Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Trần Bình Nam

bia_chuyen_ke_nam_2000

“Chuyện Kể Năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn gồm 2 tập, dày khoảng 1000 trang in cỡ chữ trung bình do Nhà xuất bản Thanh Niên ở Hà nội in và xuất bản. Sách in xong nộp lưu chiếu khoảng tháng 2/2000 chưa bán ra thị trường đã bị nhà nước ra lệnh tịch thu. Nội dung cuốn sách đã được chuyển qua Liên bang Nga. Sinh viên Việt scan lại và chuyển cho độc giả Việt khắp thế giới. Ít nhất có hai nhà xuất bản, nhà xuất bản Văn Nghệ và Tự Lực ở Nam California Hoa Kỳ đã cho in thành sách. Nhà xuất bản Tự Lực cho biết một phần tiền bán sách sẽ dành cho tác giả, và khuyến khích độc giả giúp đỡ tác giả và những người đang gặp khó khăn với chính quyền trong nước vì đã tạo điều kiện cho cuốn sách ra đời.

Từ năm 1986 khi tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cởi trói văn nghệ, nhiều sách do các nhà văn trong nước viết được gởi ra hải ngoại như các tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương… chưa có một cuốn nào gây dư luận sôi nổi như cuốn “Chuyện Kể Năm 2000”.
(more…)

Ngự Thuyết
Bài tham luận của tác giả trong Hội thảo Hai mươi năm Văn học miền Nam 1954-1975.

thanh_tam_tuyen-dinh_cuong
Thi sĩ Thanh tâm Tuyền
dinhcuong

Kính thưa quý vị, tôi rất hân hạnh trình bày đề tài “Thanh Tâm Tuyền, Nhà Thơ Tiên Phong”. Thanh Tâm Tuyền tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh, Nghệ An, viết văn, làm thơ, thỉnh thoảng viết về phê bình, và lý luận văn học khi còn rất trẻ. Tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc, xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn khi Thanh Tâm Tuyền mới 20 tuổi. Tám năm sau, năm 1964, Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy ra đời. Theo lệnh động viên, ông nhập ngũ năm 1962, giải ngũ năm 1966. Năm 1968 tình hình chiến sự căng thẳng, ông tái ngũ và phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi Miền Nam thất thủ năm 1975. Ông ở tù bảy năm dưới chế độ Cộng Sản. Năm 1990, theo diện HO, ông sang định cư tại Hoa Kỳ, cho in tập thơ cuối cùng, Thơ Ở Đâu Xa, và qua đời ngày 22/3/2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ.

Hôm nay tôi chỉ đề cập đến lãnh vực sở trường và độc đáo nhất của ông, đó là thơ.
(more…)

Nguyễn Văn Sâm

Giới thiệu tuồng hát bội nhiều hồi thế kỷ 18 chưa từng được công bố.

kep_hat_boi

Tôi định nghĩa tuồng nhiều hồi là tuồng hát bội có từ 5 hồi trở lên, tuồng Đường Chinh Tây nầy ít nhứt có 23 hồi nên tôi gọi nó là tuồng nhiều hồi. Hiện tại bản chánh viết tay bằng chữ Nôm lưu trữ tại thành phố Paris, Pháp quốc, cơ quan gọi là EFEO (École Francaise d’Extreme Orient) mà người Việt Nam thường gọi bằng cái tên quen thuộc: Trường Viễn Đông Bác Cổ.

Có nguồn tin bán chánh thức rằng cơ quan nầy trong tương lai gần có thể thu hẹp lại hay đóng cửa hẵn vì thiếu ngân sách nên từ nay tư nhân đến tham khảo hay sao chép sách xưa của Việt Nam lưu trữ tại đây vốn đã khó khăn sẽ khó khăn hơn nữa.

