Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Nguyễn Văn Sâm

chan_dung_nhat_linh-nguyen_gia_tri
Chân dung nhà văn Nhất Linh (1906-1963)
Nguyễn Gia Trí

Năm 1926 Nhất Linh lúc đó là một thanh niên còn rất trẻ, cho ra đời quyển Nho Phong viết trong hai năm 1924-1925, lúc mới 18, 19 tuổi. Năm sau 1927 ông viết và in tập truyện Người Quay Tơ. Căn cứ trên những năm viết 1924-1927 thì ta chắc chắn rằng hai tác phẩm nầy là hai công trình văn nghệ đầu tay của Nguyễn Tường Tam, người thanh niên mới chập chững vào đời và mới bước vào chuyện viết lách.

Hai tác phẩm nầy có phần số đặc biệt của nó.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

hoai_khanh_2.jpg
Nhà thơ Hoài Khanh (1933-2016)

LTS: Nhà thơ Hoài Khanh vừa qua đời ngày 23.3.2016 tại nhà riêng ở Biên Hòa, Đồng Nai Việt Nam, hưởng thọ 83 tuổi. Chúng tôi đăng lại bài của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên viết về ông như một nén nhang tưởng nhớ.

Khoảng giữa thập niên 1960, tôi đứng xa nhìn ngắm Hoài Khanh qua những bài thơ đăng rải rác trên các tạp chí Văn Nghệ Sài Gòn, một vài truyện ngắn, một số dịch phẩm và đặc biệt là các bài viết về thi ca Châu Phi da đen. Đứng rất xa đọc và không có một ý niệm nào rõ rệt, ngay cả khi đến tòa soạn gửi bài cho tập san Giữ Thơm Quê Mẹ thấy ông đang ngồi tiếp chuyện thầy Thanh Tuệ và Tuệ Sĩ.
(more…)

Thụy Khuê

vu_khac_khoan
Nhà văn, Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan (1917-1986)

Tiểu sử

Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà Nội. Mất ngày 12/9/1986, tại Minnesota, Hoa Kỳ. Học sinh trường Bưởi; Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao Đẳng Canh Nông. Tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà Nội và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng.

Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông: hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953).

Ngay từ thời còn là sinh viên y khoa, Vũ Khắc Khoan đã đạo diễn những vở Thế Chiến quốcNửa đêm truyền hịch của Trần Tử Anh, trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội; viết và dựng kịch bản đầu tay Trường ca Mông Cổ, tác phẩm làm nền cho vở Thành Cát Tư Hãn sau này. Năm 1952, ông vừa dựng, vừa diễn vở Thằng Cuội ngồi gốc cây đa tại Nhà Hát Lớn.
(more…)

Trần thị LaiHồng

Văn Thánh trồng Thông
Võ Thánh trồng Bàng
Ngó qua Xã Tắc hai hàng Mù U…
(Ca dao Huế)

slash_pine
Thông Slash Pine thân uốn cong
kề cận kè rẽ quạt Saw Palmetto

Photo Nhö Thöông 27 tháng 11, 2015

Vườn Quê Xa mang ước vọng hội nhập phần nào cây trái quê hương thân thương mịt mù xa cách, nên ráng thu gom được nhiều loại, và bài này riêng về thông, bàng và mù u.

Thông nơi này là Slash Pine, không giống thông nhựa hai lá núi Ngự Bình, đàn Nam Giao, rừng Đan viện Thiên An phía Tây Nam thành phố Huế, hay thông năm lá Đà Lạt, tuy cùng thuộc họ Pinaceae, nhưng là loại Pinus eliottii, lá có nhiều chùm liền nhau ngay đầu cành, trông giống cái chổi. Dưới gốc thường hay có lá kè rẽ quạt Saw Palmetto khắng khít kề cận.
(more…)

Phan Thành Khương

phan_chau_trinh
Phan Châu Trinh (1872-1926)

Năm 2016 là năm kỉ niệm 90 năm Ngày mất của Nhà cách mạng, Nhà văn hóa kiệt xuất Phan Châu Trinh (24/3/1926 – 24/3/2016). Trong quá trình hoạt động cứu Nước, cứu Dân, Phan Châu Trinh đã viết một khối lượng tác phẩm đồ sộ bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, với nhiều thể loại khác nhau: thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt, nghị luận chính trị, tiểu thuyết diễn ca, các bài báo, các bài diễn thuyết, thư từ, v.v… (1).

Nhân dịp đón năm mới 2016, chúng ta cùng đọc lại một số thi phẩm của Ông để hiểu được phần nào lòng yêu Nước thương Dân đậm đà, sâu sắc, tinh thần cách mạng kiên cường, gan thép và tư tưởng tiên tiến của vị Lãnh tụ Phong trào Duy Tân, của một Người mà “Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê; Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm rạng chói.” (“Văn tế Phan Châu Trinh” – Phan Bội Châu).
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

tuong_thuong_tiec
Thương Tiếc
Nguyễn Thanh Thu

Trên thế giới này, bất kỳ thời đại nào, chiến tranh luôn là tai họa đối với loài người. Kẻ gây chiến luôn gieo rắc tội ác đổ xuống nhân gian, là bọn khốn nạn, vô luân nhất trần gian… cùng vô vàn tính từ ghê tởm gắn cho chúng.

Hai mươi năm nội chiến Nam-Bắc là cuộc chiến vô đạo, phi nhân đến từ một học thuyết xuẩn động và man rợ nhất, gieo rắc bao nỗi kinh hoàng, những cái chết phi lý, không đáng có.

