Vũ Hoàng Thư

Thiếu nữ Xuân – Tranh Đinh Cường
Tháng xuân
tháng giêng ngậm gió cây hàng
em ngồi tiếng khẽ áo vàng cuối đông
nỗi tôi vô lượng trầm không
bay lên tiếp gió mở lòng hạt rơi
Đọc tiếp »
Vũ Hoàng Thư

Thiếu nữ Xuân – Tranh Đinh Cường
tháng giêng ngậm gió cây hàng
em ngồi tiếng khẽ áo vàng cuối đông
nỗi tôi vô lượng trầm không
bay lên tiếp gió mở lòng hạt rơi
Đọc tiếp »
Nguyễn Thị Thanh Bình

The dance – Tranh Marc Chagall
Vẫn một người cuồng như cơn bão dữ
Đi qua đời thổi bay cả ngàn xưa
Bay. Bay hết cả rừng chim ngày cũ
Thổi tan tành hồn ấp ủ mây mưa
Sao còn hỏi về một dòng sông đục
Bến mê nào uống hết những thề mong
Trăng với nước giấu trong giòng lệ mỏng
Cuộc đời này thôi hết nghĩa chờ trông
Đọc tiếp »
Hồ Đình Nghiêm
Bữa tiệc chấm dứt lúc mười giờ. Mùa hè, bầu trời nhiều sao, sâu thẳm. Ở đó, dường như màn đêm chưa thực sự đóng kín. Cái mênh mông của nó không hẳn nói lên đêm đã vào khuya. Tiệc chóng tàn bởi lẽ người ta ăn hết ba món, kể cả tráng miệng. Và chuyện vãn thì đến hồi nguội lạnh, chẳng còn gì để nói. Chín người lần lượt đứng lên, rời khỏi ba cái bàn sắp hình chữ U đặt giữa sân. Trời trong vắt, thứ sắc màu kỳ lạ của đêm hè nhiệt đới. Chẳng một gợn mây và cao xanh kia tuyệt không mang điềm báo một cơn mưa đe dọa đổ xuống. Người ta ra về bởi giản dị có một điều: Chẳng còn gì để cột chân họ. Những bao thuốc rỗng đã vo lại và ly tách chén dĩa đứng xô lệch dồn đẩy nhau trên bàn, cạn tàu ráo máng.
Đọc tiếp »
Lữ Quỳnh
Cơn gió xóay vào tim buốt máu
Chân lang thang theo chiếc lá vô hồn
Nghĩa địa mùa này trơ mộ chí
Xe tang nào lặng lẽ chở hòang hôn
Thèm rượu mà ta không uống được
Bạn thì xa tri kỷ cũng đi rồi
Tay với trời cao không thấu nỗi
Tuổi già mất bạn cũng mồ côi
Đọc tiếp »
Lê Lô
Tháng 4, tôi đến cổ thành Quảng Trị.
Từ hướng nam, tôi đi trên con đường tráng nhựa mà hơn ba mươi ba năm trước, các nhà báo gọi nó là Đại lộ Kinh hoàng. Nơi đây cách thị xã Quảng Trị 10 cây số. Bên trái con đường là bãi cát trắng lẫn với màu đất đen. Những cụm nhà mái tôn rải rác bên đường dưới ánh nắng gần trưa. Không một bóng người. Bên phải con đường là bãi cát vàng khô khốc, thỉnh thoảng gió thổi thốc từng cơn, những cụm cát tung lên xòa ra trong nắng. Một căn nhà xập xệ chắp lại bằng những miếng tôn cũ trên đó có dòng chữ bằng sơn trắng “Sửa xe, vá ép”, nơi cửa, một ông già ở trần ngồi trên bậc thềm, tay cầm quạt lá, tay kia chống cằm nhìn bâng quơ ra con đường nhựa vắng người.