Tháng 08/2014 tôi may mắn được Tiến Sĩ Nguyễn-Tô Lan, một người làm nghiên cứu sau Đại Học ở Đại Học Yale, Boston sao chụp tặng các hồi 11- 23 bổn tuồng Đường Chinh Tây nầy (và 40 hồi cuối của tuồng nhiều hồi Tây Du Ký).
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

tran_hoai_thu-nguyen_trong_khoi
Nhà văn Trần Hoài Thư
qua nét vẽ Nguyễn Trọng Khôi

“Anh đang viết, cuống cuồng hối hả.
Anh sợ sẽ không còn được dịp để viết thêm nữa.”
(Trần Hoài Thư)

Trần Hoài Thư đến với văn chương rất sớm, sớm hơn truyện ngắn đầu tay Nước Mắt Tuổi Thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965. Và nếu phân chia các giai đoạn văn học miền Nam theo cách của Võ Phiến (xem Văn Học Miền Nam, tập tổng quan, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ 2000) thì Trần Hoài Thư được xếp vào (Những Cây Bút Trẻ, theo cách gọi thời đó) giai đoạn 1964 -1975 giai đoạn mà chiến cuộc bắt đầu bùng nổ dữ dội. “Tháng 8-64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc miền Bắc, trực tiếp nhảy vào vòng chiến… Đầu năm 1968, miền Bắc mở cuộc tấn công nhân dịp tết, hy sinh ngót nửa quân số, đánh khắp các tỉnh lỵ và thành phố lớn để gây tiếng vang đến tận Mỹ. Sau vụ tết Mậu Thân, lại một vụ Mùa Hè Đỏ Lửa, quân miền Bắc vượt giới tuyến tràn vào…” (Võ Phiến, sđd, trg 255-256).
(more…)

Phạm Quốc Bảo

nguyen_sa_va_thu_but

Một năm nay, phong trào đề cập đến nội dung của Văn Học Miền Nam VN (1954- 1975) nở rộ, phần lớn vì sức bật của tình trạng gần bốn thập niên thiếu hẳn đi thông tin về văn học Việt Nam trong giai đọan này. Cá nhân tôi luôn nghĩ rằng giai đọan văn học ấy vẫn y nguyên hiện hữu một cách đương nhiên, như là nó đã từng hiện diện trong lịch sử cận đại của dân tộc Việt. Bài viết này của tôi vốn là một đóng góp nhỏ trong số những bài viết khác cho chủ đề nêu trên. Nhân một cuộc hội thảo Hai Mươi Năm Văn Học Miền Nam (1954 – 1975) đuợc tổ chức trong hai ngày cuối tuần lễ đầu của tháng 12/ 2014 tại Little Sàigòn, Nam Cali.USA, tôi xin phổ biến bài viết này. Trân trọng. 01/ 12/ 2014. (PQB)

Tuần lễ trước đây, do nhắc nhở của một bạn hữu lâu năm, tôi tự nhiên nhớ đến một đỏan văn mà tôi đã viết về Bài Hát Cửu Long của tác giả Nguyên Sa [1]. Bài viết ấy khá sơ lược và nhất là đã vấp phải một lỗi: Chỉ vì ỷ y vào trí nhớ đến độ tôi viết đề tựa của bài thơ thành “Tiếng Hát Cửu Long”, thay vì chính phải là “Bài Hát Cửu Long”, đúng như đã được đăng trong Thơ Nguyên Sa, tập I. Và bài viết ấy cũng chỉ đủ chỗ để tôi nêu ra một gợi ý nhỏ cho sự cảm nhận về một ý tưởng khá sâu xa trong khi tưởng nhớ đến anh Nguyên Sa.

Bây giờ, ở bài này, tôi có cơ hội vạch ra cho rõ nét cái cảm nhận ban đầu kia của tôi, và cũng là để gián tiếp như một lời nhận lỗi sơ sót đối với một người anh đã quá cố.
(more…)