Hàng triệu tấn bom đạn vãi ra, bằng con số ấy nhà cửa ruộng vườn nát tan, và với con số ấy những lương dân đã gục chết thê thảm, cũng chỉ bởi một dúm người không tim, chẳng có óc (!) đến nỗi một người dân bình thường phải thảng thốt kêu lên “Chiến tranh con mẹ gì mà lâu thế” (Y Uyên, Mùa xuân qua đèo) hay một người lính tham dự vào cuộc chiến cũng đã phẫn nộ “Chiến tranh hả? Chiến tranh là cái c… chó gì!” (Thảo Trường, Cánh đồng đã mất).
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

truyen_tho_truong_thien_huu_1
Tựa và năm viết của
truyện thơ Trương Thiện Hữu

Cách nay hơn 10 năm, trong một lần xem tủ sách sưu tập của một nhân vật chơi sách tiếng tăm ở Saigon trên đường Trương Minh Giảng cũ, tôi được cho phép sao chép quyển truyện Nôm ít người biết đến: Trương Thiện Hữu Diễn Ca 張善有演歌. Bản văn viết bằng thứ chữ Nôm cực đẹp trên giấy mỏng của thời xưa gồm 40 tờ, mỗi tờ 2 trang viết một mặt, xếp đôi lại theo cách thông thường của sách xưa – như vậy sách gồm cả thảy là 80 trang.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

bia_u_tinh_luc

I.
Đọc vài ba câu ca dao của miền Nam ta sẽ thích thú ngay với những hình ảnh đuợc mô tả, cách nói, thái độ của nhân vật, ta cảm thấy gần gũi với họ biết bao nhiêu.

Chẳng hạn lời trách cứ của người trai:

Bậu nói với qua bậu không bẻ mận hái đào
Mận đâu bậu bọc mà đào nào bậu cầm tay.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm

tay_du_ky

Tổng quan

Năm 1952, ở tận cực Nam nước Việt là tỉnh Châu Đốc, ông Nam Cư Nguyễn Đình Triêm, một người cháu nội của Nguyễn Đình Chiểu, khi giới thiệu tiểu sử Bùi Hữu Nghĩa trong quyển Bùi Hữu Nghĩa, Thơ Văn và Vở Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên có nhắc đến hai tuồng hát bội Tây DuMậu Tòng của Bùi Hữu Nghĩa. Tuy ông Nam Cư không nói gì đến nguồn tài liệu dẫn đến sự tuyên bố nầy, nhưng với cung cách làm việc của ông, chúng tôi tin tưởng rằng lời xác quyết trên mang nhiều giá trị khả tín cho đến khi có ai đó trình làng bằng chứng nói khác đi. Trước tới giờ, một vài tác giả khi nói tổng quát về hát bội cũng có nhắc đến tuồng Tây Du, nhưng không nhắc gì về tác giả, cũng không dẫn chứng một câu nào của tuồng đồ sộ 100 hồi (độ 4000 trang) nầy. Lý do là tuồng còn ở dạng chữ Nôm và hiện tại chỉ Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Paris lưu tồn được một bản viết tay thôi, không ai thấy ở đâu nữa một bản nào khác. Tuồng quá dài, sao chụp được toàn bộ cũng khá vất vã, phiên âm cũng mệt mà đọc hết chắc cũng ngất ngư, cho nên giới thiệu toàn bộ chưa chắc đã hữu ích về mặt giải trí… Chúng tôi tùy theo hoàn cảnh và khả năng phổ biến của mình mà giới thiệu từng hồi một, không nhứt thiết đi theo thứ tự nào, độc giả cũng không nhứt thiết phải đọc nguyên văn từng hồi sẽ được chúng tôi phiên âm sau nầy. Không nhứt thiết vì hát bội là thể văn xa xưa lời lẽ đã cao kỳ mà văn chương lại nhiều chữ cổ xưa khó hiểu tường tận. Giải quyết phần nào tình trạng đó bước đầu chúng tôi xin giới thiệu tóm lược và nêu ra ý nghĩa mỗi hồi khi có thể được.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

tuy_ha
Nhà thơ Túy Hà

Không hiểu sao khi nghiền ngẫm tinh hoa trong thơ Túy Hà, người đọc vẫn thấy lẻ loi trong không gian tương ngộ trước mấy câu thơ “Ảo mộng phù vân trăm nhánh rẽ/ Biết mà sao vẫn quặn lòng đau”. Đứng giữa hoang phế đường đời trăm ngàn lối nhỏ phải chọn để bước qua truông, những hư ảo vẫn biết rằng nhiều phen quấn quýt trong cuộc sống. Bên cạnh những hư thực cuộc đời như tiểu mộng, cứ vướng vất đơm hoa nguyệt huyết chung quanh ảnh tượng của những khúc tình ca ! Bất cứ người nhìn mộng như thực, thì muôn kiếp sinh tồn đều chìm đắm trong họa phẩm tượng trưng, cứ chau mình trong nguyệt khuyết mà vướng vất sương rơi… Có lẽ, thi nhân không thoát khỏi ảnh tượng đó, mà vét hết nỗi lòng chiêm nghiệm phù vân trong nỗi hoài niệm. Biết vậy, nhưng vẫn “ Tiếng thở dài sâu lời thơ gọi/ Vọng từ xa thẳm bến giang đầu”… Sao lại là thơ gọi, khi những ảo khúc tình ca cứ thăm thẳm chìm ngập trong ngũ tạng người thơ ?
(more…)

Đoàn Thị Tảo

phan_dac_lu-we_are_one
Nhà thơ Phan Đắc Lữ

Ngày ấy là cuối những năm năm mươi của thế kỹ trước, chàng trai trẻ của đất Quảng Nam bỏ cả học hành, không ngại hiểm nguy, rời bỏ Sài Sòn vượt Trường Sơn ra Hà Nôi.

Ngày ấy Phan Đắc Lữ lang bạt khắp đất Bắc, chiêm nghiệm cuộc đời trong nỗi niềm đau đáu nhớ quê!