Đọc tiếp »
Hoàng Xuân Sơn
linh tượng mỗi nơi một khác
có nơi để râu rìa
môi dầy mắt xếch
tay cầm đại phủ
tướng tá bặm trợn
có nơi suông đuột râu dài
mặt mũi phương phi
bộ dạng cù mì
mỉm chi cười nửa miệng
riêng cặp chơn mày
xâm theo hình mũi mác
07.2009
Đọc tiếp »
Phạm Tự Trọng
Lời giới thiệu của Lão Ngoan Phan Ni Tấn:
Tôi quen biết và sinh hoạt văn học nghệ thuật với Hà Thúc Sinh đã 1/4 thế kỷ. Anh là một ngưòi đa tài, với hơn 20 tác phẩm, từ Thơ, Văn, Nhạc đến Dich Thuật. Trí Nhớ Đau Thương là tập thơ đầu tay của anh, xuất bản năm 1967, nhưng tập Dạo Núi Mình Ta (thơ 1972, tái bản 1973) mới thực sự tạo nên tên tuổi một Hà Thúc Sinh.
Là cựu sĩ quan QLVNCH, sau ngày mất nước anh bị bắt đi tù cải tạo 5 năm. Vượt biên đến Mỹ năm 1980, tiếp tục cầm bút viết Đại Học Máu, một trong những hồi ký cải tạo gây tiếng vang trên văn đàn hải ngoại, đồng thời là một cái gai gây nhức nhối cho bạo quyền Hà Nội lúc bấy giờ. Nhưng âm nhạc vẫn là “tiếng động” của Hà Thúc Sinh, một phương tiện truyền thông dễ đi vào lòng người. Đặc biệt tập nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh được anh thực hiện qua giọng hát “gọi hồn” của Khánh Ly, nói lên thân phận nghiệt ngã của một kiếp người sinh tử dưới gông cùm của bạo quyền Hà Nội.
Để nhìn rõ hơn về con người đa tài này, kính mời Quí vị đọc Đêm Việt Nam (đính kèm), một bài nhận định bằng sự mẫn cảm sâu sắc, một cảm xúc chân thành của Phạm Tự Trọng, người bạn tù cải tạo một thời với Hà quân.
Trân trọng,
Lão Ngoan
Đọc tiếp »
Nguyên Nghĩa
Hình như mới ấm bữa nay
Hôm qua mưa lạnh còn đây mịt mù
Hỏi tôi không biết hè chưa
Hay còn bão rớt bất ngờ tháng tư…
Hôm kia ai nói sang mùa
Hôm nay hi vọng tôi chờ mùa sang
Hình như chưa hẳn hết xuân
Hình như đông giá mới tan mấy tuần
Hình như trời đất quay cuồng
Hình như… không phải. Tôi lầm nắng mưa.
Nguyên Nghĩa
15-5-2011
Nguồn: Tác giả gửi
Châu Thạch
Khi còn trẻ em như hoa chớm nở
Như trái cây thơm như nguyệt thượng tuần
Cầm bàn tay tim đập rộn không ngừng
Nhìn vào mắt thấy cả trời xanh biếc.
