Trần Kiêm Đoàn

Lâu nay, nhiều người được đọc một bài viết nhan đề: “Lời tự thú của một Sư Cô” [1] được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới thông tin điện tử và báo giấy tiếng Việt toàn cầu.

Đây là lời “tự thú” của một nữ tu sĩ Phật giáo, 50 tuổi đời và có hơn 30 năm tuổi đạo.  Tuy lai lịch thực hư của tác giả chưa được xác định rõ ràng, nhưng người viết đã nói lên hai vấn đề được đề cập khá rộng rãi và thường xuyên trong sinh hoạt đạo Phật từ xa xưa đến bây giờ: Trí tuệ và Pháp môn.
Đọc tiếp »

Võ Kỳ Điền

Buổi sáng hôm đó, tôi và người bạn thân đến nhà cụ Diễn trên một gác nhỏ, trong hẽm đường Hiền Vương. Tôi đang rảnh, Thâu cũng vậy, hai đứa đi loanh quanh trên đường phố Sài Gòn quen thuộc, đã mõi chân nên khi ăn uống xong xuôi, Thâu chợt đề nghị coi bói cho biết tương lai. Nghe tới tên cụ Diễn là tôi chịu liền, từ lâu hằng nghe đại danh cụ và ước ao được gặp. Tôi đâu ngờ Thâu lại là chỗ thân tình với cụ và có thể nhờ coi dùm (mà không phải trả tiền và hình như cụ cũng không lấy tiền của khách, tôi không biết rõ lắm việc nầy)
Đọc tiếp »

Độc hành

Posted: 03/05/2011 in Chân Phương, Thơ

Chân Phương

suối đục cùng núi thẳm
cất tiếng trễ tràng mời
tay bị với tay gậy
lang thang quá nửa đời
Đọc tiếp »

Hồ Chí Bửu

Nỗi buồn Phương Châu 1.

Tình yêu khác với yêu tình
Mình ênh khác với một mình quạnh hiu
Buồn hiu khác với một chiều
Ta treo cổ chết bên lều thơ điên
Cuộc tình như giấc thụy miên
Có hoa có bướm có thiên niên buồn
Có ta với nỗi cô đơn
Rưng rưng từ tạ – giận hờn – thủy chung
Cảm ơn em đến vô cùng
Trái tim ta đã vỡ bùng đêm qua
Tại sao em vội quên ta ?
Tại sao bão táp phong ba kéo về
Ngu ngơ ta giống tên hề
Ấp ôm lấy mãnh trăng thề- của ai !..
Đọc tiếp »

Trình chiếu này yêu cầu JavaScript.

 

Phạm Văn Mùi (1907-1992) là một nhiếp ảnh gia, được xem là một trong những cây đại thụ của nền nhiếp ảnh Việt Nam, chuyên về hình đen trắng và kỹ thuật phòng tối.

Ông sinh ngày 1 tháng 6 năm 1907 tại Nam Định, quê quán làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông. Ông là một trong những nhà nhiếp ảnh sớm nhất của Việt Nam, bắt đầu khởi nghiệp cầm máy từ năm 1923 và từ năm 1932 đã khai trương phòng triển lãm riêng tại Nam Định và gửi ảnh dự thi trong các cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội và nhiều lần đoạt giải. Trong thời gian này, ông cũng chơi thân với nhiếp ảnh gia Võ An Ninh và dạy nhiều học trò.

Di cư vào Nam năm 1954, ông là hội trưởng Hội Nhiếp ảnh Việt Nam từ năm 1958 đến 1971 [4]. Trong thới gian này, ông gửi ảnh tham dự các cuộc Thi Ảnh tổ chức tại các nước Pháp, Hồng Kông, Singapore, Anh, Ý, Tây Ban Nha… và giảng dạy các lớp nhiếp ảnh như tại Hội Việt Mỹ Sài Gòn, Viện Đại học Vạn Hạnh cũng như làm giám khảo những cuộc thi ảnh như bộ môn Nhiếp ảnh giải Văn học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống Việt Nam Cộng hòa từ năm 1969 đến 1975.

Ông từ trần vào ngày 25 tháng 11 năm 1992 tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ.

Những tác phẩm ảnh của ông như bộ ảnh Suối tóc, Duyên dáng, Tâm tư, Theo chiều gió, Đôi dòng thác đã góp phần làm ông nổi tiếng. Riêng tác phẩm Duyên dáng đã được chọn trưng bày vĩnh viễn tại Bảo tàng Mỹ thuật Brazil từ năm 1963 và cũng mang lại cho ông nhiều huy chương quốc tế danh giá.