Những vấp váp đầu đời: Đổ vỡ ước mơ, hoài bão không thành, công danh chẳng toại nhưng trong mắt những người trẻ tuổi như chúng tôi ngày ấy, một Phan Đắc Lữ anh hùng cái thế như tráng sỹ Đinh Lăng, đặt cuộc đời trên yên ngựa để trả nợ non sông – một Thâm Tâm “Nhất khứ bất phục phản” : “Chí lớn không về bàn tay không”.
(more…)

Thụy Khuê

vo_phien_5
Nhà văn Võ Phiến (1925-2015)

Tiểu sử Võ Phiến

Võ Phiến tên thật là Đoàn Thế Nhơn, bút hiệu khác: Tràng Thiên. Ông sinh ngày 20/10/1925 tại làng Trà Bình, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Cha là Đoàn Thế Cần làm giáo học, mẹ là Ngô Thị Cương. Võ Phiến có người em ruột là Đoàn Thế Hối, sinh năm 1932, sau này ra Bắc tập kết, cũng là nhà văn bút hiệu Lê Vĩnh Hoà. Khoảng 1933, cha mẹ xuống Rạch Giá lập nghiệp đem Đoàn Thế Hối theo; Võ Phiến ở lại Bình Định, sống với bà nội, học trường làng, trung học ở Quy Nhơn. 1942 ra Huế học trường Thuận Hóa và bắt đầu viết văn. Bài tùy bút đầu tiên tựa đề Những đêm đông viết năm 1943 đăng trên báo Trung Bắc Chủ Nhật, ký tên Đắc Lang.
(more…)

Nguyễn Quang Tấn

nguyen_binh_2
Thi sĩ Nguyễn Bính (1918-1966)

Những người sáng tác, và cả những nhạc công đều đồng ý với nhau: Kỹ thuật càng phức tạp, thì tính biểu cảm của tác phẩm càng bị giới hạn. Tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo thì bát ngát mà cứ phải co cụm trong cái rọ của những khuôn này phép nọ, niêm với luật, vần với điệu… Vì thế, nẩy sinh ra những phá cách, phá thể. Thơ tự do ra đời có lẽ là do suy nghĩ ấy, và trường phái Hậu Hiện Đại với chủ trương: Mọi bảng cấm đều được hạ xuống, mọi ngôn từ đều bình đẳng, và nhóm Dada với khẩu hiệu ngộ nghĩnh: Những gì nghệ sĩ khạc nhổ ra đều là nghệ thuật.
(more…)

Ngô Thế Vinh

hs_dinh_cuong
Đinh Cường
[Nghệ Thuật Tạo Hình VN Hiện Đại, Huỳnh Hữu Uỷ, VAALA 2008]

TIỂU SỬ ĐINH CƯỜNG

Tên thật là Đinh Văn Cường, sinh ngày 5 tháng 7 năm 1939 tại Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xứ sở của đồ gốm và sơn mài, với trường Mỹ Nghệ Thủ Dầu Một do người Pháp thành lập từ 1901 [Thủ Dầu Một cũng là nơi hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí đã bị người Pháp giam an trí tại đây sau khi ra khỏi trại tù Sơn La]

1951-1957 học sinh Trung học Pétrus Ký Sài Gòn.
1963 tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
1964 tốt nghiệp Sư Phạm Hội Hoạ Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn
1962 Huy Chương Bạc với bức Thần Thoại, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1962 Giải Thưởng với bức Nhà Thờ, Đệ Nhất Triển Lãm Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn của Toà Đại Sứ Trung Hoa Dân Quốc
1963 Huy Chương Bạc lần thứ hai với bức Chứng Tích, Triển Lãm Hội Hoạ Mùa Xuân Sài Gòn
1969-1971 Uỷ viên Kiểm soát Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam
1963-1967 Giáo Sư Hội Hoạ trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Huế
1967-1975 Giáo Sư trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

pham_ngu_lao

Danh tướng Phạm Ngũ Lão người Hải Dương, huyện Đường Hào, làng Phù Ủng, con ông Phạm Tiên Công và là con rể của Hưng Đạo Vương.

Trải qua ba Triều vua đời Nhà Trần: Trần Nhân Tôn, Trần Anh Tôn, Trần Minh Tôn, Ông lập được nhiều chiến công hiển hách, đánh đuổi quân Nguyên Mông ở các trận Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng… Chinh phục Ai Lao, Chiêm Thành được phong đến chức Điện súy Thượng tướng quân.

Cơ binh dưới quyền Phạm Ngũ Lão được mệnh danh “Phụ-Tử chi binh” vì ông thương lính như con và cư xử rất mực công minh, chí tình nên đánh đâu thắng đó…

Tuy là danh tướng, song Phạm Ngũ Lão cũng để lại một số thơ văn. Tiêu biểu là 2 bài thơ Thuật Hoài và Vãn Thượng Tướng Quốc Công Hưng Đạo Vương như dưới đây:
(more…)

Nguyễn Đức Toàn
Viện nghiên cứu Hán Nôm

tran_trong_kim
Học giả Trần Trọng Kim (1883 – 1953)

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
(more…)

Đàm Trung Pháp

thuy_kieu-thuy_van

Các chủ ngữ vô hình

Nhiều câu trong tuyệt tác Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du chứa đựng những chủ ngữ vô hình, thiếu minh xác mà theo Đoàn Phú Tứ (1949) như “ẩn hình ngay trong động từ, ta không vạch được nó ra một cách rành rọt mà chỉ hội được nó, theo cái nghĩa của đoạn văn mà thôi.” Ông Tứ đưa ra thí dụ dưới đây:

Bóng hồng nhác thấy nẻo xa,
Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai.
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện rứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn nghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.