Đọc tiếp »
Nguyễn Xuân Sử
Sương bạc trăng đêm tháng năm thành lưu lạc
Thân thế trùng trùng bụi phủ nắng đằng sau
Trăng đã lặn giữa đôi bờ sinh tử lạ
Những tiếng dài như treo lửng tóc mênh mông
Em vẫn thế riêng tôi tuồng đã đổi
Lòng hư hao không biết nẻo đi về
Em thanh thảng giữa muôn ngàn bức thiết
Tôi ngậm ngùi trăm chuyện quá ngu ngơ
Em thơ dại nên đường thành vô ngại
Tôi lỡ lầm lui tới với trần gian
Đất lặng im đỡ chân người vội vã
Đi tìm hòai dấu vết buổi ban sơ
Đất với đá từ ngàn năm vẫn đợi
Chờ mưa về thánh hóa khúc Nam Giao
Đọc tiếp »
Nguyễn Thị Thảo An
Năm ngoái, nhân dịp vừa mua máy ảnh digital đời mới, chị TD đã vội gửi tôi một loạt video clip vừa quay thử. Hình ảnh rõ và đẹp, rất sắc nét. Toàn cảnh biển. Trước cái bao la, mênh mông của đại dương, con người bỗng bị bé nhỏ đi. Cảnh bình minh, lúc mặt trời mới nhô cho đến lúc chiều về, bóng thái dương chìm xuống sau lưng biển. Nước nhấp nhô. Xanh thẳm trùng khơi là chỗ trời và nước giao nhau thành một đường cong huyền hoặc. Trời rám hồng. Một màu hồng lam nhạt như những ánh lửa rực về từ cõi xa xăm. Mây trôi nhanh, thấp thoáng như những bóng thuyền đang giong ruổi trên trời. Ngoài khơi xa, tiếng gió, tiếng sóng đập vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa. Tiếng sóng ầm ỳ vọng từ đại dương miên man lập lại như một điệp khúc bất tận. Nước mênh mông, dập dềnh lấp lánh như dát bạc. Những con sóng xô nhau lăn tăn chạy dài trên bãi cát. Khi sóng rút ra xa, bãi biển chỉ trơ lại những cành cây khô khốc. Dân địa phương gọi đó là củi biển. Củi vương vãi khắp nơi. Có những khúc xương xẩu, to như hàng thân gỗ lớn, có khúc đen nhẻm như bị cháy sém, tạo nên một khung cảnh hoang tàn. Có nơi, củi chất thành những đống cao chất ngất như núi. Những núi củi.
Đọc tiếp »
Hà Nguyên Dũng
khi chiếc ngai vàng đặt ở Thừa Thiên
một ít sông Hương mang dòng Tôn Nữ
một ít sông Hương mang nguồn trôi tứ xứ
qua dòng trong, rạch đục, bến lở bồi…
khi ta lang thang trên những ngọn đồi
của thành phố lậm nỗi buồn sương gió
ta bắt gặp trong màu hoa sắc cỏ
dáng nước đi nghèn nghẹn dưới chân đồi
Đọc tiếp »
Nguyễn Lãm Thắng
Guitare buồn nghiêng chảy
Từng giọt phúc âm buồn
Rớt từng sợi tóc gảy
Xuống hồn nhiên ruộng vườn
Gom hết bầu trời lại
Cả sắc màu cỏ cây
Anh vẽ chiều tình ái
Bằng giọng đàn chiều nay
Đọc tiếp »
Phạm Quốc Bảo.

Mùa Thu Thiếu Nữ – Tranh Dương Bích Liên
Đến khi ngồi yên vị trong máy bay Alaska chuyến lên Seattle, tôi mới có thời giờ thong thả nghĩ vẩn vơ.. và tự hỏi: Chuyến đi này do tình cờ hay là từ một dự tính có xếp đặt truớc?
Nhớ lại, tôi thấy rằng chuyến đi này dường như đã bắt đầu được muờng tượng hình thành kể từ khi nghe Hà Quốc Bảo gọi phôn xuống, đâu vào khoảng giữa tháng 8, và báo rằng cuối tháng Chín bạn ta sẽ về hưu, làm việc bán thời gian tại nhà cho những dự án do công ty xây cất tư nhân nhờ hoàn tất tài liệu chuyên môn dùm. Bảo Hà vào Tết nguyên đán vừa qua phải by-pass ba mạch máu, đến giờ coi như sức khoẻ đã gần như hồi phục hoàn toàn và bỏ hút thuốc lá rồi.. Ngay lúc nói chuyện trên phôn, tôi đã nghĩ là trong nhóm thân hữu lâu nay ở duới Nam Cali nàysẽ không một nguời bạn nào khác có thể sắp xếp ngay công việc để mà lên thăm Bảo Hà trước tôi được. Sau đấy một vài tuần, Phạm Kim của bán tuần báo Nguời Việt Tây Bắc cũng tâm sự qua điện thoại là cần tôi lên chia xẻ công việc, nhất là để ” giải toả bớt những tâm tư đang lấn bấn “, Kim thòng một câu đại khái là vậy.. Rồi giữa tháng Chín, Julie, con gái của Kim, gọi xuống lấy chi tiết để mua vé thì tôi đã nhân dịp bàn qua tán lại với Kim rằng tôi sẵn sàng lên và ở lại một tuần nhưng mà Kim có thuận lợi để lái xe cùng với tôi ba tiếng ruỡi vào Tri-cities, đến Richland thăm Bảo Hà độ hai ba ngày gì đo,ù vào thời gian giữa tuần được không? ” Không trở ngại lắm đâu!” Kim nói một cách chưa bao giờ khẳng định truớc như thế.. Nhưng dựa vào thói quen liên lạc giữa hai chúng tôi từ lâu nay, cũng chính nhờ lối trả lời này của Kim, tôi quyết định liền: Đồng ý lên!