Nguồn: Wikipedia tiếng Việt

Hà Nguyên Dũng

Tôi quả là một đứa thất phu
chí múc không đầy vỏ hến
sức cùng lắm ngang bằng sức kiến
không nhấc thân lên khỏi mắt đời
Đọc tiếp »

Tạ Duy Anh

Năm lên bảy tuổi tôi được giáo dục khá cẩn thận về vị trí mà tôi đang chiếm một khoảng tí teo giữa cuộc đời mênh mông này. Tôi phải nhớ rằng thành phần gia đình tôi bần nông. Dĩ nhiên bần nông là gì, nó khác địa chủ, phú nông ở chỗ nào thì tôi không biết. Đầu óc trẻ con của tôi làm sao hiểu được những quy định thiêng liêng ấy.

Khi lật tập hồ sơ mỏng teo, có lẽ cũng đơn sơ như tâm hồn tôi, cô giáo dạy vỡ lòng của tôi, xinh đẹp như tiên sa, lẩm bẩm: “thành phần cơ bản”. “Được”. Rồi cô trịnh trọng tuyên bố: “Kể từ hôm nay em có nghĩa vụ phải làm sáng danh cha anh mình”. “Làm sáng danh cha anh mình”. Nghe mù mờ và hấp dẫn quá. Bởi vì ít nhất có một đứa trong lớp “không được làm sáng danh cha anh mình”.
Đọc tiếp »

Đàm Trung Pháp

Ai trên đời mà không âm thầm tiếc nuối tuổi trẻ qua mau, nhưng đã mấy ai để lệ rơi tầm tã trong những lúc bất thần khóc than cho tuổi thanh xuân ra đi không trở lại như nhà thơ Rubén Darío người xứ Nicaragua khoảng đầu thế kỷ 20? Darío ví tuổi xanh như một “kho tàng thần thánh” (divino tesoro) mà sự mất đi là một tiếc thương vô hạn nằm sâu trong tiềm thức, mặc dù cuộc đời nhiều lúc chuân chuyên và nhà thơ chưa hề “gặp một công chúa nào để ngợi ca” (ya no hay princesa que cantar). Vậy mà đoạn thơ bốn câu sau đây, được nhắc đi nhắc lại năm lần, trong danh tác “Bài ca mùa thu trong mùa xuân” (Canción de otoño en primavera) đã làm bao thế hệ độc giả mủi lòng vì mức độ thiết tha của chúng:

Juventud, divino tesoro,
ya te vas para no volver!
Cuando quiero llorar, no lloro …
y a veces lloro sin querer …

Tuổi thanh xuân, kho tàng thần thánh,
đã ra đi để chẳng trở về!
Khi muốn khóc, ta không khóc nổi …
nhưng nhiều khi bất chợt lệ rơi …
Đọc tiếp »

Lâm Hảo Khôi

Chiều đông âm thầm cây đứng đợi
Ta lên biển bắc từ phương nam
Thở hơi gió lạnh run lồng ngực
May còn hơi ấm tóc dài em
Đọc tiếp »

Trần Nguyên Đán


Plaza after Rain by Paul Cornoyer

mưa, nghe rầm rộ mạnh bạo thế
mà đã chấm dứt rồi
còn những giọt mưa rơi vào ly cà phê tôi
thì vẫn còn đó
thậm chí có những giọt
rơi vào trái tim khô
làm cho nó ướt át trở lại
Đọc tiếp »

Hà Khánh Quân


Nguyễn Nam An

Làm thơ không phải là một cái nghiệp. Danh từ nghiệp ở đây thường được hiểu là cái duyên có từ trước. Nó tách rời danh từ kép nghề nghiệp, để khỏi được xem là công việc chuyên môn trong mưu sinh. Việc làm thơ, có người còn cho là nghiệp dĩ. Trạng từ này, chỉ một sự việc vốn đã như thế và còn dây dưa khó dứt. Một số người làm thơ cao tuổi, thường hãnh diện dùng hai từ này. Họ ngầm xem mình có sứ mệnh với thi ca, luôn tiện biện minh cho việc ghiền làm thơ của mình.
Đọc tiếp »

Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Bài viết này khởi đi từ cuộc viếng thăm năm 2008 của tác giả Trangđài Glassey-Trầnguyễn tại Đại học Cornell, nơi mà cô là học giả thứ hai được mời để thuyết trình trong chuỗi Ethnography Workshop cho Ngành Nhân Chủng Học. Tác giả cũng là học giả Việt gốc Mỹ và gốc Á đầu tiên thuyết trình trong chương trình này.