(more…)

Nguyễn Văn Sâm phiên âm và giới thiệu.

thuy_kieu_ngoi_dan

Thúy Kiều, dầu là nhân vật thiệt sự ngoài đời, được Thanh Tâm Tài Nhân cấu tạo thành nhân vật tiểu thuyết, đối với người Việt Nam nói chung hay đối với người đọc Đoạn Trường Tân Thanh nói riêng cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết. Do đó những gì người ta viết thêm về Kiều – hay những nhân vật trong Đoạn Trường Tân Thanh – đều chỉ là hình thức bày tỏ lòng cảm phục Nguyễn Du qua sự lân mẫn hay oán ghét nhân vật của ông mà thôi… (Thúy Kiều Án chẳng hạn)

Đọc Văn Tế Vợ của Bùi Hữu Nghĩa, Văn Tế Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, Văn Tế Bá Đa Lộc, Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc… Người đọc cảm xúc và có thể để lòng mình nổi lên tràn đầy tình cảm bi thương cho người được tế khi nghĩ đến số phận không may của họ. Đọc Văn Tế Kiều những tình cảm nầy chắc chắn sẽ được ngăn chặn lại không cho tràn đầy vì trong thâm tâm người đọc nổi lên một sự ngăn chận vô hình: Đó chỉ là nhân vật tiểu thuyết và người đứng tế cũng chỉ là một nhân vật tiểu thuyết chẳng qua một người nào đó viết giùm. Sự ngăn chặn nầy tuy vậy không làm mất giá trị thiệt sự của Đoạn Trường Tân Thanh về phương diện văn học, đó chỉ là sự báo hiệu của tâm thức để phân biệt đời sống thực tế và đời sống do tác phẩm văn nghệ tạo ra trong trí độc giả mà thôi.
(more…)

Đàm Trung Pháp sưu tầm và dịch thuật

cat_in_the_rain

Con mèo trong mưa

Chỉ có mỗi hai người Mỹ ở lại khách sạn. Họ chẳng quen một ai trong số những người họ gặp trên cầu thang trên đường ra vô phòng họ. Phòng họ trên lầu hai, ngó ra biển. Cũng ngó ra công viên và đài kỷ niệm chiến tranh. Có những cây cọ lớn và những ghế dài trong công viên. Khi thời tiết tốt bao giờ cũng có một hoạ sĩ với chiếc giá vẽ. Các hoạ sĩ thích hình dáng những cây cọ và những màu sắc tươi sáng của những khách sạn hướng ra các công viên và biển cả. Nhiều người dân Ý từ phương xa ghé đến để xem đài kỷ niệm chiến tranh được làm bằng đồng sáng loáng trong mưa. Trời đang mưa, nước mưa tí tách rớt xuống từ các lá cọ và đọng thành từng vũng trên các đường lát sỏi. Sóng biển nhấp nhô trong làn mưa rơi, rạt vào trong bãi rồi lại kéo ra khơi. Những xe hơi đã rời khỏi công viên. Bên kia công viên, trước quán cà phê có một người hầu bàn ngó ra hướng công viên vắng lặng.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai – Nguyễn Đình Toàn

nguyen_dinh_toan-tran_cao_linh nguyen_dinh_toan-nguyen_ngoc_dung
Nguyễn Đình Toàn
trái: photo by Trần Cao Lĩnh;
phải: photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm

TIỂU SỬ:

Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn]; Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm. Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.
(more…)

Thiếu Khanh

thieu_nu_cheo_xuong

Tiếng nói không những là phương tiện giao tiếp mà còn là một thứ “căn cước” cho biết mình là người miền nào. Nghe tiếng nói người ta phân biệt được người Bình Định với người người Phú Yên, người Gò Công cũng nói không giống người Rạch Giá.

Tuy vậy, không cần phải là một nhà nghiên cứu, ai cũng có thể thấy người Việt, nói chung, có chung một đặc tính kỳ diệu: từ Bắc xuống Nam cùng nói một thứ tiếng Việt phổ thông; sách vở cũng dùng chung một thứ chữ Việt phổ thông. Nếu trong 9 thôn bản của người Mông, Lô Lô, Tày, Pu Péo ở xã Lũng Cú, một xã cực bắc Việt Nam, thuộc huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, mà có người Việt sinh sống, thì người Việt ở đó, cho đến những người Việt ở Xã Đất Mũi, một xã cực Nam, thuộc Huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, cùng đọc hiểu chung một thứ chữ viết, nói chung một thứ tiếng Việt.
(more…)

Thụy Khuê

tuong_Quang_Trung

Sau khi đại phá quân Thanh năm 1789, uy thế Quang Trung lừng lẫy, nhưng sự kiện anh em bất hoà từ 1787 vẫn còn hằn vết. Giang sơn chia hai, Nguyễn Huệ giữ từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Nhạc từ Quảng Nam tới Quy Nhơn. Đất Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, trên nguyên tắc của Nguyễn Nhạc, nhưng là vùng tranh chấp thường xuyên. Nguyễn Ánh giữ miền Nam. Họ xưng là “ba nước”.

Về phía Nguyễn Ánh, sự bình định miền Nam đã xong, cơ sở hành chính và quân đội đã vững. Kế hoạch chiến tranh cũng được vạch rõ: sẽ không đánh liên tục mà đánh theo gió mùa, thuận gió thì đem tầu thuyền ra tấn công chiếm đất, để quân, tướng, ở lại giữ; hết gió, lại rút về Gia Định, cho quân làm ruộng, đợi năm sau. Chính sách khi có giặc thì đánh, khi nghỉ thì cho quân về làm ruộng, có từ thời nhà Đường; ở ta, các đời vua đều ít nhiều sử dụng, không phải do Bá Đa Lộc “dạy” như Faure viết, rồi những người sau chép lại.
(more…)

Kiệt Tấn
Đọc tiểu thuyết Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa của Trương Văn Dân – PNB & NXB Hội Nhà Văn, 2011

bia_ban_tay_nho_duoi_mua

Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thau hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

(Phạm Thiên Thư)

Khi về tay nhỏ che trời rét
Nghe giá băng mòn hết tuổi thơ

(Nhã Ca)

Người đàn bà cúi đầu lủi thủi dưới mưa trời, lòng ướt dầm trĩu nặng. “Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Tay trái dắt con, tay phải đưa lên che đầu. Nhưng bàn tay bé nhỏ của tôi không che nổi trời, những hạt mưa vẫn tưới xuống những sợi tóc ướt, xoắn thành lọn…nước nhỏ thành giọt lạnh xuống đôi vai”

