Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự’ Category

Hồ Đình Nghiêm


Nhà thơ Lê Thị Huệ

Hoa huệ đâu có mầu xanh, nhỉ? Xanh nầy tựa như Khúc Cầm Xanh, hoặc Lệ Đá Xanh. Hoa huệ phải là màu trắng. Và Huệ Trắng, là tên một bài thơ:

“Sống mãi trong lòng giấy già qua bao cửa phù trầm
Những nhánh chữ toả muôn nghìn chân phiếm
Bám lấy khoảng hư không của bầu trời ái ngại
Một cõi mênh mông sáng rực rỡ xưa sau
Ở phía bên kia của trí tưởng hoảng hoát
Cả miền thịt da thơm nẩy rú rừng em huệ trắng
Bài thơ em gửi anh mãi mãi là bài thơ tình thứ nhất”.

Người làm ra bài thơ trên mang tên Lê Thị Huệ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Quốc trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970)

Cụ Sửu’ là tiếng thân kính toàn thể 116/117 dân biểu Quốc Hội Lập Hiến (Sàigòn, 1966-1967) gọi cụ Phan Khắc Sửu, những đồng viện trẻ thì không nói làm gì, cả những đồng viện ngang tuổi cụ như DB Huỳnh Thành Vị, đơn vị Sàigòn hay DB Huỳnh Bình Yên đơn vị Vũng Tàu hoặc DB Nguyễn Văn Tho của đơn vị Cần Thơ hay DB Nguyễn Bá Lương đơn vị Phước Long cũng vậy. Tiếng gọi thân kính nầy tôi cũng nghe từ những người bạn tranh đấu với cụ Sửu như DB Trần Văn Văn đơn vị Sàigòn, DB Phan Quang Đán đơn vị Gia Định hay những người có thành tích cách mạng ở miền Trung như DB Trần Điền đơn vị Thừa thiên, DB Phan Thiệp đơn vị Quảng Nam (Ngãi ?)…

Sự thân kính đến từ đâu vậy? Không phải chỉ vì cụ lớn tuổi, không phải vì cụ thân thiện với những đồng viện mà căn bản là vì sự kiên cường trong quá khứ khi tranh đấu với thế lực ngoại bang (thực dân Pháp) hay đối đầu với những người theo phương cách cai trị mà theo cụ sẽ đưa nước nhà đến chỗ tồi tệ, nguy hại. Vì vậy khi cụ bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn trước 1945, mỗi ngày họ dẫn tù đi ngang qua một văn phòng có treo cờ tam tài họ bắt toàn thể tù nghiêm chỉnh cúi đầu chào thì Cụ Sửu phản đối sự kiện nầy và hình như mỗi ngày cụ ‘đều ăn một vài ba-trắc lên đầu, khiến cho đầu tôi u nần không bao giờ lặn’. Cụ Sửu kể lại chuyện nầy với nụ cười hiền nhưng đầy vẻ ngao ngán khi nói chuyện thân tình với các DB trẻ.
(more…)

Song Thao


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

Nghiêm là tên anh bạn văn nhỏ tuổi của tôi. Cái tên nghe như một khẩu lệnh không được ưa chuộng trong quân đội. Tên không phải là người. Nghiêm không…nghiêm, nhưng kín. Anh rất thiếu thoải mái trong giao tiếp. Cũng như anh bạn xứ Quảng Luân Hoán của chúng tôi. Cả hai rất e dè trong tiếp xúc.

Chẳng phải hai người bạn miền Trung của tôi chỉ giống nhau có vậy. Họ còn nhiều điểm tương đồng. Cả hai cùng không ăn cá, không ăn chim. Loài chim bị chê này còn mở rộng tới…gà, vịt, ngan, ngỗng. Cứ có cánh là không chơi, chắc hai ông này sợ bị bay lên trời mất tiêu! Cá và chim trên bàn nhậu được hai ông này nhìn với cặp mắt lơ là. Nhưng hai ông bạn này, một trẻ, một sắp già, cũng có điểm khác biệt. Ông Luân Hoán không hảo chất cay. Ông chỉ nhấm nháp chút đỉnh rượu vang rồi ăn phở. Muôn đời ăn phở chỉ vì thịt trong phở là thịt bò, không gà không cá. Phở có lạt thì ông coi như “nơ-pa” vì ông không bao giờ nhúng miệng vào nước mắm. Chẳng lẽ mang tội giết chết phở bằng …xì dầu! Có lúc nhìn ông Luân Hoán xích hũ nước mắm trước mặt ông ra chỗ khác vì cái mùi đặc trưng của nó, tôi thắc mắc không biết ông này có phải là con dân xứ nước mắm không. Nhưng khi tới nhà ông, thấy hộp thư trước cửa sơn hình cờ vàng, thắc mắc này lại nguội mất tiêu!  Ông Nghiêm thì khác. Ông không bao giờ nhấp rượu vang, dù chỉ chút đỉnh. Anh em đi nhậu thường xách theo rượu vang. Ông chê. Ông thủ theo hai lon bia. Ông chỉ uống bia. Khác với một ông Huế khác là ông Hoàng Xuân Sơn. Ông này uống…thập cẩm. Cứ chất chi có tí cay là ông đổ vào miệng, không phân biệt…chủng tộc.
(more…)

Đỗ Trường

Tôi có ông bạn, học Đại học an ninh cùng khóa với Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Phó chủ tịch Hội nhà văn VN Nguyễn Quang Thiều, và nhà văn Thùy Linh… Đang là an ninh nhòm ngó, chọc ngoáy khắp nơi, không hiểu thế quái nào lại chuồn sang Đức, xung vào đội quân lao động, đánh thuê trên ba chục năm nay. Không những vậy, khi ổn định giấy tờ, công ăn việc làm, hắn đưa tất tật tật vợ con, anh chị em sang Đức. Dù vợ hắn đang là Chef một công ty kinh tế của quân đội. Một vị trí, nói như giới chè chén vỉa hè là: Đắc địa. Ngày thống nhất nước Đức mùng 3 tháng 10 vừa rồi, ngồi khật khừ, đang xoáy về đề tài dã man của người Việt, đối với kẻ đánh bả và trộm chó, khi đã bắt được, xúm vào đánh hội đồng cho đến chết. Đột nhiên hắn vỗ vai tôi, bảo: Thời nay, không chỉ bọn bắt chó trộm mới biết dùng Bả nhé. Mà bọn quyền chức càng cao, thì kỹ thuật sử dụng Bả (chó) càng tinh vi và thâm hậu.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Một chế độ gồm toàn khuôn mặt thớt. (Phan Huy)

“Tôi đã từng rất ngạc nhiên khi được biết quyền tự do đi lại và cư trú, đặc biệt là quyền tự do xuất nhập cảnh dành cho chính công dân Việt là điều kiện tiên quyết mà Chính phủ Việt Nam phải chấp nhận để nhận được các khoản vay từ World Bank.” Tôi nghe thạc sĩ Trần Kiên nói vậy, và cũng “ngạc nhiên” không kém.