Phần kết của bài viết này, “Thay Lời Kết,” được tác giả dịch từ chung khúc của bài thuyết trình tại Cornell. Một dị bản của bài thuyết trình này cũng được xuất bản trong một chương của tuyển tập “Forgiveness: Probing the Boundaries” do Nhà xuất bản Inter-Disciplinary ấn hành tại Anh quốc năm 2009. Bài viết có những hồi tưởng về thời gian tác giả thực hiện nghiên cứu về người Việt tại Bắc Âu năm 2004-05, dưới sự bảo trợ của chương trình Fulbright, thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. (Chú thích của thư viện)
Đọc tiếp »

Thế Giang

Ga Vinh một buổi tối trời mưa. Một túp nhà lá nằm nép bên vệ đường, phía sau là khoảng nước dở ao dở rãnh, muỗi và cỏ nhiều. Một ngọn đèn dầu run rẩy vì gió, cháy leo lét được treo trước cửa sổ. Một con chó già còm cõi bê bết bùn đất và lạnh, nằm in bóng đèn dầu dưới cửa sổ, tru ư ử trong họng mà không dám vào nhà vì sợ đòn. Gió hú rít xoáy quanh cửa tranh nhau luồn vào nhà. Có tiếng mái tranh cọ nhau xào xạc như van xin. Tiếng chẫu chuộc gọi cái làm nhịp cho mưa rơi.

Bên này cửa sổ:

“Khêu to đèn thêm tí nữa, không tốn dầu lắm đâu.”

Bên kia cửa sổ:

“Thế này đủ rồi, khách xa thừa sức nhìn thấy.”
Đọc tiếp »

Nguyễn Lãm Thắng

Sông mưa

Mưa nghiêng trắng cả đôi bờ
Đưa người đi, gió hững hờ qua sông
Mênh mông, một dải mênh mông
Trời nghiêng sông rộng mà đong giọt buồn
Đọc tiếp »

Kim-Chi

Đứa cháu dừng xe lại ngay trước cửa trạm xe bus, nhìn quanh và nói:

– Dì xuống đi nghe, không có chỗ đậu xe con không xuống với dì được.

Tôi lật đật bước xuống, nói vội vàng:

– Ừ, cảm ơn con nhiều nghe!

– Không có gì đâu, dì có đủ vé xe… giấy tờ rồi phải không?

Tôi gật gù:

– Có rồi con, thôi con đi học kẻo trễ.

– Dạ, con đi, vào trong trạm xe, cần gì thì dì cứ gọi con nghe.

– Ừ…

Tôi len lỏi giữa đám hành khách bước vào trong, trên tay là cái vali nặng trĩu đầy những thứ lặt vặt mà người bạn gói ghém cho. Hành khách bên trong khá đông, không khí ồn ào và có vẻ hấp tấp. Tôi đứng vào xếp hàng để gửi hành lý trước khi lên xe, rồi lại nhìn quanh quan sát, mới sang Mỹ vài tháng nên dạo đó đi đâu tôi cũng thấy rụt rè lo sợ.
Đọc tiếp »

Sao dzậy?

Posted: 01/05/2011 in Thơ, Vọi Ba Làng

Vọi Ba Làng
30-4 lần thứ 36

Một trái tim rất lạnh
Một cái đầu rất điên
Một cái bụng rất hiểm
Một cái mồm cá kình
Một bộ răng cá mập
Một tấm thân dị hình
Một linh hồn hoảng loạn
Một điềm báo chẳng lành
Một mưu toan khuất tất
Một lưỡi dao lăm lăm
Một tổ chức nghịch lý
Một cực quyền khó tin
Một tập đoàn khó gọi
Một bán buôn khó đình
Một số phần khó định
Một tử thần chạy quanh
Một mất còn mấp mé
Một đất nước bấp bênh
Một kẻ thù phồng nở
Một phương bắc quỷ kinh
Một bắc Phi ngẩng cổ
Một Ả Rập chuyển mình
Một kỳ cục: sao dzậy?
Một dân tộc làm thinh!

Vọi Ba Làng
Nguồn: Tác giả gửi

Võ Thị Hảo

Riêng Thuận trông thấy nó. Đó là một con bướm to cỡ bàn tay. Đôi cánh đen điểm vằn nâu và xanh biếc của nó xõa im lìm trên bậc thềm mé lối đi.