Đọc tiếp »
Tranh: Paul Gauguin
Nguồn: Internet; Hồ Đình Nghiêm chọn tranh
Mang Viên Long
Ông Chủ tịch xã An Thạch nói với ông Lưu : “ Chúng tôi mời anh tham gia vào ban quản trị hợp tác xã mua bán là ý muốn của nhiều bà con trong xã! Có anh, bà con tin tưởng sẽ ủng hộ hết mình vì kinh nghiệm làm ăn của anh bao năm từ hồi trước 75 sẽ giúp cho hợp tác xã ta sẽ phát triển, lớn mạnh anh à! “.
Hớp một ngụm trà nhỏ, ông Lưu đặt tách trà xuống mặt bàn nhẹ nhàng-đưa mắt liéc nhìn ông chủ tịch-giọng từ tốn:
– Anh nói vậy thì tôi cũng nghe vậy-nhưng tôi tự xét thấy bản thân không làm được gì đâu, nếu có bề gì thì tôi ăn nói làm sao với bà con?
– Anh khỏi lo – giọng ông Chủ tịch quả quyết-miễn anh đồng ý tham gia vào ban quản trị là tốt rồi!
Đọc tiếp »
Uyên Hà
Tặng Vân Ty
Chuyện nhiều, em với người ta
Tôi, Em vụn vặt vài ba chuyện buồn
Gọi là có, gọi là không
Trong tôi lãng đãng một lần trăm năm
Quẩn quanh mấy bận kiếm tìm
Tưởng như hồn gục bên thềm nhà ai
Đôi lần cùng thả lòng say
Rượu chưa kịp hết kịp quay lòng về
Hẹn mai, chỉ hẹn, không thề
Sáng ra quên bẳng chiều về nhớ quanh
Đó là chuyện của em, anh
Thành thơ để sớm tan thành khói sương
Vientiane 1996
Đọc tiếp »
Trần Nguyên Đán
người gửi cho thơ, nói rằng để nhớ
quả thật có nhớ, mà nhớ lần hồi
vũ trong tôi là con chim cánh cụt
con chim lăng xăng, lít xít bên trời
tôi là vũ, mà cũng là ai đó
mặc áo vàng qua vũng tối một ngày
trên những góc cạnh của đường phố vắng
vũ có khi buồn ngồi ngó mây bay
Đọc tiếp »
Trangđài Glassey-Trầnguyễn
Viết riêng cho mùa Xuân đầu tiên của Cưng & Cưng
Kết mầm cuối hạ
Khai dạ xuyên thu
Đông ấm duyên cù (*)
Đầu xuân nở nhụy
(*) Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! (Ca dao Việt Nam)
ươm mầm Xuân
Không phải lúc nào người ta cũng có thể biết chính xác khi nào một hạt giống bắt đầu ươm mầm, cho dù với bao khám phá và phát minh trong khoa học kỹ thuật hiện đại. Có một loại mầm không chỉ ươm từ một hạt giống, mà từ hai mầm phôi kết hợp với nhau để trở nên một mầm sống thật sự.
Nếu xuân-hạ-thu-đông là việc tự nhiên của đất trời, thì việc gì phải mất công đi ‘ươm mầm Xuân’? Và ‘ươm mầm Xuân’ có phải là một điều khả thi không?