Hoá ra tại vì World Bank nên nhiều câu ca dao (mới) của VN đã chóng bị thời thế vượt qua, và sắp chìm vào quên lãng:

Trăm năm trong cõi người ta
Ở đâu cũng được đi ra đi vào
Xa xôi như xứ Bồ Ðào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Ðen đủi như An-Go-La
Người ta cũng được đi ra đi vào
Chậm tiến như ở nước Lào
Người ta cũng được đi vào đi ra
Chỉ riêng có ở nước ta
Người ta không được đi ra đi vào

(more…)

Từ Thức

Tại sao cái tôi, cái “égo” của người Việt lớn thế? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ: tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế?

Một lần ngồi nhậu với năm ông, có cảm tưởng ngồi với năm giải Nobel Văn Chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói “ông,” vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống). Học gạo được cái bằng (chưa nói tới chuyện mua được cái bằng), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.
(more…)

Võ Kỳ Điền

Tôi biết ông Lưu Thành Ý trước khi biết ông Lưu Bá Ôn. Đến khi học Văn Học Sử Trung Hoa thì đọc được công trình danh sĩ Lưu Cơ với nhiều tác phẩm trong đó có bản văn nổi tiếng được truyền tụng “Mại cam giả ngôn” (Lời người bán cam). Lúc đó mới biết Lưu Cơ là Lưu Bá Ôn mà cũng là Lưu Thành Ý. Tuy gọi là ba tên, thiệt ra chỉ là một người.

Lưu Cơ đậu Tiến Sĩ, chức vụ Tể Tướng, là khai quốc công thần đời nhà Minh, giúp Chu Nguyên Chương hoàn thành đại nghiệp. Ông Lưu Cơ nầy tự là Bá Ôn, tước Thành Ý Bá. Khi đọc sử sách ta bắt gặp nhiều nhân vật khi thì tên nầy, khi thì tên kia nhưng coi kỹ lại thì chỉ là một người. Cái khó khi đọc cổ văn Trung Hoa và Việt Nam là phải biết nhiều loại đặt tên của một danh nhân, rồi phải biết phân biệt chức và tước, phẩm hàm ra làm sao và rất nhiều thứ khác biệt chi ly nữa. Rồi mỗi thời đại lại có nhiều cách khác nhau. Như Nguyễn Trãi thi đỗ vào đời nhà Hồ, thời đó chưa có danh xưng Tiến Sĩ, mà phải gọi đúng là Thái Học Sinh.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Chân dung Mai Thảo
dinhcuong

Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều nầy, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn mầu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Dân chủ không phải là sản phẩm độc quyền của phương Tây dù nó bắt đầu ở phương Tây. Cũng như internet – không phải được phát minh ở phương Đông nhưng vẫn rất được chúng ta hoan nghênh và đang làm thay đổi xã hội phương Đông. (Trương Huy San)

Sáng ngày 3 tháng 10 năm 2017, ông Lê Tấn Thịnh (trưởng công an xã Quảng Điền, huyện Krông Na, tỉnh Đắk Lắk) đã làm náo loạn một khu chợ chồm hổm bằng nhiều cú đá hung bạo vào thúng mẹt rau cải, tôm cá … của bạn hàng ở địa phương này.

Những ông quan be bé “múa gậy vườn hoang” là chuyện thường ngày xẩy ra ở xã nên những sự kiện tương tự không mấy khi khiến cho bất cứ ai phải bận tâm:

Trưởng công an xã dở trò côn đồ ném đá vào dân
(more…)

Đàm Trung Pháp

Noam Chomsky (sinh năm 1928 tại Philadelphia) là một trong những tư tưởng gia có nhiều ảnh hưởng nhất trong thời đại chúng ta. Ông cũng là một trong số rất ít các khoa học gia mà công trình nghiên cứu được quần chúng lưu ý. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ngữ học tại Đại Học Pennsylvania, ông bắt đầu dạy học tại Viện Kỹ Thuật Massachusetts (MIT). Ông được thăng giáo sư thực thụ năm 1961, và năm 1976 được nhận tước vị “Institute Professor” tức là được gia nhập một hàng ngũ chọn lọc các đồng nghiệp mà đa số đã lãnh giải Nobel về các bộ môn khác nhau. Rất nhiều chuyên viên ngữ học thời danh khắp năm châu từng là học trò cũ của ông hoặc từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của ông nên vẫn một lòng tiếp tục ngưỡng mộ và quảng bá những lý thuyết cũ cũng như mới của Chomsky.
(more…)

Trần Thụ Ân

Từ mấy tháng nay vài con mèo không biết từ đâu tới, tự nhiên chiếm cứ những gầm xe ngoài bãi đậu xe trong dãy chung cư gồm 10 căn, nơi tôi đang ở. Thấy tội nghiệp mấy chị Việt Nam thay phiên nhau cho ăn, kết cục mấy tháng sau tự nhiên thấy lòi ra thêm mấy trự nữa dáng vóc nhỏ hơn nhiều, chắc là con của tụi nó. Với màu lông giống hẳn nhau, vài đóm vàng cam rãi rát trên đám lông trắng ngần là một thứ DNA rõ ràng nhất . Chính màu lông này tạo nên vẻ sang trọng cho gia đình mèo này, một loại áo choàng lông mặc cả bốn mùa. Có lẽ đây cũng là điểm son để thu hút mấy chị.
(more…)

Trần Kiêm Đoàn
Thân kính gởi anh Trần Duy Phô cùng các đạo hữu và thân hữu.


Từ trái: Trần Duy Phô và Trần Kiêm Đoàn (10-2017)

Tôi vừa hoan hỷ, vừa xúc động khi nhận được thư thông báo về đại nguyện xuất gia của anh Trần Duy Phô.

Hoan hỷ là vì sinh ra kiếp làm người đã khó; lại được nhìn thấy ánh sáng Phật pháp lại càng khó hơn. Một bước cuối đời là được xuất gia Phật đạo để tìm con đường giải thoát là một hồng ân mà trong cuộc sống của một xã hội vừa thực dụng vừa năng động như Hoa Kỳ thì mộng ước xuất gia đi tu, trong anh em chúng ta, mấy người có được.