Đoàn người dự Hội nghị ở Tây Nguyên đi qua rầm rập. Vậy mà không ai bắt gặp con bướm. Thuận lại gần ngần ngại chạm tay vào. Cánh bướm khẽ động đậy. Thuận lập tức rụt tay lại. Một luồng ớn lạnh người lên ngực. Từ bé Thuận vẫn vừa sợ vừa thích những con bướm ma. Chúng đẹp một cách rầu rĩ, huyền bí, thách đố. Và thông thường chẳng bao giờ gặp chúng, trừ phi chúng sắp chết. Như hôm nay chẳng hạn. Con bướm ma này không biết từ đâu đến, nằm xập xệ bên đường dưới gốc cây ngọc lan trong biệt điện. Nơi đây, xưa kia đã in gót sen của các phi tần. Thuận ngước lên những vòm cây cổ thụ xanh thẫm tuyệt đẹp và tự hỏi: Ngày xưa, mỹ nhân nào đã được vua dìu trên cánh tay đưa về động phòng trong biệt điện thênh thang này? Bao năm trôi qua. Ông vua cuối cùng giờ đã sống nốt những ngày tháng cuối đời tại một chung cư ở Pháp. Song biệt điện này vẫn phảng phất mùi đế vương. Trong vẻ hoang phế vẫn có chút gì đó thiêng liêng và thành kính. Lìa bỏ cõi đời trong một chung cư, biết đâu hồn ông ta đã tìm về lơ lửng đêm nay trong biệt điện và phả vào buổi chiều xám sẫm này một nỗi buồn lạnh lẽo bể dâu?
Đọc tiếp »

Đừng e ngại

Posted: 01/05/2011 in Sử Mặc, Thơ

Sử Mặc

đời tôi bị cắt đục nhiều lần thuở mới oa oa chào đời đã bị cắt lìa rốn mẹ tuổi hoa niên mới chớm bị đè xuống trấn lột da quy kế thường xuyên bị gã hớt tóc đè đầu cắt trụi lũi tóc tai thời thanh niên nỏ có thái bình thịnh trị bị chiến tranh binh động cắt bén nhiều thứ người thân bạn bè cắt luôn tất cả ước vọng đầu đời cho tới lúc tập tễnh làm văn làm thơ cũng bị đục bỏ hà rầm chữ câu rụng rơi tơi tả thơ phú nằm sọt rác ê chề ca cẩm cất giọng ồ ề mạch tim chai cứng mạch máu ô dề e có lúc cần khoét tim nạo phổi mà rồi hôn sự thành hình cái số đời mình cũng bị thanh tra cấm đoán nhiều thứ kể chi tới chuyện rượu chè hút sách gái trai ngắm nghía chỉ có vài ba giấc mơ mộng mị đường hoàng cũng bị kiểm duyệt cuối đời e rằng cũng chưa được giải thoát vì còn đeo nặng của nợ biếng lười và một trái tim bời rời xin đừng e ngại hãy dạn tay đục bỏ như đã từng bóp chẹt sự đời cho đến lúc mọi thứ biến mất ngoài sân chơi
Đọc tiếp »

Hoàng Sa Hành

Posted: 30/04/2011 in Nguyễn Hữu Nhật, Thơ

Nguyễn Hữu Nhật

1.
Đá ở dưới lòng sông nước chảy chẳng mòn,
sóng bao đời nay vẫn vật vã
trên giòng Hát giang
thương tiếc Hai Bà chân yếu tay mềm,
trầm mình, trôi theo vận nước
Nước mất, nhà tan, người phải chết
chết mà những nét chân mày cong vút
còn dựng ngược thêm lên, hỏi trời
có thấu chăng cái ác của quân nghịch tặc,
Song hai tay buông xuôi
nên lưỡi kiếm hết còn ngang dọc
Đọc tiếp »

Võ Hoàng

Lúc hai cái xe mười bánh nối đuôi nhau chạy vụt qua, bụi đỏ bốc bùng lên, bên này ngó bên kia không thấy gì hết. Bà Mợ Năm lom khom bước ra khỏi ngưỡng cửa, nheo hai con mắt lại, quay về hướng chợ miệng lầm bầm gì đó nghe không rõ. Con Sượng đang ngồi trên ghế bố thõng hai chân xuống đong đưa qua lại lớn giọng nói vọng ra:

– Bà mợ ở đó mà ngóng. Nó đi chút xíu, nó dià chớ mắc mớ gì. Thây kệ nó.
Đọc tiếp »

 
Ca khúc Nguyễn Trọng Khôi; Tác giả trình bày
Nguồn: Tác giả gửi YouTube link

Hà Thúc Sinh

Mới đây anh về Việt Nam một chuyến, về thăm cha già ốm đau và cải táng phần mộ mẹ anh. Cha anh ở Sài Gòn và mộ mẹ anh còn ngoài Thanh Hoá. Hơn bốn mươi năm mộ vẫn còn. Lạ? Không đâu, ấy là nhờ trong khối nhân dân bần cố còn sót một số trình độ tiếp thu tư tưởng cách mạng kém cỏi, nhồi cách mấy vẫn không thông chính sách cào bằng lấp sạch.