Đặng Kim Côn

tran_phu_the
Nhà thơ Trần Phù Thế

Có một điều, dù nói ra hay không nói ra, một độc giả nào đó đọc qua thơ Trần Phù Thế, tôi nghĩ là, cũng đều loáng thoáng thấy có hai thi nhân đồng hành, dạo qua Giỡn Bóng Chiêm Bao và Gọi Khan Giọng Tình, một thanh thoát cao xa của một Từ Thức ngàn năm trước loanh quanh chút nắng chút mưa, vẩn vơ chút nữa cũng vừa hoàng hôn  (Một Ngày), và một trần gian khắc khoải của một cùng đinh rất dân gian với những dòng lục bát ca dao đặc trưng Miền Tây Nam Phần:

ta về đứa chị theo bà nội
bán chuối ven sông với chiếc xuống
bảy năm vắng mẹ, cha tù tội
con trải than đời với gió sương

còn con gái nhỏ cùng ông nội
chăn vịt trên đồng mới gặt xong
tuổi thơ đội nắng hai màu tóc
nắng cháy đời con cháy cả lòng

(Đời ta)
(more…)

Đỗ Trường

thanh_son_banh_thanh_ban
Nhà thơ Thanh Sơn Bành Thanh Bần

Khi đặt bút viết những dòng chữ này, trong ngăn kéo chứa những thi sĩ dám tử vì thơ của tôi, không chỉ còn hai ông thương binh cùng mất chân trái, ở hai phía của cuộc chiến tranh đẫm máu, nước mắt vừa qua Hoàng Cát và Luân Hoán ngự trị nữa. Mà có lẽ, nhiều người đồng ý với tôi, phải điền thêm tên nhà thơ Thanh Sơn Bành Thanh Bần vào ô kéo đó. Bởi, đọc và nghiên cứu ông, ta thấy ngoài Thanh Sơn Bành Thanh Bần thơ, dường như còn có một Thanh Sơn Bành Thanh Bần đang chơi thơ và nuôi thơ khác.

Thật vậy! Nếu Hoàng Cát ước ao kiếp sau lại được làm thi nhân, Luân Hoán vẫn như hạt bụi bám hoài vào thơ, thì Thanh Sơn Bần Thanh Bần lại kỳ quái hơn, đêm về bỏ vợ ôm thơ:“Công danh lợi lộc chẳng màng / Đêm đêm thao thức gọi Nàng Thơ ơi!“  
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

lam_hao_dung-bidong
Nhà thơ Lâm Hảo Dũng

Chư Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn sô một tấc đường

(Lâm Hảo Dũng)

Thơ trên nòng pháo

Người chiến binh thực thụ mỗi khi bắn viên đạn pháo thì đường bay cuối cùng là tiếng nổ với trăm ngàn mảnh nhỏ sát thương; trong khi người nghệ sĩ bắn viên đạn pháo chỉ nghe tiếng nổ là những thanh âm cao vút bay lả tả những câu từ xuất ra bởi những tâm cảm mà chàng thi sĩ rung động trước mọi sự vật đang hay đã diễn ra trước mắt. Lâm Hảo Dũng là một trường hợp như thế.

Nhưng, tôi chỉ biết Lâm Hảo Dũng qua những bài thơ trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn: Văn, Khởi Hành, Nghệ Thuật… trước năm 75. Đó là thời gian ông được (hay bị) phiên chế ở một đơn vị pháo binh nào đó đang lặn lội trên các chiến trường khốc liệt nhất thời bấy giờ trên Tây Nguyên.
(more…)

Đỗ Trường

duong_thu_huong
Nhà văn Dương Thu Hương

Không hiểu thế quái nào, từ những thập niên cuối của thế kỷ hai mươi đến nay, văn chương đất Việt, lại mắc phải chứng bệnh lệch pha. Âm phần thịnh vượng khí xung. Dương phần sợ gió máy, đụng chạm chướng khí, đâm ra lại còi cọc. Điều này, càng rõ ràng hơn, ngay sau khi ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh hứa hẹn cởi trói, bóc keo dán miệng cho văn nghệ sỹ. Chúng ta thấy, đã xuất hiện một loạt tên tuổi của những văn nhân, nữ sĩ, từ Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, đến Phạm Thị Hoài… Sự can đảm, tiếp nối nhau ấy của họ, tuy ở những mức độ khác nhau, nhưng đã góp phần không nhỏ, cho sự hồi sinh dòng văn học hiện thực phê phán.