Tuy nhiên, bên cạnh đó tôi vẫn cảm thấy một nguồn xúc động miên man rất khó bàn, khó nói. Từ trong sâu thẳm của lòng mình, chắc chắn tôi cũng như hầu hết các đạo hữu và các bạn, là hết lòng tán thán và khuyến khích chí hướng cao đẹp của một người có tâm tu như anh Phô. Vậy mà khi đối mặt với thực tế đời thường, như nhìn khung cảnh gia đình đầm ấm của anh Phô, chúng tôi lại thấy cảm xúc của mình chùng lại. Chị Phô cũng đang bước lên hàng cao niên và hai cháu con anh Phô đang còn là sinh viên đại học, liệu nỗ lực chạy đuổi với vô thường bằng chí nguyện xuất gia của anh Phô có tạo ra một “ngả rẽ” nào nghiêm trọng cho gia đình không và câu hỏi lan ra xa dần với bao nhiêu sự “cộng hưởng ước định” về mặt từ thiện, đạo tràng, cộng đồng, xã hội mà anh Phô đang là một thành viên năng nỗ.
(more…)

Võ Kỳ Điền

Tôi có ông bạn già thân tình. Mỗi lần gặp nhau là vui lắm vì có nhiều chuyện để nói. Bạn có một quá khứ đầy ắp, nói hoài cũng không hết. May là bạn không bị đi học tập, nếu mà vào trại cải tạo thì lý lịch của bạn khai báo, phải dầy như cuốn tự điển. Mà chuyện mới thì không nói gì, có nhiều chuyện cũ xì, được bạn kể đi kể lại, không biết bao nhiêu lần, mà mỗi lần kể, như là câu chuyện chưa bao giờ được nói ra. Thiệt là ngộ. Mỗi lần nghe bạn kể tôi thấy như là câu chuyện mới tinh khôi, sôi nổi, hào hứng. Nghe hoài, không chán. Rõ ràng là ông lẩm cẩm nầy kể chuyện cho ông lẩm cẩm kia nghe. Hổng vui sao được.
(more…)

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Năm 1918, ra Hà Nội viết cho Nam Phong tạp chí, nửa chừng, Phan Khôi xin thôi việc, về nhà. Năm 1919 anh vào Sài Gòn, trước viết cho tờ Quốc dân diễn đàn của ông Chủ nhiệm Nguyễn Phú Khai, về sau viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, chưa được bao lâu thì bị giải chức. Thấy con tay trắng trở về, cụ Phan Trân cha anh rất phiền lòng. Cụ đã khuyên anh không biết bao nhiều lần, rằng anh là con độc đinh, như hũ mắm treo đầu giàn, lại đã có vợ có con, ở nhà lo chí thú làm ăn, thờ phượng ông bà tổ tiên, mới là phải đạo. Đời người như bóng câu qua cửa sổ, loáng một cái là hết, nào có lâu la gì. Thấy cha phiền trách, Phan Khôi nghĩ về bản thân mà ân hận: té ra anh chẳng những là thằng người không biết chiều theo đời, mà còn là đứa con không biết chiều bụng cha!
(more…)

Mỹ Trí Tử

Thỉnh thoảng nhớ lại những kỷ niệm lúc về thăm Việt Nam, chợt biết là “có những điều nếu không hiểu ngọn ngành thì khó mà chấp nhận được.” Một buổi sáng sớm, tôi đi về phía công viên Lê Nin, ngồi ngắm những đứa bé được ba mẹ dắt đi chơi. Ngày chủ nhật được nghỉ nên bọn trẻ tập trung ở đây rất đông. Đúng như tên gọi, giữa công viên có một bức tượng Lê Nin đứng hiên ngang và vững vàng, tuy rằng vào năm ấy không còn tượng Lenin nào ở những nơi công cộng trên khắp nước Nga nữa. Có một nhóm trẻ ra dáng như đang múa, miệng nghêu ngao hát “Bác Lê Nin ở nước Nga, tại sao lại đứng vườn hoa nước mình?” Rồi chợt một đứa trẻ ngồi gần đó lập lại câu hát và hỏi mẹ tại sao. Người mẹ hơi bối rối chút ít rồi nhìn xung quanh như thể dò xem có ai nghe thấy con mình vừa hỏi không, rồi vội kéo con đi xa khỏi tượng Lê Nin và trả lời với cô bé rằng: “Do vườn hoa nước mình có nhiều loại hoa đẹp nên bác Lê Nin thích con ạ.” Vô tình nghe mà phải cố lắm mới tôi nhịn được cười.
(more…)

Song Thao


Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh

Huỳnh Công Ánh là một nhạc sĩ. Anh sống với nhạc. Nhạc tranh đấu. Tháng 3 năm 1985, anh cùng các nhạc sĩ Việt Dzũng, Châu Đình An, Phan Ni Tấn, Hà Thúc Sinh và Nguyệt Ánh thành lập phong trào Hưng Ca. Trước đó, khi đi tù cải tạo anh cũng vác nhạc theo. Trong tù, khi các “đồng chí tù” bị ngồi hát, cán bộ cần một người điều khiển hát đồng ca. Anh cán bộ, người miền Bắc, hỏi: “Ai biết cầm càng?”. Cả nhóm tù ngơ ngác không hiểu cầm càng là chi. Sau đó họ mới “học hỏi” được một từ mới. “Cầm càng” là bắt nhịp cho mọi người hát đồng ca. Cán bộ hỏi tiếp: “Anh nào biết hát nhạc cách mạng?”. Hỏi “ngụy” hát nhạc “cách mạng” coi như bù trất. Huỳnh Công Ánh kể lại: “Thấy mọi người ngồi yên, tôi mới hỏi lại: “Nếu cán bộ có bản nhạc có nốt thì tôi hát được”. “Nốt là cái gì thế?”. “Nốt là cung bậc thấp cao, viết theo ký âm pháp”. Anh cán bộ coi chừng chưa hiểu, đứng nghệch mặt ra, nhưng cũng ráng hỏi: “Anh chắc làm được chứ?”. “Thưa chắc”. Sáng hôm sau, anh cán bộ đưa xuống đội một tập nhạc dày cộm: “Anh gì đấy? Cái anh hôm qua, đây này, anh xem và hát thử xem nào!”. Hôm đó cả đội đang tập trung phê bình kiểm điểm công tác lao động. Tôi cầm tập nhạc, mở ra một trang, đó là bài hát có tựa đề là “Gái Sông La”. Tôi xướng âm từng nốt nhạc và lẩm nhẩm hát lời, đến giờ nghỉ, tôi nói: “Tôi có thể hát được rồi, cán bộ!”. “Đâu, anh hát đi”. Khi tôi hát, anh em trong đội ai cũng lắng nghe. Xong bài, mọi người ai nấy đều vỗ tay, riêng anh cán bộ, ngạc nhiên, đứng ngẩn ra: “Thế năm nay anh bao nhiêu tuổi?”. “Tôi 29”. “Vậy anh nghe đài Hà Nội bao giờ mà anh biết hát?”. “Tôi cả đời chưa nghe đài Hà Nội bao giờ. Tôi hát là hát theo từng nốt nhạc trong sách”. “Thế nà thế lào?”. “Đây là ký âm pháp quốc tế, ai có học qua nhạc lý và học xướng âm đều hát được”. Anh cán bộ vẫn đớ ra chưa hiểu ký âm pháp là gì!”.
(more…)

