.
(more…)