Anh mặc tang phục, mua hương nến, các thứ cần thiết thuê thợ cải táng. Áo quan mẹ anh xưa bằng gỗ vàng tâm, bền như sừng, thế mà khi mở xương khúc còn khúc mất. Anh nhìn xuống mộ huyệt khóc cười tuỳ lúc. Anh Mới, người kéo xe tay cho mẹ anh xưa, giờ đã là ông cụ hom hem ngoài bảy mươi, ngạc nhiên hỏi vào tai anh:

“Cậu khóc hay cười đấy?”

Anh nhìn kín nhiều người lạ mặt, đáp khẽ:

“Cả hai. Phải thích nghi hoàn cảnh.”

Anh Mới hiểu, giọng gần với sự biếm nhẽ:

“Ngoài quy hoạch hết rồi. Cả nước đã tự do khóc, cậu khóc tí nữa không sao.”

Thế là anh khóc, khóc to hơn cả ngày thơ ấu lúc mẹ anh mất.
Đọc tiếp »

Ký sự 30.04.85

Posted: 30/04/2011 in Nguyễn Mậu Lâm, Thơ
Thẻ:

Nguyễn Mậu Lâm

Ngày ba mươi tháng tư năm tám lăm
Mới ba giờ khuya
Trời còn tối đen
Sương rơi mờ cả mắt
Thằng công an khu vực đã xông đến trước cữa từng nhà, từng nhà hét
– Dậy, dậy lẹ lên, đi mít-ting.

Tôi cũng dậy
“Ừ, thì thôi, mày bắt, tao đi”.
Đọc tiếp »

Lữ Quỳnh

Khi xe vượt qua trạm gác của quân cảnh để vào bến, tôi thò tay vào túi áo lấy sổ tay ra xem một lần nữa địa chỉ anh Hoán. Con số và tên đường đã nằm sẵn trong trí tôi, nhưng tôi vẫn không ngăn được thói quen máy móc của mình. Chiếc xe lắc lư tiến chậm rãi vào chỗ đậu giữa đám bụi mù hăng hăng mùi đất. Tôi đợi cho đám hành khách ngồi trước mình xuống hết, rồi mới thong thả cầm xắc tay xuống sau. Tôi gạt đám tài xế xe thồ, xe lam, xích lô đang chen khách, tiến tới một quán cóc gần đó. Tôi cần có ít phút để xếp đặt thời khắc biểu cho mình trong thời gian ngắn ngủi ở đây, dù cho chuyến đi này chẳng có gì quan trọng cả. Việc trước tiên có lẽ tôi sẽ tới thăm anh Hoán, sau đó sẽ tới ở lại chơi với Thung. Tôi gọi một ly cà phê đá, lấy một gói thuốc, và hỏi vẩn vơ cô hàng về con đường mà tôi sắp tới. Cô hàng nói, con đường đó nhà rất ít nên ông rất dễ tìm. Tôi mỉm cưới hình dung ra căn nhà của anh Hoán, tự hỏi không biết bây giờ những người ở đó còn ai nhận ra mình nữa không.
Đọc tiếp »

 
Sau 30-4-1975, chúng tôi, những quân nhân, công chức.. VNCH, bị lùa vào tù. Xin vinh danh Những Bà Vợ Tù Chung Thủy : tảo tần nuôi con, kiên trì chờ chồng 5, 7 năm, thậm chí 15, 20 năm sau mới được hội ngộ.

Nhạc: Vĩnh Điện
Thơ: Lê Nguyễn
Ca sĩ: Xuân Phú
Thực hiện clip: Trần Ai
Nguồn: Tác giả gửi YouTube link

Nguyễn Đông Giang

Bất hạnh không ngờ

Tưởng nhớ Anh hồn liệt sĩ,Vị quốc vong thân 30-4-75

30 tháng tư – 30 tháng tư đen
Ngày thiên địa báo điềm lành dữ
Ngày dân Việt bị dồn bức tử
Mảnh dư đồ loang loáng một màu tang
Đọc tiếp »

Thụy Khuê

Từ mùa xuân 1956 sang mùa thu 1956

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn I gắn bó với Giai phẩm mùa xuân và giai đoạn II gồm toàn bộ những tờ báo phát hành từ tháng 8/1956 đến tháng 12/56.

Giai đoạn I có thể tóm tắt như sau:

Giai phẩm mùa xuân ra đời cuối tháng 1/1956. Hơn một tuần sau, nhiều sự kiện quan trọng liên tiếp xẩy ra:

– 28 Tết Nguyên đán: Tố Hữu sai người tìm gọi Lê Đạt lên Tuyên huấn.

– 4 Tết: Trần Dần và Tử Phác bị bắt tại Yên Viên, nơi đang học tập cải cách ruộng đất.