Trịnh Bình An

Mới rồi, anh Song Thao email qua, gởi tặng tôi mấy cuốn Phiếm của anh ở dạng eBook. Một nhà văn thành danh từ Sài Gòn trước 75, ra hải ngoại, sức viết của anh không hề giảm sút, tới nay Song Thao đã có trên 10 tập truyện và 18 tập Phiếm (đang sửa soạn tập 19). Nay, anh chuyển việc phát hành sách qua Amazon với hai loại: sách giấy và eBook.

Vì tựa bài phiếm nào của Song Thao cũng chỉ độc một chữ như Tình, Tiền, Tù, Tội,… nên tôi hỏi đùa, Chắc anh sẽ có bài “eBook” chứ. Song Thao cười bảo: “An viết đi cho tôi đọc ké.”

Tôi là đứa có tính hay tò mò, cái gì cũng thích tìm hiểu, nhưng thường biết rồi để đó hay có làm cũng nửa chừng rồi thôi. Về eBook tôi có biết một chút, biết luôn cách dùng Sigil và Calibre để làm thành một cuốn eBook, nhưng chưa đi xa đến mức đưa được sách bày bán trên các cửa hàng lớn Amazon như Song Thao.
(more…)

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Chương Dân Phan Khôi với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu là những người cùng thời, cùng từ cửa Khổng sân Trình bước ra, cùng phá cái nghiệp chữ Hán để theo nghề viết văn Quốc ngữ và cùng nổi tiếng lúc sinh thời với một người là nhà báo, một người là thi sĩ. Hai ông là bạn thiết, nhưng lại có số phận rất khác nhau.

Tản Đà quê Sơn Tây, sinh năm 1888, mất năm 1939 lúc mới năm mươi hai tuổi, dưới thời người Pháp còn cai trị. Sự nổi tiếng của ông lúc sinh thời, vì thế, cứ còn đó và treo trên đầu văn giới, người đời sau mỗi lần nhắc đến ông đều phải ngước lên chiêm ngắm.

Phan Khôi quê xứ Quảng, sinh năm 1887, hơn Tản Đà một tuổi, sống đến tận thời Dân chủ Cộng hòa sau khi người Pháp đã bị đuổi đi, rồi mới qua đời năm 1959, thọ bảy mươi ba tuổi. Đó cũng là lúc ông từ một nhân sĩ yêu nước bỗng chốc trở thành kẻ tội đồ, theo đó, sự nổi tiếng lúc sinh thời của ông bị vùi xuống bùn đen, nhiều chục năm sau người đời cố tình quên ông đi. Nhưng rồi đến lúc người đời lại phải nhắc đến ông, đưa ông trở lại cuộc sống bằng cách tái công bố hơn 2500 bài báo của ông trong quá khứ, chứa đầy 8000 trang sách. Sự nổi tiếng lúc sinh thời của ông, vì thế, xem ra còn được ngưỡng vọng hơn trước, mặc dù ông đã về chầu Trời hàng nửa thế kỷ nay.

Có cái số mệnh khác nhau đó là bởi giữa họ đã tồn tại hai cái tính cách khác nhau.
(more…)

Trần Mộng Lâm

Mùa thu là mùa của lá cây lìa cành, những cuộc tình tan vỡ, mùa của thi sỹ, nhạc sỹ với các sáng tác để đời… Nhưng mùa thu cũng là mùa của những kỷ niệm êm đềm trong cuộc đời của mỗi người trong chúng ta, nhất là khi đã về già.

Bài viết này xin mở đầu bằng những vần thơ của thi sỹ Tản Đà, mà chắc nhiều người đã thuộc lòng, từ những năm, những tháng trong dĩ vãng xa vời:

Gió Thu.

Trận gió thu phong rụng lá vàng.
Lá rơi hàng xóm lá bay sang.
Vàng bay mấy lá năm già nửa.
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.

Trận gió thu phong rụng lá hồng.
Lá bay tường bắc, lá sang đông.
Hồng bay mấy lá năm hồ hết.
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không.

(more…)

Huyền Chiêu
Để tưởng nhớ nhạc sĩ Hoàng Giác, mất ngày 14 tháng 9 năm 2017


Nhạc sĩ Hoàng Giác (1924-2017)

Năm 1954 Hoàng Giác không vào Nam nhưng ca khúc Quê Hương của ông đã di cư theo bước chân người viễn xứ, trở thành giọt nước mắt thương nhớ chốn quê nhà không bao giờ còn được trở lại.

Ai qua miền quê binh khói
Nhắn giúp rằng nơi xa xôi
Tôi vẫn mơ tùm tre xanh ngắt
Tim sắt se, cảnh xưa hoang tàn

(Quê Hương)

Khác với Đoàn Chuẩn, không nỡ rời bỏ Hà Thành có mùa “thu quyến rũ” , có “em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung”, Hoàng Giác luôn quay quắt với tình quê hương đầm thắm:

Bao nhiêu ngày vui thơ ấu
Bao nhiêu lều tranh yêu dấu
Theo khói binh lều tan, tre nát
Theo khói binh, lòng quê héo tàn

(Quê Hương)
(more…)

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Gần sáu mươi năm nay, lớp độc giả có tuổi vẫn chưa quên chuyện hồi cuối những năm năm mươi thế kỷ trước, một số nhà nghiên cứu – hòa vào bản trường ca chống Nhân văn – Giai phẩm – đã phê phán dịch giả Phan Khôi, đại ý: ở giữa thời Dân chủ Cộng hòa, mà khi gặp một chữ Pháp có nghĩa là khoai tây, ông lại không dịch là khoai tây, mà dịch ra một cái tên nghe rất trái tai và khó chấp nhận, là khoai nhạc ngựa. Và vì ngay sau đó ông trở thành nhân vật phản diện chủ chốt trong câu chuyện Nhân văn – Giai phẩm, nên nhiều người còn ra ý phê phán nặng hơn, cho rằng: thái độ chính trị của ông đối với chính thể đương thời là thiếu nghiêm túc!