Cho đến tận hôm nay, vẫn có những ý kiến, đôi lúc còn khác nhau, nhưng có lẽ, không ai có thể phủ nhận, nhà văn Dương Thu Hương là người đã bập nhát cuốc đầu tiên, khơi thông dòng chảy này.
(more…)

Khuất Đẩu

bia_dem_co_tuyet

Có lần tôi bảo, đọc ông đôi lúc tôi tưởng như đọc Bồ Tùng Linh. Ông hỏi tại sao? Tôi giả nhời, vì hai người “liền giao hoan cực kỳ thích thú”. Ông vẫn tưởng tôi đùa, nên trong truyện Vườn chanh miệt biển gửi tặng tôi, ông có ghi chú riêng:” truyện có hương vị Liêu Trai”.*

Trong truyện đó, khi ẩn khi hiện một người con gái ngồi đàn, có mái tóc bạch kim, nhưng chỉ là bóng dáng của những yêu nữ năm xưa, chứ không phải những con chồn tinh tu luyện lâu năm cần tinh khí đàn ông để thành người, hay những con ma dưới mồ hoang mả lạnh ấm ức vì chết mà chưa được ai yêu!

Cái mà ông đôi lúc giống họ Bồ, chính là cách ông kể chuyện “giao hoan cực kỳ thích thú” khiến cho Nguyễn Mộng Giác “hơi thở phải rướn cong”, Đoàn Nhã Văn “nghe thấm thía ở mỗi từng tế bào”…
(more…)

Phạm Đức Nhì

cheo_thuyen_tren_song

Do không có phép ẩn dụ toàn bài nên tứ và ý bài thơ Giấc Mơ Anh Lái Đò giống nhau, và thật đơn giản: tác giả tâm sự với người đọc về mối tình vô vọng của mình. Bài thơ chỉ có 14 câu, có thể đọc một mạch từ đầu đến cuối mà không bị khựng ở chỗ nào. Ngôn ngữ, hình ảnh (rất Nguyễn Bính), gần gũi, dân dã.

Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn:

Năm xưa chở chiếc thuyền này
Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều

Tác giả giới thiệu hoàn cảnh mà từ đó tình yêu của chàng với cô gái đã bén rễ: được mỗi chiều – bằng chiếc thuyền nhỏ bé của mình – chở cô sang bãi tước đay.
(more…)

Tâm Nhiên

tam_nhien-trieu_nguyen
Từ trái: Tác giả và thi sĩ Triều Nguyên

Thông thường, trong một tác phẩm văn học nghệ thuật, lời Tựa mở đầu bao giờ cũng được tác giả tự bộc bạch, thổ lộ, diễn bày rất cẩn trọng dài dòng, để người đọc dễ lãnh hội sâu vào nội dung tác phẩm đó, nhưng với Triều Nguyên thì lại hoàn toàn khác hẳn, khi viết Tựa cho tập thơ đầu tay Bay Đi Hạt Cát của mình, thi sĩ chỉ có một câu duy nhất, thật vô cùng giản dị: “Sa mạc buồn thương hạt cát bay đi…” Giản dị đơn sơ mà độc đáo, thể hiện một cốt cách đặc thù riêng biệt trên con đường sáng tạo, ngao du qua những phương trời ngôn ngữ thi ca quá mộng dập dìu.
(more…)

Ngô Nhân Dụng

to_thuy_yen-dinh_cuong
Tô Thùy Yên
dinhcuong

Tháng Ba năm 1974, hai tháng sau khi Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đưa một phái đoàn đi thăm một đảo trong quần đảo Trường Sa; chắc để ủy lạo tinh thần các quân nhân đồn trú. Trong số người tham dự chuyến đi có Ðại Úy Ðinh Thành Tiên, lúc đó 36 tuổi.

Ông cũng là thi sĩ nổi danh Tô Thùy Yên từ 20 năm trước, xuất thân từ tạp chí Sáng Tạo.