Đọc tiếp »
Robert Frost
Nguyễn Phước Nguyên chuyển ngữ
Hai lộ nhỏ giao nhau nơi rừng vàng lá
Ta không thể phân thân theo lối cả hai
Lặng đứng nhìn theo một đường vào cuối ngã
Uốn khuất vào sau bụi cỏ mọc la đà
Lữ khách là ta, một đời, mãi mãi.
Đọc tiếp »
Tiểu Thu
Chiếc máy bay của hãng American Airlines đáp xuống phi trường Nội Bài êm ru. Hành khách nhộn nhịp đứng lên lấy hành lý xách tay từ trên những khoang chứa hành lý trên đầu. Thư đợi mọi người xuống gần hết, nàng mới từ từ đứng lên. Đi đâu mà vội. Rồi cũng phải ra chờ lấy valises mà thôi. Đường nào cũng tới La Mã mà.
Tính Thư vẫn không thay đổi. Lúc nào và làm gì cũng chậm rãi. Hồi còn đi học, nàng đã từng bị đám bạn gán cho cái biệt danh tiểu thư. Sau mấy chục năm định cư ở Canada, những cô bạn học ngày xửa ngày xưa, mỗi lần gọi phôn, vẫn mở đầu: “tiểu thư đó hả?”.
Thư về thăm Việt Nam lần này là lần thứ ba. Hai lần trước nàng về Sài Gòn. Nhưng lần này, Thư ra Hà Nội trước rồi mới lấy vé máy bay vào Sài Gòn sau. Nàng thay mặt mẹ về thăm bà dì ở Hà Nội. Năm năm tư, gia đình dì không vào Nam vì tiếc cơ ngơi quá lớn ở Hà Nội. Gia đình bên chồng dì giàu có nhất nhì Hà Nội thời bấy giờ. Bố mẹ Thư dẫn anh chị nàng vào Nam và Thư chào đời trong Nam. Lần đầu tiên ra Hà Nội, Thư không ăn được thức ăn ngoài ấy vì đã quen cái gu ngòn ngọt của miền Nam. Tất cả những món lừng danh của Hà Nội như Chả cá Lã Vọng, bánh tôm chiên Tây Hồ, Bún chả…Thư đều thấy không ngon như trong tưởng tượng. Chỉ mê nhất là thong thả đi dạo quanh Hồ Gươm, vào những buổi sáng sớm. Đẹp như trong tranh.
Đọc tiếp »
Võ Phiến
cách đây chừng một kiếp người…em có nhớ
một ngôi nhà
hôm bắt đầu cuộc sống chúng ta
em nhớ chứ ? cái đêm dài kỳ lạ
gió định đến, chợt ngập ngừng, rút lui êm ả
suốt một đêm cây lá nén hơi
tàu chuối toan trở mình, nghĩ lại , bèn thôi
trời gần sáng mới có mưa rón rén
những sợi nhỏ li ti vừa rơi vừa thẹn
thấm ướt mái nhà chẳng một ai hay
hôm ấy, trời chưa kịp chuyển sang ngày
chúng ta đã nhẹ nhàng lách ra khỏi cửa
ta cẩn thận thế mà chúng đều biết cả
sự ngạc nhiên đã đón đợi đầu hè
với cặp gà đứng giương mắt tròn xoe
giọt nước đọng giữa mỗi lòng bụi cỏ
cứ nhấp nháy tinh ranh, làm em mắc cỡ
chúng âm thầm , yên lặng ,có ngờ đâu
chúng đều biết rằng ta mới…biết nhau
em kêu khẻ ‘ ớ đằng anh, quá xá’
Đọc tiếp »
Ninh Hạ
1.
Trên bàn thờ Phật hương tàn đã lâu. Hai cây nến đỏ cháy cũng gần hết. Anh sáng lung linh mờ ảo trên mặt tượng Phật. Ẩn hiện nét cười hiền, siêu thoát. Ðiện Phật tĩnh lặng. Lẩn quất thanh thoát hương trầm, hương huệ trắng.
Trời đã khuya.