Về các khiếm khuyết trong dịch thuật có liên quan đến một dịch giả uy tín như Phan Khôi, về sau này độc giả chỉ được đọc như thế và chỉ biết như thế, không ai cất công tìm hiểu để biết tại làm sao sự thể lại ra nông nỗi ấy? Vậy là mặc nhiên chuyện đó trở thành một cái án ông phải đeo, mà rủi thay, ông thì đã trở thành người thiên cổ ngay sau đó ít lâu, nên cái án đó ông vẫn phải đeo cho tới tận bây giờ!
(more…)

Đàm Trung Pháp


Victor Hugo (1802-1885)

Tuyển tập “Les Contemplations” (Chiêu Niệm) của Victor Hugo (1802-1885) chứa đựng 158 bài thơ ghi lại các kỷ niệm của ông về những chuyện vui buồn trong đời sống thường nhật, gồm cả nỗi đớn đau khôn lường do cái chết mang lại. Tất cả được thi hào sáng tác trong khoảng thời gian từ 1830 đến 1855 và cho xuất bản năm 1856. Trong số những bài ghi lại nỗi đớn đau vì tử biệt trong “Les Contemplations,” vô số độc giả trong cũng như ngoài nước Pháp đã coi bài “Demain, dès l’aube” (Ngày mai, ngay lúc rạng đông) như một tuyệt tác mà có người đã học thuộc lòng ngay sau lần đọc đầu tiên. Victor Hugo viết bài ấy trong dịp tưởng niệm hàng năm lần thứ tư sự qua đời quá sớm của cô con gái đầu lòng Léopoldine. Tuyệt tác chỉ gồm 12 dòng thơ chia làm 3 đoạn (strophes) giản dị trong sáng nhưng đậm nét sầu thương dùng để dựng lên trong tâm trí thi hào một chuyến sắp đi thăm mộ cô con gái thương yêu nhất của ông.
(more…)

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)
85 năm bài thơ Tình già (1932 – 2017)


Nhà thơ Phan Khôi (1887-1959)

Tám năm trước đây – vào năm 2009 – nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân phát hiện: bài báo Một lối “thơ mới” trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi – trong bài có đăng kèm bài thơ Tình già – lần đầu tiên được đăng trên Tập văn mùa xuân của báo Đông Tây số Tết Nhâm Thân 1932, ở Hà Nội. Cũng bài báo này và bài thơ này, nhưng bản đăng ở báo Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 trong Sài Gòn, muộn hơn khoảng một tháng, lại bị Sở kiểm duyệt yêu cầu đục bỏ mất trên một trăm từ, cụ thể là bỏ hết những đoạn nào, từ nào nhắc đến bài Dân quạ đình công của Phan Khôi gắn với phong trào xin xâu, kháng thuế ở Trung Kỳ đầu năm Mậu Thân 1908 – một phong trào tự phát, bất bạo động nổi lên tại Quảng Nam, rồi như sóng trào, nhanh chóng lan ra khắp mười hai tỉnh miền Trung, bị thực dân Pháp và Nam triều đàn áp dã man – theo đó, các chiến sĩ Duy tân, gồm cả tác giả bài thơ, bị bắt, bị tù đày.
(more…)

Phan Ni Tấn

Hương Hải là tên của một ngôi thiền tự do đại đức Thích Thông Trí trụ trì. Tuy còn trong thời kỳ phát triển nhưng Thiền tự Hương Hải có một lịch sử đáng kinh ngạc khiến cho nhiều người phải suy nghĩ và kính phục trước ý chí quyết tâm tu đạo của một bậc đại giác.

Được biết khi song thân của thầy Thích Thông Trí lần lượt qua đời, Thầy rời xa thế tục vào chùa quy y tam bảo. Sau một thời gian tu tập Thầy nảy ra ý định muốn vào rừng ẩn tu. Không biết có phải duyên nhà Phật đưa đẩy hay không, đã dẫn dắt Thầy lặn lội vào tận khu rừng hoang dã thuộc quận Tweed, gần Bellville, Ontario. Lúc nghỉ chân trước một căn chòi xiêu vẹo tình cờ Thầy gặp một người thợ săn đúng lúc giải nghệ muốn bán đất. Sau khi ngã giá và qua các thủ tục hành chánh,Thầy đã sở hữu được mảnh đất rộng 25 mẫu. Hồi đó đường vào đất Thầy không có đường xe, chỉ có một con đường mòn len lỏi giữa những cây rừng bạt ngàn. Miếng đất, miếng rừng mênh mông không một bóng người, cách một hai cây số mới có một căn nhà của dân, vậy mà một mình Thầy vẫn quyết tâm tu hành ở đây.
(more…)

Phan An Sa
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh Phan Khôi (6/10/1887 – 6/10/2017)


Phan Khôi (1887-1959)

Tôi dõi theo…

Một buổi chiều cuối năm 2003, đang làm việc tại cơ quan thì tôi nhận được điện thoại của Lại Nguyên Ân, anh hẹn sẽ sang gặp tôi. Đây là lần đầu tiên chúng tôi biết nhau, ngồi với nhau trao đổi các việc chung quanh tập sách Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1928 do anh sưu tầm và biên soạn, vừa ấn hành hồi tháng sáu. Tôi bất ngờ và không giấu nổi xúc động, vì từ ngày cha tôi qua đời, gần năm mươi năm qua, tôi chưa bao giờ dám nghĩ sẽ có ngày các tác phẩm đăng báo từ thời Pháp thuộc của ông lại được tái công bố. Tôi biết đâu là hơn mười năm nay Lại Nguyên Ân đã lặng lẽ làm việc đó và giờ đây tôi được cầm trên tay tập sách đầu tiên của bộ sách anh dự định làm cho đến khi nào hết mới thôi. Kết thúc buổi gặp, anh tặng tôi một bản sách còn thơm mùi mực in và đưa tận tay tôi một cái phong bì mỏng, nói là tiền nhuận bút nhà xuất bản gửi trả cho gia đình. Tôi nhận và nói lời cảm ơn, còn dặn thêm anh, rằng các tác phẩm của cha tôi đã đăng báo từ bảy mươi, tám mươi năm trước, theo luật thì chúng đã thành của chung, nên từ lần sau anh nói nhà xuất bản không phải trả nhuận bút nữa. Bữa đó về nhà tôi kể lại cho mẹ tôi nghe, chuyển tận tay bà cái phong bì đựng tiền nhuận bút của ông, bà đặt lên bàn thờ, thắp nén hương kính cáo với ông. Hôm sau, bà mở phong bì, đếm tiền, tôi nhớ đâu như là một triệu sáu, tôi dặn mẹ tôi giữ lấy khoản tiền ấy vì nó là của ông để lại cho bà.
(more…)

Trần Phù Thế


Nhà thơ Phạm Nhã Dự

Tôi gặp Phạm Nhã Dự thiếu một năm nữa là đúng năm mươi năm. Một nửa thế kỷ nói sao mà nghe quá dài, thật là dài.