– 5 Tết: Lê Đạt ăn Tết xong mới lên trình diện Tố Hữu. Bị giữ lại kiểm thảo 15 ngày.

– Trần Dần, sau ba ngày bị giam dưới một căn hầm, dùng dao cạo cứa cổ, được đưa đến bệnh viện. Tại đây, ngày 21/2/56 Trần Dần viết một lá thư dài cho đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Tướng Thanh can thiệp, Trần Dần, Tử Phác được tha ngày 5/5/56.

Trong tháng 2/56, một “hội nghị lớn” luận tội Trần Dần (vắng mặt) được tổ chức. Chiến dịch đánh Trần Dần bắt đầu ngày 7/3/1956 với bài viết của Hoài Thanh trên báo Văn Nghệ số 110.
Đọc tiếp »

Trung Hậu

– Zulu đây Đống Đa. Zulu đây Đống Đa! Nghe rõ sang sông.

– Đống Đa, Zulu. Sang sông nghe rõ.

Thời đó ở Quảng Trị lâu lâu lại có tiếng chim kêu giữa núi nghe như vậy. “Zulu” là tín hiệu truyền tin của hắn. “Đống Đa” là tên gọi ngụy hóa của ôn (ba hắn). “Sang sông” là vặn máy PRC25 qua băng tầng liên lạc đã định trước. Ôn là lính của đơn vị truyền tin Sư Đoàn 1 đóng ở căn cứ Dạ Lê; hắn theo đơn vị hành quân theo chiều dài đất nước. Lâu lâu mệ (mạ hắn) ở nhà nhớ hắn, mệ nói ôn đi hỏi tin tức của hắn cho mệ biết. Nhiều lúc ôn cằn nhằn lính đánh giặc chứ đâu có phải như công chức mà viết thư hoài, nhưng ôn cũng chiều ý mệ.
Đọc tiếp »

Bên này sông

Posted: 29/04/2011 in Phạm Nhuận, Thơ
Thẻ:

Phạm Nhuận

Nhớ những chiều ngồi bên nầy sông
Trời bên kia trời rất hồng
Ta tưởng môi em chiều Đà-lạt
Ta ở dưới này ta nhớ mong
Đọc tiếp »

Nguyễn Thanh Khiết

tháng tư mưa, có ai bừng tỉnh dậy
đốt nén nhang chiều ngồi nhắc chuyện xưa
mất mát, tang thương, cuộc người như vậy
ba mươi sáu năm còn xót trong mưa
Đọc tiếp »

Hoàng Chính

Buổi sáng. Thư viện vắng người. Anh tìm hoài cuốn sách của một tác giả quen tên. Nắng bẻ cong những cành cây bên ngoài khung kính. Một vuông trời biếc xanh trên cao. Cánh chim chao đi trong cái mênh mông của đất trời. Tiếng chuông điện thoại reo trong khu nhân viên. Đứa bé gái cầm cuốn sách có hình Mickey Mouse lăng xăng chạy ra quầy kiểm sách.

Bỗng dưng tôi nghĩ đến em. Nếu em còn đâu đó trên thế gian, hẳn em cũng có đứa con gái dễ thương như thế.
Đọc tiếp »

Quan Dương

Cố hương

Những đám mây đen từ phương Bắc
Kéo về phủ kín khắp trời Nam
Nả từng tia chớp vô thành phố
Đổ trút lên đầu mưa tang thương
Đọc tiếp »

Nguyễn Xuân Thiệp

Những trận gió lớn vẫn đi qua địa cầu…

Xin nhắc lại câu thơ đã viết ngày nào và cùng nhau sống lại những ngày tháng đầy biến động trong lịch sử và trên những trang sách.

Vậy chúng ta hãy bắt đầu: Trong tuần lễ từ 12 tháng Tư vừa qua, nước Mỹ đã diễn lại những tiết mục kỷ niệm ngày nội chiến bùng nổ 150 năm trước đây. Trong không khí tưởng niệm ấy, người ta đi thăm lại Nghĩa Trang Arlington, nơi yên  nghỉ của các danh nhân và anh hùng nước Mỹ, và cũng là nơi chôn cất thi hài của những tử sĩ trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ.  Dưới mộ này là hồn Bắc / dưới mộ này là hôn Nam / mây bay / mây  vẫn bay / trên đồi Arlington… Cũng vào dịp này cuốn sách và cuốn phim “Gone with The Wind” (Cuốn Theo Chiều Gió) với bối cảnh là cuộc nội chiến đã được những người ái mộ, những “Windies”, nhắc nhở và cùng nhau ôn lại, nhất là tại Atlanta và vùng phụ cận, nơi có viện bảo tàng Gone With the Wind.
Đọc tiếp »

Kỷ niệm nhạt nhòa

Posted: 29/04/2011 in Thiên-Thu, Thơ
Thẻ:

Thiên-Thu

Đôi chút phân vân nhận lời mời,
“Bữa cơm Y Giới với chúng tôi.”
Paris trong nắng trời Xuân đẹp,
Tựa khúc tình ru quyến rũ người.