Khi trở về Tô Thùy Yên viết bài thơ Trường Sa Hành, đăng trên tạp chí Văn, ở Sài Gòn. Trong lúc đó Việt Cộng đang tấn công tỉnh Phước Long, dọn đường cho cuộc tổng tấn công vào năm sau, mặc dù đã ký hiệp định đình chiến ở Paris. Trong không khí chiến tranh bùng trở lại, viện trợ của đồng minh bị cắt đứt, người dân miền Nam ngơ ngác, không ai có thời giờ nghĩ tới Trường Sa, những hòn đảo lẻ loi giữa trùng dương xa tắp. Bài Trường Sa Hành chìm vào đáy sâu kho trí nhớ của những người yêu thơ, yêu tiếng Việt.
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

vu_hoang_chuong3
Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

I. Tóm lược tiểu sử

Thi bá Vũ Hoàng Chương người Nam Định, sinh năm 1916. Tốt nghiệp tú tài 1937. Từng theo học Luật, học Toán không thành. Sau đó đi dạy học và làm thơ, viết kịch. Năm 1944 Ông kết hôn với Đinh Thục Oanh là chị ruột của nhà thơ Đinh Hùng.

Năm 1954, hiệp định Geneve, Ông di cư vào Nam tiếp tục nghề dạy học tại các trưỡng Chu Văn An, các tư thục….và làm thơ, văn…

Năm 1959 Ông đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc với tập thơ Hoa Đăng và đi tham dự hội nghị Thi Ca Quốc Tế taị Bỉ… Năm 1972 Ông đoạt giải Văn Chương toàn quốc…
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

truong_van_dan
Nhà văn Trương Văn Dân

Cuộc sống, tình yêu, niềm hạnh phúc, đau khổ, hận thù, chia ly…tưởng chừng như đã là chuyện cổ tích, mòn cũ; nhưng thật ra nó vẫn mới tinh khôi như nụ hồng vừa chớm nở sáng nay, luôn là đề tài bất tận đối với văn chương, âm nhạc, hội họa…Bởi dưới mỗi cách nhìn (chủ quan) của người sáng tạo đều được diễn tả dưới những khía cạnh khác nhau, từ những khám phá khác nhau khiến người đọc vẫn cảm thấy luôn có sự “trinh tiết”, mới mẻ trong đề tài.

Trương Văn Dân cũng thế, ông là người xa xứ đến hơn 40 năm. Nhưng 40 năm ở nơi đất khách quê người đã không làm ông hòa tan vào dòng chảy của nền văn hóa phương Tây, trái lại nó vẫn thấm đẫm mùi rơm rạ bùn non qua từng trang viết, khi ông quay về cố hương và trình làng hai tác phẩm Hành trang ngày trở lạiBàn tay nhỏ dưới mưa.
(more…)

Đỗ Trường

bia_dem_khat

Tháng trước, tôi có ông bạn bác sỹ, Chef của một bệnh viện ở Hà Nội, sang München dự hội nghị tim mạch thế giới. Quen hắn, từ cái thuở hàn vi, chung nhau một bộ vía, cuối tuần thay nhau mặc, để đi tán gái. Nên rành tánh hắn, ngoài sách chuyên ngành, tôi chưa thấy hắn đọc sách văn học bao giờ, nhất là thơ. Thế mà hôm xuống thăm, thấy đầu giường hắn để tập thơ mở, có lẽ đang đọc dở. Thấy tôi ngạc nhiên nhìn, hắn cười: Tôi mua, mang sang cho ông đấy, nằm khách sạn buồn, lấy ra đọc chơi. Khi mua, không hiểu thế quái nào, nhặt đại, lại trúng tác giả cũng đang sống ở Đức, nhưng đọc, thấy hay ra phết.

Vâng! Đó là tập thơ Đêm Khát của nữ sĩ thi Thu Hà, do nhà xuất bản Văn Học Hà Nội in ấn, phát hành năm 2010. Thật ra, tôi đã đọc thơ của chị, tuy chưa nhiều, nhưng có một số bài hay. Như bài Lá Đêm của chị, trước đây, tôi đã cảm nhận, bằng bài viết: Thu Hà, Như Giọt Sương Ẩn Mình Trong Kẽ Lá.
(more…)

Tâm Nhiên

mac_phuong_tu
Nhà thơ Mặc Phương Tử

Lung linh giọt sáng ngàn phương
Đêm huyền diệu xuống nghe sương luân hồi
Ngắm trăng ngắm cả cuộc đời
Giữa mênh mông chợt ta ngồi ngắm ta