Dạo đó, tôi phục vụ vùng Gia Định. Hậu cứ đóng quân nằm ở đường Ngô Tùng Châu, Bà Chiểu. Cuối tuần tôi thỉnh thoảng ra Sàigòn chơi, thường uống cà phê, ăn sáng tại nhà hàng Kim Sơn, nằm góc đường Lê Lợi và Nguyễn Trung Trực. Cũng góc đường nầy có Kiosk bán sách báo và tạp chí của cô Nga, người đẹp dáng vóc nhỏ nhắn rất hiếu khách. Quán nầy là nơi tụ tập của anh em văn nghệ trẻ ở nhiều nơi. Nào Tô Đình Sự, Ngô Nguyên Nghiễm, Yên Bằng, Trăng Thệ Hải, Phan Chấn Thanh, Lâm Chương, Lưu Nhữ Thụy, Phạm Nhã Dự, Nguyễn Lệ Tuân, Thuy Miên, Nguyễn Lê La Sơn, Lưu Vân, Nguyễn Thành Xuân, Hà Thúc Sinh, Trần Văn Sơn, Trần Hoài Thư, Nguyễn Tôn Nhan, Trần Phù Thế… Ở đây tôi quen với Phạm Nhã Dự. Từ khi biết nhau, tôi và Dự hể rãnh là cùng các bạn kể trên bày cuộc rượu. Thời đó chiến tranh, chết sống gần kề nên gặp nhau không nhậu mới là chuyện lạ.
(more…)

Trịnh Bình An

Ếch và Báo là tên của hai rapper có tên Young H và B Ray. Cả hai đều chưa tới 30 và đang sống tại Việt Nam.

Những ngày cuối năm 2015, người ta nghe được bài nhạc Rap vang lên từ soundcloud.com – Bài “Ông Can“. Ngay lập tức Ếch và Báo nổi tiếng!

Họ nói ông CAn đang thi hành công vụ… chứ không phải là gây án mạng.
Theo ông CAn thì đời mày sáng lạng… còn mày không theo thì đời mày gián đoạn.
Ông CAn nói mà mày không nghe… thì chân không què mày cũng phải gánh nạn.
Nên dân ở đây tất cả thật sự là họ yêu ông CAn như là yêu… tánh mạng.

(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Cách đây mấy hôm, khi bài “Việt Vị” của tôi được đi trên trang Sáng Tạo, một số người đọc đã đồng cảm và chia sẻ. Một chị, có thể vì không am tường môn football (bóng đá) đã thắc mắc: Có ý gì khi dùng chữ “mơ hồ” ấy làm tựa đề? Thưa chị, Việt vị là một lỗi lầm trong luật chơi của môn đá banh, tiếng Anh gọi là Offside, tiếng Pháp thì kêu là Hors-jeu. Tiền đạo xuống sâu hơn vị trí của hậu vệ đối phương trước khi banh được chuyền giao thì trọng tài biên sẽ phất cờ báo: Lỗi việt vị. Thời bé, bọn nhóc chúng tôi thì dùng chữ: Đồ ham ăn cơm cháy. Lớn chút nữa (có thể do thời cuộc tác động) đã gọi mấy tên ưa “lấn đất” ham ghi bàn đó là dân nằm vùng. Nếu chị thấy chưa đạt thì xin hiểu sang một nghĩa khác. Việt vị là phong vị của người Việt.

Ngỡ đã chấm hết, tưởng đã “point final” ai dè lòng này vẫn còn tham, sân, si. Đôi khi trên sân cỏ đã có những tình huống làm thủng lưới đối phương dù mắc phải lỗi việt vị. (Bôi trơn trọng tài biên? Hậu vệ hoặc thủ môn lỡ bán độ?) Phim “The Vietnam war” dài 10 tập thì đoản văn có nhảy sang hồi 2 ắt cũng xin được lượng thứ cho.
(more…)

Võ Kỳ Điền

Tiết Phụ Ngâm

Chuyện chữ nho, nói ra không hết. Cũng không biết tại sao tôi lai đâm ra mê thơ Đường một cách điên cuồng. Nhớ lúc mới bắt đầu học ban Việt Hán ở Đại học Sư Phạm tôi có một anh bạn thân cũng có chung một niềm say mê y như vậy. Nhà anh ở một ngõ hẻm đường Trần Hưng Đạo, gần Đại Thế Giới miệt Chợ Lớn, vô sâu chừng vài trăm mét. Vào một buổi trưa tôi đi kiếm nhà bạn để mượn bài vở. Lần lần kiếm từng số nhà. Quanh qua quẹo lại, đường xá ở đây như là một nùi chỉ rối. May quá, qua một khúc quanh tôi tìm ra dãy phố nhỏ nầy với số nhà chính xác. Nhìn kỹ thì thấy cái ổ khóa to chần dần trước cửa. Thấy mà tức ứa gan. Làm sao bây giờ, bạn không có nhà, mà cũng không biết phải làm sao. Tôi bèn lượm một cục gạch bể định ghi vài dòng nhắn tin lại. Đương loay hoay thì cạnh bên có một cô người Tàu xinh xinh, khá đẹp mở cửa nhà đi ra. Tôi dọ hỏi thì cô không biết tiếng Việt. Thôi đành. Cầm cục gạch, tôi viết lên cửa cái bốn chữ Hán: Hận Bất Tương Phùng. Cô Tàu nhìn sững tôi và vừa bỏ đi vừa ngoái nhìn lại. Tôi vẫn nhớ hoài ánh mắt ngạc nhiên đó, cho đến bây giờ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm


Nguyễn Trãi (1380-1442)

Ai cũng biết bài thơ gọi là ‘Ghẹo Thị Lộ’ tương truyền là của Nguyễn Trãi:

Ả ở đâu bán chiếu gon,
Hỏi xem chiếu ấy hết hay còn?
Xuân thu nay được bao nhiêu tuổi
Đã có chồng chưa được mấy con?