Cuộc hôn nhân đầu đời gãy đổ, lòng thất vọng ê chề.
(more…)

Hoàng Yên Lưu

hoang_xuan_han
Học giả Hoàng Xuân Hãn

Bắc đình thời nào cũng vậy từ Tần Thủy Hoàng, Hán Quang Vũ, Đường Thái Tông, Tống Thần Tông, Nguyên Thế Tổ, Minh Thành Tổ, Thanh Càn Long cho tới Mao Trạch Đông… đều lăm le xâm lăng Nam quốc nếu có cơ hội và khả năng. Lòng tham không đáy, thủ đoạn dã man của rợ Hồ (như cách nói của Trần Quang Khải: “cầm hồ Hàm tử quan”) đã khiến dân Việt lúc nào cũng phải cảnh tỉnh và mài sẵn long tuyền (như Đặng Dung từng nói: “Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma”) để trảm xâm lăng bảo vệ giang sơn Hồng Lạc.

Đối với cường địch, dân Nam vốn kiên cường và dũng cảm nhưng “bất đắc dĩ dụng quyền”. Lại vì hiếu hòa, trọng nhân ái như Nguyễn Trãi từng viết trong Bình Ngô đại cáo: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn. Đem chí nhân để thay cường bạo”, nên trước lúc giao tranh và sau khi thắng trận, ta vẫn thường sử dụng “lễ”, nghĩa là ngoại giao để thức tỉnh kẻ thù rằng nên sớm tỉnh ngộ, tránh thảm bại nếu xâm phạm đất của “nam đế” như Tướng quân Lý‎ Th‎ường Kiệt từng khuyến cáo bọn đồ tể từ Biện Kinh kéo sang ta: “nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
(more…)

Ngô Thế Vinh

Trước và sau thời 1954-75 ở Miền Nam, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy. [Võ Phiến nói chuyện với Đặng Tiến 28-10-1998]

vo_phien_3

Có thể nói Võ Phiến là một trong số các tác giả được viết và nhắc tới nhiều nhất. Trước khi quen biết nhà văn Võ Phiến, tôi đã rất thân quen với những nhân vật tiểu thuyết của ông như anh Ba Thê đồng thời, anh Bốn thôi, ông Năm tản, ông tú Từ lâm, chị Bốn chìa vôi từ các tác phẩm Giã từ, Lại Thư nhà, Một mình…

Rồi qua người bạn tấm cám Nghiêu Đề, qua toà soạn Bách Khoa, tôi quen ông từ những năm trước 1960 cho tới khi ra hải ngoại về sau này.
(more…)

Phạm Xuân Nguyên

bia_hanh_trang_ngay_tro_lai-tvd-2015

Tôi gặp Trương Văn Dân khoảng dăm năm trước. Một phóng viên báo Đại Đoàn Kết giữ mục Nhịp cầu liên hệ với người Việt Nam ở nước ngoài gọi điện bảo tôi là có một cộng tác viên của báo ở Italia thường về nước, anh có viết văn, nên muốn giới thiệu với tôi để làm quen và giao lưu. Thế là tôi gặp anh Dân, hình như buổi gặp đầu tiên ở quán nước cạnh Viện Văn học cơ quan tôi trên phố Lý Thái Tổ (Hà Nội). Ấn tượng ban đầu anh Dân gây cho tôi là con người anh chất phác và đôn hậu. Cái chất người đó của anh hiển hiện tự nhiên ở dáng vẻ bên ngoài và ở cách trò chuyện. Sau này còn gặp nhau nhiều lần, khi một mình anh, khi có cả chị vợ anh người Italia, tôi càng thấy sự chất phác và đôn hậu đậm rõ ở anh Dân. Sống ở nước ngoài hơn ba mươi năm có lẻ, mà lại là ở những trung tâm văn hóa lớn của châu Âu, nhưng hình như cái chất dân quê ở người chuyên gia hóa dược đã qua tuổi tri thiên mệnh này chẳng hề phai nhạt, vơi giảm. Quen nhau rồi, mỗi lần gặp, anh thường đưa tôi một vài truyện ngắn, một vài bài viết lẻ, nói đọc chơi cho ý kiến, nói có thể đăng đâu đó được thì đăng, cho vui. Từ lần gặp đầu tiên anh đã nhờ tôi sắp xếp gặp một số nhà văn ở Hà Nội và sau đấy mỗi lần anh về nước ra bắc là Trung Trung Đỉnh, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Việt Hà và tôi lại được hội ngộ cùng anh. Ngay từ đầu anh đã khiêm nhường không coi mình là nhà văn, chỉ là người thỉnh thoảng có viết văn như một nhu cầu thúc bách nội tâm, như một giãi bày tâm trạng, với chính mình trước hết. Giữa đám anh em văn sĩ ồn ào cười nói, vui đùa chọc quấy, nói đủ thứ trên trời dưới bể, bàn hết chuyện đông tây trong ngoài, anh Dân ngồi lẳng lặng nghe, bia rượu không uống, đồ mồi ít chạm, thi thoảng góp đôi ba câu chuyện nhỏ nhẹ, hiền lành. Cứ thế, anh đã thành bạn của tôi, của chúng tôi một cách tự nhiên, giản dị.
(more…)

Đỗ Trường
Viết nhân 100 năm ngày sinh của thi sĩ Vũ Hoàng Chương 1915-2015

vu_hoang_chuong_5
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1915-1976)