Sư Tuệ Trí tọa thiền bất động chừng đã lâu lắm. Hai hàng nước mắt lăn dài trên má. Những giọt nước mắt tưởng đã khô cạn từ lâu lắm. Trước ngày xuất gia, những nhục nhằn cay đắng, buồn đau khổ lụy của đời, chưa hề làm cho sư ứa lệ.
Đọc tiếp »
Quỳnh Mây
đàn ai
sau khung cửa
dặt dìu khúc lưu hương
nắng ươm màu tơ lụa
vờn bay đẹp khác thường
cây vươn cành xanh lá
hoa rung rinh hé cười
chim say mùa mới lạ
chiều nay hót rền trời
Đọc tiếp »
Song Thao
Trong đầu tôi vẫn còn văng vẳng tiếng rao phở. Âm chót được kéo dài như một âm đuôi, nhắc khéo tới cái mùi bất hủ của một món ăn đã nhích quá công dụng của món ăn. Phở càng ngày càng… chễm chệ. Chắc có nhiều bạn trẻ hồ nghi về một tiếng rao phở. Phở đâu có hạ mình đi rong ngoài phố phường như những thứ lục tục tầm thường khác. Phở ngày nay không còn là thứ… ma cà bông vất vưởng ngoài đường xá. Nó yên vị trong các cửa tiệm. Dù sang hay hèn cũng là một cửa tiệm.
Thời thơ ấu của tôi ngoài Hà Nội phở vất vả hơn. Nó không có tới bốn cái bánh xe để di chuyển một cách đường hoàng cốt cách mà kĩu kịt trên bờ vai của bác hàng phở. Hai đầu gánh phở như không cân nhau. Một bên là nồi nước phở được đặt trên một lò có những khúc củi lớn hồng rực lửa than. Bên kia là một chiếc bàn có ngăn, chứa đầy đủ từ bát, đũa, thìa đến những ô bánh phở, những mảnh thịt và những thứ gia vị khác cho ra một tô phở. Tác giả Nguyễn Văn Lục, trong bài Cuộc sống ở một nơi nào khác* sau chuyến về thăm Hà Nội nhân dịp Tết Đinh Hợi 2007 vừa qua, đã… ôn cố:
Đọc tiếp »
Nguyễn Hàn Chung
Đi tìm
chỉ
uổng tâm thôi
Cõi tịch diệt
náu
trong lời đẩu đâu
Tội gì
hành
xác cho đau
Có bao giờ
kéo
nẻo sầu lại vui
Không không sắc sắc
ngộ rồi
Môi thơm mắt biếc
của trời cho ai
Biết ngày nào
thấu
Như Lai
Trăm năm còn
xứng
là trai mấy hồi
Người đạo hạnh… cũng
ít thôi
Bả yêu có lắm
miếng mồi tà môn
Rủ rê thâu tóm thần hồn
Chìm trong mắt tịnh
bóng
làn mi xanh
Rước hoài
chẳng đặng chân kinh
Thì thôi
bức
hết nỗi mình yêu em…
Đọc tiếp »
Kim-Chi
Tuy đã rời xa nhà trường hơn ba chục năm, nhưng… mỗi năm đến hè lòng tôi vẫn “man mác buồn”. Có lẽ vì tôi vẫn còn liên lạc thân thiết với đám bạn thời Trung học, chúng tôi vẫn tung tăng bên nhau những khi có dịp và vẫn ăn hàng, phá phách như xưa… Đặc biệt là chúng tôi cứ tưởng mình vẫn… như xưa! Một điều mà tôi nghĩ rất khổ tâm cho những người đàn ông có “diễm phúc” trong cụộc đời của chúng tôi. Và hãy để tôi dài dòng thuật lại lý do tại sao thỉnh thoảng tôi vẫn “man mác buồn”.
Đọc tiếp »
Trần Văn Sơn
Tặng Vũ Uyên Giang
Đập vỡ ly tiễn bạn đêm nay
Rượu hòa máu hận thấm khăn tay
Bạn lên miền ngược nuôi mộng lớn
Ta cất lều tranh dưới tán cây
Đọc tiếp »
Trần Vấn Lệ
1.