Và bài thơ trả lời tương truyền là của thiếu nữ Thị Lộ:

Em ở Hồ Tây bán chiếu gon,
Việc chi ông hỏi hết hay còn,
Xuân thu nay được trăng tròn lẻ,
Chồng còn chưa có, có chi con!
(more…)

Trần Văn Nam


Nhà thơ Hà Nguyên Du

Nhà thơ Hà Nguyên Du đã xuất bản vài tập sách ở hải-ngoại, trong đó có hai tập với nhan-đề: Một nghe thật tối-tân; một nghe thật cũ mà lại còn như mang tính địa-phương. Đó là “Gene Đại Dương” và “Những Bài Hát Tân Cổ Giao Duyên”. Không rõ anh có giỏi về “Đàn Ca Tài-Tử” thuộc nghệ-thuật trình diễn Nam Bộ hay không; nhưng người viết bài này từng biết anh rất có kinh-nghiệm về thao-tác trên máy điện-tử. Anh là người Phụ-tá điều-hành tờ báo, trình bày bài vở cho Tạp chí “Chủ-Đề” của ông Nguyễn Trung Hối: tờ Tạp Chí xuất bản được 15 số báo (không phải chỉ có bốn hay năm số báo như tôi nhớ lầm), đã đóng góp nhiêù bài nghiên-cứu văn học và mỹ-học thuộc chủ nghĩa hiện-đại. Rồi đến lúc ta cần phải tìm tòi lại những số báo có công phổ-biến học-thuật để đừng quên sự đóng góp của tờ Tạp chí “Chủ Đề” trong quá trình hình thành Văn học Hải ngoại.
(more…)

Đàm Trung Pháp

Theo thiển ý, người nước ngoài học tiếng Việt chỉ than phiền “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” khi họ “đối đầu” với những đặc trưng ngữ pháp của tiếng Việt quá khác biệt với tiếng mẹ đẻ của họ khiến họ cảm thấy như đang bị vùi dập tả tơi trong cơn bão táp. Ngược lại, họ “chẳng có vấn đề gì” với những đặc trưng ngữ pháp tiếng Việt giản dị hơn hoặc tương tự như ngữ pháp mẹ đẻ của họ. Do đó, câu trả lời “huề vốn” của tôi cho lời than phiền nêu trên của người nước ngoài về ngữ pháp Việt Nam là nó “vừa đúng vừa sai.” Trong bài viết này, tôi sẽ làm sáng tỏ câu trả lời của tôi qua lăng kính “Ngữ Pháp Hoàn Vũ” (Universal Grammar), và giả dụ tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của những người nước ngoài đang học tiếng Việt. Vì vậy đại đa số các thí dụ sẽ bằng tiếng Việt và tiếng Anh bên cạnh nhau để làm sáng tỏ những điều tôi giải thích.
(more…)

Huyền Chiêu

Tôi thích nhìn ngắm các pho tượng. Chúng dạy tôi vẻ đẹp của sự im lặng. Thuở bé, tôi không có con búp bê nào. Nhà chỉ có một pho tượng ông lão đi câu bằng gỗ. Pho tượng đã gãy một chân, nón sứt. bị bỏ nằm lăn lóc trong xó nhà. Tôi thường ôm pho tượng trên tay, nhìn ngắm đôi mắt không chớp của ông lão, lòng thương cảm như khi nhìn thấy một người ăn mày què cụt. Lớn hơn tôi vẫn thường nhìn ngắm tượng đức Mẹ, tường Phật bà với đôi bàn tay chắp lại, dịu dàng, độ lượng.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Thập niên 80, do thời thế, do có điều kiện tự do, ở hải ngoại đã hình thành ra được một đội ngũ đông đảo người cầm bút. Lắm nhà phê bình lạc quan xem đó là một tựu thành đầy khởi sắc, đầy hưng phấn khởi đầu cho nền văn học của cộng đồng người Việt lưu vong. Sau đó chẳng mấy lâu, trên các trang tạp chí thuần về văn học nghệ thuật có đăng tải một số ý kiến, rằng “e có lúc quý vị chớ nên đào sâu vào đề tài trại tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển hoặc đời sống ở trên những đảo, những trại tỵ nạn”.

Hằng tháng tôi có gửi bài đến hầu hết các tạp chí và dĩ nhiên tôi hơi bị choáng váng. Do đâu người ta có lối suy luận trái khuấy và sai lạc đến vậy? Tù cải tạo. Thuyền Nhân là một vết thương mãi còn đó sự nhức buốt. Là một ám ảnh khó dứt bỏ riêng cho người Việt từng sống sót qua cơn hồng thuỷ. Nó chẳng khác gì khi nhìn về ngày 30 tháng Tư, con số ấy tự động kéo trí nhớ bạn trở lui những tháng ngày tăm tối, rồi bạn tự hỏi: Do đâu mà có hơn 1 triệu người Việt bỏ nước ra đi, có nửa triệu linh hồn bất hạnh không siêu thoát mãi chịu lạc lối dật dờ trên biển Đông. Tôi nghĩ thầm, có thể lỗi lầm nằm ở phía người viết, trong đó có tôi, đã không đủ tài sức để chuyển tải được thảm trạng kia bằng giấy trắng mực đen, cứ thường thường bậc trung, chả ấn tượng khiến người đọc “ớn tới tận cổ”? Tìm cái gì vui vui coi, chuyện sang đây mần ăn thành đạt ra sao. Con mẹ ấy ra toà vì tội uýnh con riêng của chồng. Khai trương phòng mạch tặng thân chủ trong ngày bao gạo, sang ngày sau thì chai nước mắm. Ừ, nhiều chuyện xoay quanh vấn đề hội nhập “ngộ” lắm kìa, đọc chuyện buồn mấy ổng kể xuống tinh thần lắm!
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Việt Nam không có đa nguyên đang đảng nên giới trung lưu ái quốc và tiến bộ hiện nay chỉ có thể nghĩ đến chuyện thay đổi kinh tế hay vật chất mà thôi. Bị bao bọc bằng các luật lệ về chính trị nguy hiểm nên họ chỉ có thể mơ đến chuyện làm giàu và làm sao để không va chạm với thể chế. Và đó là cái dở, là ngõ cụt của giới trung lưu tiến bộ và ái quốc. (Nguyễn Xuân Nghĩa )

Cuối tháng rồi, tôi đọc một bài viết ngắn của facebooker Nguyễn Trung Bảo mà cứ ngỡ như là vừa nhận được một tin vui:

“Cuối cùng thì chính trị cũng tìm đến với gia đình cậu trai kéo Violin ở bờ hồ Hoàn Kiếm, dù như mẹ cậu này viết trên facebook rằng lâu nay muốn ‘tránh xa’ các chuyện liên quan đến chính trị. Những tranh luận về quyền của một công dân là gì khi đến nỗi việc chơi đàn ở nơi công cộng cũng bị cấm cản lại gặp sự phản biện rằng muốn chơi đàn thu tiền thì cần xin phép. Dù rằng, việc chơi đàn để nhận tiền từ người qua đường chẳng có gì lạ ở những nước khác nhưng với các cán bộ ở bờ hồ thì việc này vẫn cần phải có chỉ đạo.
(more…)

Võ Kỳ Điền

Trích đối thoại nhà văn Phan Thị Trọng Tuyến và Võ Kỳ Điền:


Phan Thị Trọng Tuyến:

– A, tại em viết truyện, tưởng tượng đủ thứ, hehe, một chị bạn khen em nói dóc như thiệt!