Khi tiếng kêu đớn đau của thi sĩ Hàn Mặc Tử ở phương Nam chợt vụt tắt, thì vòm trời thi ca đất Việt dường như chỉ còn một Vũ Hoàng Chương đang quằn quại với những vết thương xẻ nát tâm hồn. Thì kỳ lạ thay, từ chính vết thương đang rỉ máu ấy lại vẽ ra một lối đi riêng, một con đường cho thi ca ngay từ buổi đầu đến với thơ mới. Nếu ai đó đã nói, thơ là tiếng nói hồn nhiên trong trẻo của tâm hồn, là tuổi thơ của loài người còn xót lại…thì quả thật với Vũ Hoàng Chương, nó lại là tiếng bi ai được cất lên từ nỗi đau rách nát của linh hồn. Chính vì vậy, thơ ông đã chạm đến tận cùng nỗi đau và sự cảm thông của con người. Để rồi thơ văn Vũ Hoàng Chương không chỉ đóng đinh vào lòng người, mà còn dán chặt tên tuổi ông vào nền văn học nước nhà. Ông viết nhiều thể loại, từ thơ, văn đến cả kịch thơ…Hơn hai chục tác phẩm tuy chưa hẳn đã là nhiều, nhưng chính tư tưởng, hình tượng nghệ thuật mới làm nên chân dung và sự nghiệp sáng tác đồ sộ Vũ Hoàng Chương.
(more…)

Tâm Nhiên

bo_de_dat_ma

Sương mù bàng bạc ùn lên lãng đãng trộn lẫn với ngàn mây trắng bao la, hòa quyện cùng hương rừng gió núi, chập chùng trên tuyệt đỉnh Hy Mã Lạp Sơn, chờn vờn ngất tạnh bay quanh pháp hội Linh Sơn vào một thời xa xưa, cách đây mấy nghìn năm rồi mà tưởng chừng như mới hôm nào, vẫn còn nghe văng vẳng những lời thơ bất hủ của Thế Tôn vang vọng trầm hùng :

Hữu vi pháp hiện trùng trùng
Như huyễn như bọt nước tung vỡ rồi
Như ánh chớp như sương rơi
Thường quán như vậy nhẹ vời phiêu nhiên

(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

pham_van_nhan
Nhà văn Phạm Văn Nhàn

“Có thể cha con đánh nhau
trên cùng một mặt trận mà không hay biết.
Chiến tranh kỳ quặc, rõ ràng nồi da xáo thịt…”
(Phạm Văn Nhàn)

Phạm Văn Nhàn viết ít. Đến nay ông có 2 tập truyện là “Vùng Đồi” và “Màu Thời Gian”, đều viết khi định cư tại Hoa Kỳ và do Thư Ấn Quán xuất bản. Trước 75 ông cũng có một số truyện ngắn đăng rải rác trên các báo văn nghệ miền Nam, nhưng có lẽ do chiến tranh, hành quân và huấn luyện nên không giữ được bản thảo và cả những bài lai cảo để có thể coi đó là dấu mốc cho sự nghiệp văn chương cho cá nhân.

Có lần ông tâm sự: “Tôi đến với văn chương, trước hết là vì bạn bè”. Như vậy, phải chăng niềm đam mê của ông với chữ nghĩa được nhìn thấy từ bóng dáng các bạn văn nghệ một thời, nơi những vùng đất đóng quân, kéo dài từ Bình Định đến Bình Thuận. Đó là những Trần Hoài Thư, Lê Văn Trung, Võ Tấn Khanh, Nguyên Minh, Nguyễn Bắc Sơn, Tô Đình Sự… nhất là với người anh Từ Thế Mộng. Nói khác, ông đã bị cuốn hút vào sinh hoạt văn nghệ từ trong nước hay sau này ở nước ngoài, ít nhiều đều xuất phát từ những người bạn. Ở đó, họ sống hết mình, làm việc hết mình và đối đãi với nhau bằng cả tấm lòng chân thật.
(more…)

Tâm Nhiên


Từ trái: Thanh Lương và tác giả

Thanh Lương là bút hiệu của Thích Thiện Sáng, một hành giả Thiền tông. Thế danh Trương Thượng Trí, sinh năm 1956, lớn lên bên dòng sông Cửu Long giữa trời thơ đất mộng An Giang. Bản chất thông minh, mẫn tuệ, vốn từ bi, hiếu thảo, có trực giác bén nhạy, ngay từ thời còn bé nhỏ đã có những biểu hiện khác thường như trầm tư, ưa đọc sách đạo lý suốt ngày, thích ăn chay và học hành ở trường lớp thì tinh tấn, luôn luôn dẫn đầu, xuất sắc.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

luan_hoan_2013
Nhà thơ Luân Hoán (2013)

Luân Hoán xuất hiện trên văn đàn miền Nam khá sớm. Theo như tự sự của ông thì “năm 11 tuổi đã bắt đầu tập làm thơ do thân phụ ông hướng dẫn”. Ba năm sau, Luân Hoán có thơ đăng trên Tuổi Xanh; sau đó lần lượt đăng trên các tạp chí Gió Mới, Mai ở tuổi 15, 16. Cũng theo ông, thì Ngàn Khơi và Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng thơ thời niên thiếu của ông nhiều nhất. Đến nửa thập niên 60, ông có chân trong Ban Biên Tập tạp chí Văn Học (sau khi nhà văn Dương Kiền chuyển giao Chủ bút cho ông Phan Kim Thịnh). Từ đó thơ ông xuất hiện đều đặn trên Bách Khoa, Phổ Thông, Văn Học, Văn…

Thơ Luân Hoán hướng về đề tài chiến tranh, tình yêu, thân phận tuổi trẻ… như nhiều nhà thơ khác cùng thời (hẳn nhiên, mỗi người đều có cách nhìn khác nhau về đề tài mình chọn lựa). Sau khi gửi lại một chân nơi chiến trường Mộ Đức năm 1969, Luân Hoán vẫn tiếp tục làm thơ, như một cái nghiệp trói chặt cuộc đời ông. Có người nói: Luân Hoán đã đứng dậy và làm thơ hay hơn xưa bởi bên cạnh có người vợ hiền, để, tới nay ông đã có trên 10 tập thơ được xuất bản trong và ngoài nước.
(more…)

Tô Đăng Khoa

bia_truoc_bong_bay_gio_oi

Phần 1.   Về Tính Hội Tụ của “Một Tản Văn Dị Thường”

“Bóng Bay Gió Ơi” là tác phẩm thứ chín của Nguyễn Thị Khánh Minh (NTKM) phát hành đầu năm 2015. Đó là tập tản văn mà Phan Tấn Hải gọi là “một tản văn dị thường” trong lời bạt cuối sách. Theo chỗ tôi hiểu, sự “dị thường” đó chính là tác dụng của ngôn ngữ NTKM lên tâm thức của người đọc.