Tôi đi nhặt một vài lá rụng,
Xếp và nhìn, chợt thấy mùa Thu.
Chợt thấy em cái hình, cái bóng
Áo vàng mơ ngày xưa, ngày xưa…
2.
Con quạ trên nóc nhà mới gọi,
Đã chiều rồi. Lại sắp hoàng hôn.
Quạ nhắc tôi thêm một ngày buồn.
Tôi nhắc tôi: không còn em nữa!
Người Buôn Gió
Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 66. Đời Vệ Kính Vương năm thứ nhất.
Mất mùa, đói kém trên diện rộng ở châu Hoan. Người đi ăn xin lũ lượt lên đến hàng vạn. Triều đình mở kho phát chẩn cứu tế không xuể, đành bỏ mặc đó để dân tự lo kiếm khoai sắn mà độn gạo ăn.
Trên thượng nguồn dân tình nổi dậy đông đến hàng ngàn người. Triều đình phái quân đi đánh dẹp đám ấy, trong lúc hỗn loạn đao binh khiến trẻ nhỏ chết mất mấy mống. Nhờ thế mà đẹp được yên, bởi đám dân kia nghĩ đến trẻ nhỏ còn chết dưới binh đao triều đình thì còn cái gì mà quân triều đình không dám làm. Mưu này dựa theo sách nước Tề truyền cho Vệ, rút từ Tam Thập Lục Kế gọi là Giết Gà Dọa Khỉ, nước Vệ biến tấu thành giết trẻ em dọa người lớn, dùng cách ấy hiệu quả tức thời, nháy mắt là dẹp yên đám dân. Sau đó vỗ về cho mươi cân gạo hỗ trợ, dân ai về nhà nấy, còn một số không về vì bị bắt giải về nhà lao chịu tội đầu trò.
Đọc tiếp »
Thụy Khuê
Tình hình từ tháng 12/1956 đến tháng 2/1958
Nhân Văn Giai Phẩm hoạt động từ tháng 8/1956 đến tháng 12/1956. Cuối tháng 12/1956, các tờ Nhân Văn, Giai Phẩm, Đất Mới… bị đình bản. Từ 20 đến 28/2/1957, Đại hội văn nghệ lần thứ hai họp tại Hà Nội, với gần 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” phong trào NVGP.
Tuy nhiên Trung Quốc vẫn tiếp tục phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên Đảng Lao Động chưa có chính sách dứt khoát đối với trí thức văn nghệ sĩ: đến đầu tháng 4/1957, Hội Nhà Văn (trước đây là Hội Văn Nghệ) được chính thức thành lập, với Tô Hoài làm Tổng thư ký kiêm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn, và một số thành viên cũ của NVGP như Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn còn được bầu vào ban chấp hành.
Đọc tiếp »
Hà Thúc Sinh
Trăng như da thịt một mỹ nhân
Mây che những phần ngại tỏ lộ
Giữa khi khối óc thôi lang thang
Dường như quanh chàng có nỗi nhớ.
Sâu góc núi nổ tiếng ầm lớn
Lòng nghiêng nghiêng lòng như mưa rừng
Róc rách trong hang tựa dĩ vãng
Không thấy hoa mà cảm thấy hương.
Đọc tiếp »
Nguyễn Đặng Mừng
Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh bông bí, nấu chè hột sen
Mạ hò ru em, từ nhỏ tôi từng nghe như thế, và tưởng thế là đúng. Cái làng của tôi hình như không trồng được hoa thiên lý nên chỉ có bông bí là ngon nhất chăng. Thương chồng, khi có vợ, ở hoàn cảnh ngặt nghèo , lúc gần 30 tuổi tôi mới thấm kiểu cách thương chồng của nông dân, bắt đầu và cao nhất là từ…cái ăn. Trước đó tôi không nghĩ thế. Tình yêu, tình nghĩa vợ chồng trong những tác phẩm tôi đã đọc, dù nghèo như cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay như cha mạ tôi thì cũng nên thơ lắm. Vậy mà khi tôi có vợ mới nghiệm ra rằng, thương chồng là…nhịn ăn cho chồng. Tôi có thấy hình ảnh mạ tôi ngồi ăn với các chị dưới bếp, bên chuồng heo, trong lúc tôi và em trai được ngồi cùng bàn với ba ở nhà trên, mâm cơm tươm tất có canh bông bí. Nhưng không thống thiết bằng cách vợ thương tôi.