Nhà thơ phiêu lãng, trầm tư Mặc Phương Tử, một hôm ngồi quán chiếu như vậy, thấy mình là giọt sương, hạt cát từ ngàn phương luân hồi qua trùng trùng vô lượng kiếp về đây giữa trời thơ đất mộng này. Thi sĩ tên thường gọi Nguyễn Thanh Tâm, sinh năm 1952 tại Gò Công Tây, bên dòng sông xanh biếc Tiền Giang, một nhánh sông rộng lớn của sông Cửu Long, phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng hùng vĩ chảy về cuồn cuộn, mang chở phù sa qua những cánh đồng mênh mông bát ngát. Một thời thơ ấu hồn nhiên nô rỡn, chạy nhảy tung tăng thả diều, tắm nắng ven sông lộng gió, đùa chơi với cỏ nội hoa ngàn, ruộng lúa đồng quê. Thế rồi bất chợt một ngày thay đổi lớn, chàng lặng lẽ rời bỏ quê nhà, quá giang theo chuyến xe đò lên phố thị Sài Gòn vào cuối năm 1964, bắt đầu cuộc sống lênh đênh như cánh lục bình trôi giữa dòng đời xa lạ, vừa ngơ ngác ngạc nhiên, vừa biết nếm mùi vị phong sương, chuyển dịch, luân lưu ngay từ hồi 12 tuổi.
(more…)

Đỗ Xuân Tê

bia_rot_xuong_tuoi_tho_toi

Tìm đọc để có một cuốn viết về tuồi thơ thời buổi này không phải là dễ, càng không dễ nếu tác giả của nó thể hiện những ký ức của mình lại là một nhà văn kiêm nhà thơ. Trần Yên Hòa xem ra anh đủ tiêu chuẩn do sở trường về nhiều thể loại từ thơ, tùy bút, truyện ngắn, truyện dài, bằng hơn chục tác phẩm đã được in và đón nhận (cho từng thể loại) tại hải ngoại gần 20 năm trở lại đây.

Vốn người đất Quảng nam xưa nay được coi như cái nôi của văn học, nhiều nhà văn nhà thơ nhà phê bình danh nhân văn hóa kiệt xuất xuất thân từ đây, lại sanh ra tại đất Tam kỳ, vùng đất nghèo ‘mưa tuôn gió giật’ nằm giữa dẻo đất miền Trung trên quốc lộ 1, tình người thì chân chất, cảnh vật khá nên thơ nhưng không hề được yên nghỉ vì là nơi giao lộ huyết mạch của hai phe thù địch lúc thì Pháp Việt minh, sau là quốc gia cộng sản, từ bối cảnh này chắc chắn cậu bé TYH phải trải qua thời thơ ấu khó khăn, kéo theo những ký ức tuổi thơ mà khi nhìn lại chắc có nhiều điều ray rứt vương vấn.
(more…)

Trần Kim Đức

bia_ban_tay_nho_duoi_mua

Đọc cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của nhà văn Trương văn Dân, tôi chợt nhớ lại những ngày còn đi học, hồi đó hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đã làm tôi khắc khoải bởi ý niệm của con người ý thức số phận của mình là do thiên mệnh:

“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Tôi đồng cảm với nhà văn Trương văn Dân về sự giải bày, chia sẻ tình yêu thương, những trăn trở về sự sống và số phận con người trong xã hội công nghiệp hóa và toàn cầu hóa. Tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” gần như không có cốt truyện, chỉ kể về tình yêu giữa người phụ nữ tên Gấm và người đàn ông nhà báo với miên man dòng cảm xúc, những suy tư, trăn trở về mối hiểm họa trong xã hội hiện đại mà con người phải gánh chịu. Qua bút pháp độc thoại nội tâm có pha lẫn thể loại ký báo chí, ông khám phá hiện thực cuộc sống và nỗi bất hạnh, nỗi lo sợ của con người trong xã hội hiện đại “Nó là hệ quả của một nhịp sống hối hả phi nhân của thời đại, nguyên nhân chính là sự gian tham và tàn ác của con người[1], lập luận và đưa ra những lý do vì sao con người cần phải sống theo tự nhiên, ông đã gởi vào đó một khát vọng sống và yêu mãnh liệt của con người qua nhân vật Gấm và người đàn ông của cô.
(more…)

Tâm Nhiên

bui_giang-dinh_cuong
Bùi Giáng
dinhcuong

Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam, trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, văn nghệ sĩ cự phách, thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị, kiệt xuất xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.