*****

Dừng trước lối đi đón khách vào,
Tôi nhìn lơ đãng chồng sách cao,
Bìa cam, ba chữ: Paul TRẦN VỸ,
Thầy đã dạy tôi trước năm nào !
Đọc tiếp »

Nam Chi


NS Phan Ni Tấn

Đối với người nghệ sĩ nói chung, khi hoàn thành một tác phẩm bất kỳ, là đã trút hết được những suy tư, trăn trở, ước vọng… của mình, sau đó là phần của người thưởng ngoạn. Họ đón nhận như thế nào, có đúng như tác giả mong muốn hay không? và cách nào họ đón nhận tác phẩm là điều hoàn toàn không thể nào tác giả biết được, đôi khi có trường hợp tác giả chẳng bao giờ ngờ tới; Ba bài ca học trò của nhạc sĩ Phan ni Tấn đối với tôi cũng vậy. Tôi đón nhận ba bài ca này một cách hết sức tình cờ và trong một hoàn cảnh đặc biệt.
Đọc tiếp »

Quan ải

Posted: 28/04/2011 in Hoàng Xuân Sơn, Thơ
Thẻ:

Hoàng Xuân Sơn

Vầng trăng mất ải địa đầu
xẻ đôi dấu nhớ rụng mầu quan san
vùi khe . đá núi tan hàng
nỗi đau đồng trụ còn mang đến giờ
nằm trong huyết nhục ơ thờ
sông cuồng nước nghịch xác cờ tang thương
đêm nhốt xương giữa nguyện đường
trắng mắt dã chiến mười phương ngục cùm
đâu rồi cuống mạ xanh um
con sâu trong kén thở giùm nhân sinh
sỏi cuội là đất quê mình
hòn bi lăn xuống lộ trình máu me
năm năm mười năm bờ đê
một trăm năm vỡ ngạn về tay không
lúa tôi xa ngọn chiêm đòng
rơm em héo đụn giữa lòng quê tang
Đọc tiếp »

Ninh Hạ


Mario Vargas Llosa

Như thường lệ hàng năm, sự ồn ào phản đối và đồng tình cho những nhân vật được trao tặng giải Nobel Hòa bình đã không tránh khỏi. Năm nay càng ồn ào hơn. Yes và No.  Pros và Cons không còn gìới hạn trong phạm vi cá nhân tổ chức, mà lan rộng đến nhiều quốc gia.  Ràng buộc lợi ích riêng đã được xem trọng hơn công lý và công bằng.  Vinh dự cho một tù nhân lương tâm, Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo).  Nhục cho một nước, chính quyền Trung Quốc.

Trong một bầu không khí dư luận yên tỉnh hơn, Mario Vargas Llosa, nhà văn, nhà hoạt động chính trị gốc Pêru (Nam Mỹ) được thắng giải Nobel về Văn chương 2010.

Thường khi giải thưởng Văn chương Nobel được công bố, tôi tìm đọc tác phẩm mới nhất của người đoạt giải. Rất tiếc, tác phẩm mới nhất “El Sueno Del Celta”  (2010) chưa được dịch ra Anh Ngữ.  Tác phẩm gần nhất  “The Bad Girl” (2006). (Cô gái xấu nết) đã được dịch ra Anh ngữ nhưng nhà sách Barnes & Noble chưa bày bán.  Cũng không đáng tiếc bao nhiêu.  Vì, theo Kathryn Harisson, người điểm sách nhận xét về tiểu thuyết này.  “The Bad Girl chỉ là truyện được viết lại hay đơn giản hơn là dùng lại (recycle) tiểu thuyết  Madame Bovary của Gusta Flaubert (1856)…”.

Không có lựa chọn nào khác, đành phải mang về nhà truyện mới nhất có được, “The Way to Paradise”. (Lối về thiên đường) .  Nguyên bản Spanish El Paraiso en la Otra Esquina . Dịch đúng  “The Paradise in another corner”.  (Thiên đường ở một góc trời khác). Tác giả viết năm 2003 do Natasha Wimmer dịch ra Anh ngữ  (Farrr, Straus and Giroux.  NY).

Thật là một ngạc nhiên thich thú khi đọc những chương cuối của sách này.