Đọc tiếp »
Mai Văn Phấn

The Dream – Tranh Salvador Dali
Chúng bịt miệng
trấn lột mọi thứ
và xin tôi bộ phận sinh dục.
Nói rằng xin
bởi nếu tôi không đồng ý
của quý kia phải liệng xuống hố phân
(chúng biết cả bí quyết và những câu thần chú).
Tôi bảo:
các ông có thể lấy hết
nhưng cho tôi giữ lại chút riêng
xin tự nguyện làm đồ chơi, giẻ lau, trâu chó…
Tôi cúi xuống đón chiếc ách lên vai
Tôi xù lông và bắt đầu sủa lớn
Tôi lúc lắc và kêu bíp bíp
Tôi mài cơ thể mình xuống sàn nhà.
Tôi chạy quanh và miệng sùi sọt
Tôi nhễ nhại, giả chết, lồng lộn
Tôi rã rời, loạn nhịp, vỡ tung
Tôi thấm nước và vắt ra nước…
Đỗ Kh.

Black prostitute – Tranh Luc-Albert Moreau
Tôi người thủ đô, cô ta bảo.
Vậy, người Lagos, tôi nói.
Lagos đâu phải là thủ đô Nigeria! Cô ta tiếp trước khi tôi kịp nghĩ ra, gì đó, gì đó. Abuja mới là thủ đô!
Thì Abuja, tôi chưa kịp cập nhật hóa với những biến chuyển của lục địa này từ một phần tư thế kỷ. Để khỏi ghen tuông ở một nước lắm chủng tộc và những phức tạp đi kèm, từ 1991, Nigeria mang thủ đô ra giữa nước mà đặt, mượn một ông kiến trúc sư Nhật vẽ cho thành phố hành chánh lý tưởng chứ không phải là như Việt Nam, chỉ cần lý tưởng mà đổi tên (hay đổi tên thì trở thành lý tưởng). Những việc đổi tên và dời chốn trên thế giới chẳng theo bất kỳ một quy luật dễ nắm nào. Vừa rồi, trường bay Beirut từ một địa danh (Khaldé) được đổi thành nhân vật (Rafik Hariri, cựu Thủ tướng bị ám sát). Ở đầu kia châu Á, phi trường Đài Bắc, từ một nhân vật (Tưởng Giới Thạch, cựu Chủ tịch không ai ám sát nhưng gần đây ngay tại Đài Loan cũng đã trở thành đồng nát của lịch sử) lại đổi sang một địa danh nghe rất là Tam Anh kết nghĩa (Đào Viên). Nigeria, tôi không có theo dõi cận kề, có thể là từ ngày cô này mới đẻ.
Đọc tiếp »
Hồ Đình Nghiêm
Ai người viết nốt tình ca
Tôi về hát dưới mây sa hẹp trời
Thân tôi lạ, đoạn thơ buồn
Đêm xanh cổ tích khuyết màu trăng non
Ngồi yên trừu tượng đoản văn
Người xưa: bất kiến kỳ hình, thật sao?
Tôi đi mộng mị nhớ quên
Chân nghiêm chỉnh bước dẫm lên bóng mình
Ai về đất trở dạ, đau
Mưa hoan lạc trút triệu điều nhặt thưa
Lâm bồn bóng nước vỡ òa
Xin vuông tròn một lòng son tượng hình
Ai qua nắng cực nặng đầu
Ngỡ Em tái hiện giấc đời hư hao.
Hồ Đình Nghiêm
5/11
Nguồn: Tác giả gửi
Doãn Quốc Sỹ
Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.
Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi – lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi – chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:
– Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.
Cậu tôi không chịu:
– Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).
Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.
Đọc tiếp »