Trời đất, nhật nguyệt vẫn lăn quay dưới gót chân đời cát bụi, Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, quả nhiên là một hiện tượng kỳ lạ mà cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu được hết cõi tư tưởng hoằng viễn, cõi thi ca bát ngát vô song đó. Tuyệt mù những ngày xa xăm, thời còn niên thiếu lang thang ở Huế, Quế Sơn, Hội An, Duy Xuyên, Vĩnh Điện, Đà Nẵng… Đến năm 1952, lúc mới 24 tuổi, thi sĩ bỏ xứ lên đường phiêu lưu vào Sài Gòn, bắt đầu cuộc lữ phiêu bồng khốc liệt, không mục đích. Giai đoạn này, có đi dạy học ở các trường tư thục một thời gian rồi bỏ, chuyển sang sáng tác, viết sách bình luận văn học, dịch thuật và rong chơi ngút mùa sương gió đẫm mưa nắng dầm dề… Kể từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trời viễn du biền biệt, chưa một lần quy hồi cố quận, nhưng lòng thì vẫn nhung nhớ triền miên :

Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên
Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu
Vĩnh Trinh Lệ Trạch Thanh Châu
Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người
Người đầu tiên đã mỉm cười
Nhìn tôi tưởng thấy niềm vui vô cùng
Tôi ngồi tưởng nhớ mông lung
Tưởng từ chín suối tới bao dung Bầu Trời
(more…)

Châu Thạch

thai_quoc_muu
Nhà thơ Thái Quốc Mưu

Khuynh hướng thích sống nhàn đã có từ thời xa xưa trong văn thơ. Từ thời Đường bên Trung Quốc có bài thơ “Nhàn” của Bạch Cư Dị lưu truyền đến nay một thái độ sống bình an tự tại để hưởng niềm vui.

Ở Việt Nam ta, nhàn là cách muốn sống quen thuộc của nhà Nho xưa, thường là bởi một lý do nào đó như chán ngán con đường hoạn lộ, bất đắc chí vì thời cuộc đổi thay hay đã trả xong nợ sách đèn nên tìm thú hưởng nhàn bằng cách tránh xa thực tại, tìm vui trong thiên nhiên.
(more…)

Đỗ Trường

the_dung
Nhà thơ Thế Dũng

Năm nay, có khá nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, từ trong nước sang nghỉ hè và làm việc ở châu Âu. Có lẽ, nhiệt độ từ nơi xứ nóng, theo chân các nhà văn sang Đức chăng? Nên mới đầu tháng sáu, trời đã chuyển sang nắng ấm. Trên lối đi ngát một màu xanh cây lá. Bầu trời cao và xanh thẳm, thả xuống những cơn gió lành mát dịu, nhưng dường như vẫn chưa trút bỏ được, những ngột ngạt, chua xót, đắng cay… trong lòng người thi nhân, lữ khách.

Có thể nói, đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè đẹp đến như vậy.
(more…)

Trịnh Bình An

bia_viet_nam_coi_nguon_cuoc_chien

Một cựu quân nhân Hoa Kỳ tên John Muir trong tác phẩm “Everything We Had: An Oral History of the Vietnam War” (1981) của tác giả Al Santoli (cũng là một cựu quân nhân) đã phát biểu:

We did a fine job there. If it happened in World War II, they still would be telling stories about it. But it happened in Vietnam, so nobody knows about it. They don’t even tell recruits about it today. Marines don’t talk about Vietnam. We lost. They never talk about losing. So it’s just wiped out, all of that’s off the slate, it doesn’t count.