Thành công NTKM trước hết về mặt mỹ học là cách chọn chữ rất chuẩn xác để lột tả những nét riêng và chung của những cảm xúc phổ quát, thuần khiết, tiềm ẩn trong các mối liên hệ linh thiêng huyền nhiệm giữa người-với-người và người-với-thiên-nhiên. Các tản văn được viết ra đều đẹp như thơ, thâm trầm, nhẹ nhàng, và bay bổng như là “bóng bay gió ơi.” Nhưng ở tầng sâu hơn, sự phối hợp tài tình của những con chữ trong tản văn NTKM đã thành tựu một sự kiện “dị thường”: nó truyền tải những ký ức (rất riêng tư) của NTKM thẳng đến tầng sâu vô thức của người đọc. Tại đó, chúng đánh thức những ký ức rất xưa cũ trong lòng ta, những ký ức mà tưởng chừng đã vĩnh viễn bị chôn vùi trong những bôi xóa của thời gian trong suốt một đời lang bạt.
(more…)

Trịnh Bình An

bia_truyen_ngan_mac_do

Mặc Đỗ là một tên tuổi lớn trong làng báo chí văn nghệ Sài Gòn trước 1975, nhưng giờ đây dường như chẳng còn ai biết tới ông. Không, phải xóa đi hai chữ “dường như” bởi vì thực sự chẳng còn ai biết tới Mặc Đỗ nữa. Khi tôi tìm kiếm trên mạng chỉ thấy vỏn vẹn vài truyện ngắn, vài dòng tiểu sử ngắn, thế thôi; tài liệu duy nhất (và quý nhất) có lẽ là bài “Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn Mặc Đỗ”. Tại sao lại xảy ra như thế?

Có thể vì Mặc Đỗ từng được biết tới như một dịch giả thay vì tác giả? Hay có thể vì Mặc Đỗ không tham dự vào các sinh hoạt văn chương hải ngoại? Dù sao, Mặc Đỗ cuối cùng đã quyết định gom một số truyện ngắn để cho ra đời tuyển tập “Truyện Ngắn” vào đầu năm 2014; cuốn sách dày 500 trang này tôi may mắn được một người bạn cho mượn về đọc.
(more…)

Tâm Nhiên

the_poet
The Poet
Marc Chagall

Thơ là gì? Thi ca là cái chi? Có người cắt cớ hỏi Bùi Giáng như vậy. Thi sĩ khề khà trả lời: “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ, nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.” [1] Tuy nói thế, nhưng suốt bình sinh trong cuộc sống, thi sĩ chỉ dốc chí làm thơ và sống phiêu bồng, lãng tử như thơ mà thôi.

Đó là một cách trả lời mà không đáp ứng gì cả, giống như một tục khách đến hỏi thiền sư: “Thiền là gì?” Đáp: “Hôm nay thời tiết chưa tốt lắm.” Trả lời mà chẳng giải thích, vì thiền sư biết căn cơ của khách tục chưa đủ chín muồi, dù có nói nhiều điều cao siêu đi chăng nữa thì cũng không lãnh hội chi đâu. Tốt nhất là nên im lặng.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

bui_dang
Nhà văn Bùi Đăng

“…bọn người nghèo đói, lam lũ
và độc ác lén lút mang chiến tranh về làng”
(Bùi Đăng)

Cúi Mặt là truyện dài đầu tay và duy nhất của Bùi Đăng, được tạp chí Bách Khoa đăng liên tục trên 9 số báo, từ số 274 đến số 282.

Ngay sau khi đăng hết chương I, độc giả đã tự hỏi: Bùi Đăng là ai? Ông là một cán binh hồi chánh như Xuân Vũ? Sĩ quan Tổng cục Chiến tranh Chính trị, hay là người trong cuộc? Bởi từ trước đến nay, bút danh này chưa hề xuất hiện trên các trang báo văn học Sài Gòn.

Nhưng, những dòng chữ cuối cùng của Cúi Mặt vừa khép lại trên Bách Khoa, thì ngay sau đó, nhà xuất bản Thái Phương đã nhanh tay giành quyền ấn hành vào đầu năm 1969, và tháng 8 cùng năm, đạo diễn Thân Trọng Kỳ cho quay những cảnh đầu tiên trong Cúi Mặt tại Vũng Tàu, và công chiếu rộng rãi trên cả nước vào đầu năm sau.
(more…)

Thụy Khuê

bui_giang-thanh_tam_tuyen-mai_thao-nguyen_xuan_hoang-1972
Từ trái: Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng

Những sách biên khảo văn học xuất bản ở trong nước sau 1975, thường không nhắc đến nền văn học miền Nam từ 1954 đến 1975, mà thay vào đó là nền “Văn học giải phóng miền Nam”.