Võ Kỳ Điền:

– Anh ở Laval thuộc Québec, Phan Thị Trọng Tuyến ơi! Xa thiệt là xa với Paris của em gần 7,8 giờ bay lận. Anh cũng bị độc giả hỏi tới hỏi lui như vậy hoài hà. Nhà văn mà viết thiệt thì đâu phải là nhà văn. Mà nhà văn viết láo ai mà đọc. Muốn biết cách viết của nhà văn như thế nào thì rán mà tìm giữa hai hàng chữ… coi cách họ viết ra sao. Đó là bút pháp của mỗi người (style) Phải không nè? À, đúng rồi, nói dóc mà thiên hạ cứ tưởng mình nói thiệt, mới đúng là tay cao thủ. Trong văn chương anh em mình thường gọi là hư cấu… là chuyện không có thiệt. Tiểu thuyết là gì? Tiểu là nhỏ, là vụn vặt, còn thuyết là câu chuyện. Câu chuyện vụn vặt là gì… là nói tầm bậy tầm bạ, chớ còn gì nữa! Hồi xưa các nhà nho học để thi cử, không được đọc tiểu thuyết vì là ngoại thư. Chỉ đọc chơi thôi, khi trà dư tữu hậu. Rõ như ban ngày. Còn bây giờ chúng ta muốn đọc sự thật thì nên đọc báo, các ký giả họ viết chính xác từng giờ giấc, các chi tiết và số lượng, các biến cố xảy ra trong ngày… Những vị đó là nhà báo, không phải là nhà văn.
(more…)

Viết từ Sài Gòn

Chúng ta, nói chính xác hơn là người dân Việt Nam đã hoàn toàn đánh mất khả năng cảnh giác cũng như đề kháng trước cái ác, cái xấu. Bởi cái ác, cái xấu đã được chính thống hóa suốt nhiều chục năm nay và nó luôn luôn được ưu tiên trong hành xử của nhà nước, đảng Cộng sản đối với người dân bằng những lộ trình tâm lý.

Những lộ trình tâm lý làm tê liệt mọi khả năng phản kháng, càng lúc càng tinh vi. Câu chuyện Đoàn Ngọc Hải xuống đường dành vỉa hè với nhân dân nhân danh nhân dân và cả nước dành vỉa hè với nhân dân trên danh nghĩa “dành cho nhân dân”, sau đó là có những đội bắt chó, gọi là trật tự trị an chó do nhà nước tổ chức. Thực ra, đây là một công đoạn trong lộ trình tâm lý, mà đích đến của nó là vàng trong dân.
(more…)

Huy Phương


Nhà thơ Hữu Thỉnh

Những người đọc sách miền Nam và ở hải ngoại ai cũng biết đến nhà văn Phan Nhật Nam nhưng hôm nay những người ở đây, ít ai biết đến cái tên Hữu Thỉnh.

Hữu Thỉnh là bút hiệu của Nguyễn Hữu Thỉnh, y là một nhân vật như thế nào mà lãnh đạo Hội Nhà Văn CSVN suốt 15 năm nay?

Hữu Thỉnh sinh năm 1942 tại Vĩnh Phúc, 10 tuổi phải đi phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn lính Pháp. Mười hai tuổi mới được đi học. Nhập ngũ, làm lính Trung Đoàn 202, tham gia các công việc như chăn bò, học lái xe tăng. Sau năm 1975, Hữu Thỉnh học Sơ Cấp Thú Y, rồi làm trưởng Ban Chăn Nuôi, phó biên tập của Tạp Chí Thú Y. Đảng đặt để một ông Thừa Cung thời nay, lên làm hội trưởng Nhà Văn Việt Nam, thật là đúng quy cách, đường lối của đảng Cộng Sản đối với văn nghệ sĩ trong chế độ.
(more…)

Trần Văn Nam


Nhà văn Lữ Quỳnh

Đọc những bài thơ và truyện của nhà văn Lữ Quỳnh, độc giả chắc đều chung mang cảm nhận được nghệ thuật thiên về tác dụng gây xúc cảm nghệ thuật trong thơ (những tiếng vang vọng và hình ảnh nghiêng về hội-họa); và nội-dung nếu là truyện về chiến tranh thì đều có tính phản-chiến không mang màu sắc chính trị. Những điều này thật rõ ràng, và cũng chính vì vậy mà khi bàn về thơ truyện của Lữ Quỳnh, người viết bài này ngại có sự trùng lẫn với những bài viết của vài tác giả khác. Bắt gặp những câu thơ nào đắc ý nhất có thể tùy theo từng người, và cũng có thể đều cùng bắt gặp bởi cảm-thức đồng hành, do vậy lời bàn chắc phải bàn bằng những lời lẽ giống nhau, hay gần giống nhau. Văn hóa vốn thuộc truyền thống và cộng đồng, sự tương tự là lẽ tất nhiên.
(more…)

Hoàng Xuân Sơn


Quán Văn lúc mới thành lập năm 1967.
Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang, Trần Đại Lộc và Hoàng Xuân Sơn
Hình chụp bởi Đỗ Tăng Bí. Tất cả đều là thành viên Quán Văn

Quán Văn trong nỗi tình cờ

Không phải cuộc sống lúc nào cũng suông sẻ. Những ngày thơ mộng rong chơi êm ả rồi cũng dần qua. Tất cả bọn tôi đều ở vào lứa tuổi động viên. Phương chi còn phải chúi đầu vào việc học cố kiếm lấy mảnh bằng để kéo dài cuộc sống dân sự. Chiến tranh rồi cũng lan dần về thành phố. Ngồi quán hôm nay trong nỗi thấp thỏm âu lo. Đại bác đêm đêm dội về thành phố – Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe … Cộng thêm những hình ảnh kinh hoàng của sự chết chóc phân ly dần ngự trị trong tâm khảm khiến những chàng thanh niên trong độ tuổi yêu đời phải mang bộ mặt thảm sầu như đá đeo. Những đoàn dân quê rời bỏ ruộng đồng về lánh cư nơi thành thị. Những người lính trận áo còn bạc phếch màu chiến trường hối hả vui chơi hàng quán vài ba ngày phép ngắn ngủi. Thời chiến đọc mới thấy thấm những vần thơ bi tráng của Nguyễn Bắc Sơn Mai ta đụng trận ta còn sống – Về ghé sông Mao phá phách chơi – Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm – Đốt tiền mua vội một ngày vui …
(more…)