Mario Llosa, từ một đất nước xa xôi về địa lý, rất xa lạ về văn hóa, đã viết đã mô tả trân trọng về một người An nam yêu nước, hoàng tử Kỳ Đồng Nguyễn văn Cẩm ( An Annamite.  Prince Nguyen van Cam. Chữ dùng của Mario Llosa).  Kỳ Đồng, một nhân vật lịch sử, mà ngay cả  người Việt chúng ta, chắc cũng không nhiều người biết, cho dù ngày tháng thường đi qua một con đuờng thân quen ở Sàigòn mang tên người, ngang qua trước nhà thờ Cứu Thế.
Đọc tiếp »

Thiếu Khanh

“Sĩ tốt hai bên đều vắng lặng…”
TK.

Mình yêu dấu, anh thực lòng bối rối
Tư duy em đơn giản hóa tự bao giờ?
Anh nghĩ ngợi và băn khoăn suốt buổi
Không chỉ vì em đã giấu những quân cờ.

Cuộc sống vốn không một chiều thẳng tắp
Chiếc lá đa chỉ che mắt ngựa thôi mà
Trong mắt ta
đời sống tràn trề
thênh thang
phức tạp
Muôn vạn sắc màu
lồng lộng
nguy nga.
Đọc tiếp »

Mang Viên Long

1.
Huệ vội vàng thu xếp công việc ở công ty, nhờ cô nhân viên trợ lý đi lấy vé máy bay để kịp về quê ngay vào buổi chiều. Theo lời mẹ kể lại qua điện thoại vào lúc 5 giờ sáng nay, thì bệnh trạng của ông ngoại không thuyên giảm chút nào, mà có thêm triệu chứng nặng hơn: Các cơ ở cổ cứng dần, không uống được nước,nói năng khó khăn!Đã không tự ngồi dậy được mà đờm rãi liên tục trào ra, cũng không khạt nhổ được nữa.. Một ngày qua, các bác sĩ khu thần kinh Bệnh viên Quân Y 16 cũng chưa có biện pháp nào để làm thay đổi tình thế ấy. Nàng trách mẹ đã không nài nỉ, thuyết phục ông ngoại xin chuyễn vào Saigon để nàng có thể theo dõi, nhờ bạn bè bên y khoa giúp đỡ -trong trường hợp cần thiết, nàng sẽ xin chuyễn ông sang Mỹ để điều trị tiếp. Mẹ nàng nói giọng trĩu nặng nước mắt : “ Con không biết tính của ông ngoại hay sao? Ông ấy ngại tốn kém cho con ,cho gia đình- tính tiết kiệm thái quá của ông con đã thành nếp khi còn ở trong bộ đội ! Ông thường bảo, tôi hy sinh xương máu, cả đời mang bệnh tật là vì đất nước, bây giò nhà nước phải lo cho tôi chứ? “. Nhà nước lo-nhưng cụ thể là ai? Có mấy người chịu suy nghĩ như ông-để sẵn lòng lo cho ông ?.
Đọc tiếp »

Dối trá

Posted: 28/04/2011 in Bình Luận, Sơn Nghị

Sơn Nghị

Gia đình tôi luôn cố gắng duy trì được bữa ăn tối chung với nhau. Nửa giờ tuy ngắn ngủi nhưng quý giá vì đó là thời gian duy nhất trong ngày mọi thành viên trong gia đình đều có mặt. Ăn được miếng cơm ngon, chung quanh bàn cơm có ông bà, vợ chồng, con cái quây quần, chuyện trò vui vẻ là điều thú vị nhất trong một ngày.

Một buổi cơm tối như thường lệ, đang khi vợ chồng con cái chuyện trò rôm rả thì chuông điện thoại reo. Vì ngồi gần giá điện thoại nên tiện tay tôi bấm nút phóng thanh trên phôn (speakerphone) để trả lời. Thường thì tôi chẳng bao giờ bốc phôn trong bữa ăn vì “trời đánh còn tránh bữa ăn” huống gì một cú điện thoại vẩn vơ, trừ trường hợp nhìn thấy tên của người thân hiện ra trên khung cửa điện thoại. Thế mà hôm đó không hiểu tại sao tôi lại nhấn nút phôn để nói chuyện với một người xa lạ, một nhân viên chào hàng. Để kết thúc câu chuyện nhanh chóng, tôi vội trả lời là tôi chỉ là người ở trọ khi anh ta nói muốn nói chuyện với chủ nhà. Anh chàng Mỹ lịch sự nói cám ơn và cúp máy. Vì bật nút phóng thanh nên cuộc đối thoại cả nhà đều nghe rõ. Ngồi xuống ghế, tôi bình thản tiếp tục bữa ăn và bất chợt một trong hai đứa con tôi, lúc đó mới 10 tuổi, cất tiếng phê bình: Bố nói dối.
Đọc tiếp »