Văn học “giải phóng” gồm những ai? Phạm Văn Sĩ, tác giả cuốn Văn học giải phóng miền Nam (nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1975) kê khai rất nhiều tên tuổi, nhưng đọc lên thì người dân miền Nam không biết họ là ai như Huỳnh Minh Siêng, Trần Hiếu Minh, Hưởng Triều, Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái, v.v… Nếu nói tên thực của họ ra thì hầu như mọi người đều biết vì đó là những nhân vật rất nổi tiếng: Huỳnh Minh Siêng chính là Lưu Hữu Phước, Trần Hiếu Minh là Nguyễn Văn Bổng, Hưởng Triều hay Hiểu Trường là Trần Bạch Đằng, Nguyễn Trung Thành là biệt hiệu của Nguyên Ngọc, Bùi Đức Ái là Anh Đức v.v… Trên thực tế, những người xuất hiện thường xuyên trên văn đàn miền Nam lúc đó chỉ có Lữ Phương, chủ trương tờ Tin Văn và Vũ Hạnh, một trong những cây bút chính của tạp chí Bách Khoa, có khuynh hướng chính trị đối lập với Võ Phiến.
(more…)

Đỗ Xuân Tê

bia_nam_chu_ngan_cau

Khi chưa cầm được tập thơ trong tay, ý nghĩ ban đầu theo vô thức tôi cứ tưởng ai đó đã xếp chữ lầm tựa đề của tập thơ Năm Chữ Năm Câu của nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ xuất bản hồi đầu năm 2014. Nhưng rồi vào thăm mấy trang nhà, cái tựa vẫn đập vào mắt tôi và không còn nghi ngờ gì nữa, đây là tập thơ thứ 9, Năm Chữ Ngàn Câu, một thi phẩm hoàn toàn mới.

Xét về góc độ thời gian, sự ra đời hai tập thơ trong vòng một năm là một thành quả sáng tác đáng chú ý, nhưng nhìn lại tuổi tác của nhà thơ, chia theo bình quân, bảy chín 63 thì bảy năm mới có một tập thơ. Hay làm con tính nhẩm 45 năm làm-thơ (chứ không phải mần-thinh) thì năm chín 45, năm năm một tập vẫn chưa phải là nhịp độ sung mãn.
(more…)

Thụy Khuê

freedom_of_expression

Sau mười năm (1932-1942) toả sáng của Tự Lực Văn Đoàn, văn học Việt Nam dường như lắng xuống, để chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp. Các chính đảng bắt đầu hoạt động tích cực hơn, nhà văn cũng chia đôi giới tuyến “quốc-cộng”. Khái Hưng, Hoàng Đạo, tạm dừng bút để dấn thân tranh đấu, Nhất Linh trở thành nhà lãnh đạo chính trị.

Năm 1945, đảng Cộng Sản loại trừ được hầu như toàn bộ các lực lượng đối lập quốc gia và trốt-kít, hoàn thành cuộc cách mạng tháng Tám và lãnh đạo cuộc chiến chống Pháp. Nhà văn, bên này hay bên kia, đều trải một thời gian dài xuyên sa mạc, từ 1945 đến 1954. Mọi hoạt động văn học ngưng đọng trong 9 năm kháng chiến, trừ một số còn sáng tác ở Nam bộ, phần lớn đều trải qua những thăng trầm lịch sử: hoặc bôn ba hải ngoại, hoặc tản mát hoạt động trong kháng chiến, hoặc theo đuổi những lý tưởng chính trị quốc cộng khác nhau, hoặc đang chiến đấu, hoặc đã bị thủ tiêu, tử trận, hoặc bị thương tích thể xác cũng như tâm hồn.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

khuat_dau-2014
Nhà văn Khuất Đẩu

“…là bú chớ sao,
chỉ có mỗi một việc bú mà cũng không biết,
vậy mà đòi làm cách mạng.
Nhưng bú gì nào? Thì bú vú chứ chẳng lẽ bú c…”
(Khuất Đẩu)

Lão tiền bối là màn thứ ba trong vở kịch được Khuất Đẩu phân cảnh chặt chẽ, với màn khởi đầu là Những Tháng Năm Cuồng Nộ; màn 2 là Người Giữ Nhà Thờ Họ và màn 3 cũng là màn cuối cùng: Lão Tiền Bối, để ghi lại một giai đoạn lịch sử, xảy ra ở vùng nông thôn miền Trung với biết bao bi hài. Ở những màn trước là cảnh đấu tố, quy chụp, là sự trốn chạy, ẩn thân vào cảnh cô đơn cùng quẫn dẫn tới tội loạn luân, thì ở màn này là hiện thân của một thân xác trải qua sự phỉnh dụ, bỏ rơi, rồi dựng dậy như một món hàng buôn bán ngoài chợ ở cuối đời; là chân dung một số phận bị đẩy tới tận cùng tiếng kêu bi thống của kiếp người. Đó là cụ Chánh, cha cô Thảnh, một phụ nữ quyền uy trong thời kỳ Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền.
(more…)

Tô Đăng Khoa

bia_nam_chu_ngan_cau

Tập thơ “Năm Chữ Ngàn Câu” của thi sĩ Nguyễn Lương Vỵ ra đời đúng một năm sau tập thơ “Năm Chữ Năm Câu” và cũng là tập thơ thứ 9 của ông. Hai tập thơ tiếp liền trong hai năm, tuy tựa đề của tập thơ chỉ khác nhau có một chữ, nhưng về nội dung, thần thái, biểu tượng và ẩn dụ thì khác nhau rất nhiều. Trong tập “Năm Chữ Năm Câu,” Nguyễn Lương Vỵ đã tự mình thực hiện “cú nhảy sau cùng vàng câm trên bến lạ,” vượt qua giới hạn của ngôn ngữ để kinh nghiệm trực tiếp cái-không-lời. Từ kinh nghiệm đó, ông khai triển, thiết lập ngôn ngữ để phơi bày cái-thấy “Có-Không thiệt rốt ráo” trong lãnh vực Thi Ca. Lần này trở lại với độc giả, Nguyễn Lương Vỵ lại ung dung thực hiện những “cú-nhảy-lùi” rất ngoạn mục từ cảnh giới “vàng-câm-trên-bến-lạ” để trở về lại giấc mộng đời của nhân gian trong tập “Năm Chữ Ngàn Câu”:

Nhảy qua một giấc mộng:
Nhảy qua một bầu trời
Giấc mộng thì nửa vời
Bầu trời thì lộn ngược…
(Không Ðề I)
(more…)