Cho tới nay, dù sách viết về Chiến Tranh Việt Nam đã lên đến số ngàn, cuộc chiến Việt Nam vẫn còn là một sự kiện mù mờ với rất nhiều người Mỹ và người Việt nhất là các thế hệ trẻ lớn lên sau chiến tranh. Đối với người Mỹ, lý do chính như John Muir đã nêu ra: Việt Nam là thất bại thảm hại của Hoa Kỳ, do đó không người Mỹ nào muốn nhắc tới. Đối với người Việt, lý do phức tạp hơn và còn tùy thuộc vào phía nào là bên phát biểu. Tác phẩm “Việt Nam-Cội Nguồn Cuộc Chiến” của tác giả Hà Mai Việt góp phần làm sáng tỏ những lý do dẫn đến cuộc chiến thảm khốc mà hậu quả của nó ngày nay là một đất nước Việt Nam lụn bại về tất cả mọi mặt, đáng sợ hơn, đang đứng trước nguy cơ trở thành một thuộc địa hoàn toàn của Trung Cộng.
(more…)

Đỗ Duy Ngọc
(Đọc tập thơ Thơ tình viết trên bao thuốc lá của Trần Dzạ Lữ)

bia_tho_tinh_viet_tren_bao_thuoc_la

Trần Dzạ Lữ làm thơ đã lâu. Thơ anh xuất hiện các tạp chí ở miền Nam từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Thơ anh hiền lành như con người anh. Trần Dzạ Lữ là nhà thơ lầm lũi và lận đận. Anh đã có ba tập thơ ra đời trong nhiều khốn khó. Đó là các tập: Hát dạo bên trời (NXB Trẻ. 1995), Gọi tình bên sông (NXB Trẻ. 1997) và mới đây nhất Thơ tình viết trên bao thuốc lá (NXB Hội Nhà Văn. 2014).

Trần Dzạ Lữ gốc Huế. Và là người mang đậm nét Huế từ giọng nói cho đến dáng đi. Khoan thai, chậm rãi và hiền từ. Và dĩ nhiên Huế đậm đặc trong cách nói năng.
(more…)

Thiếu Khanh

bia_tam_thanh_le_bac

Tâm Thành Lễ Bạc” của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, một nhà thơ ở đất Thần Kinh, là một tác phẩm dạng samizdat – La thanh đường tàng bản.

Cuốn sách 128 trang, gồm 16 bài viết theo lối cổ văn, từ cáo (tức tuyên cáo, tương tự Bình Ngô đại cáo), phú, hịch, văn tế, đến văn bia. Theo mục lục:

  1. Nhất thống sơn hà đại cáo
  2. Văn tế Vua Hàm Nghi
  3. Hịch cứu tế lương dân bị lũ lụt
  4. Văn tế âm hồn thất thủ kinh đô
  5. Văn bia khu tưởng niệm nhà lao An Nam
  6. Văn bia Cố Cả Leopold M. Cadiere
  7. Văn tế Nam Phong chủ bút Phạm Tiên sinh
  8. Văn tế Thac Gougah & Liên Khàng
  9. Phú bạn Vong niên
  10. Văn tế nạn nhân vụ sập cầu Cân Thơ
  11. Tân Mão tân niên phú
  12. Văn tế khóc vợ (viết cho bạn)
  13. Văn tế Nguyễn Tri Phương
  14. Quý Tỵ tân niên phú
  15. Điếu văn bạn học: anh Trần văn Kháng
  16. Văn tế tử sĩ Hoàng Sa

Giá trong sách có thêm hai thể văn “chiếu” và “biểu” nữa là “đủ bộ”. Sự vắng mặt của hai thể văn này cũng dễ hiểu: tác giả chẳng phải một học sĩ Viện Hàn Lâm chuyện soạn chiếu thư cho vua, mà cũng không đang sống trong thời quân chủ để có dịp dâng biểu lên vua về một việc gì đó. Nói chung, đây là các thể loại văn học (genres of literature) cổ điển mà bây giờ hầu như tuyệt chủng, ngoài số di sản quý giá đang dần dần trở thành… hóa thạch. Hiện nay có lẽ còn không bao nhiêu người, ngoài các nhà nghiên cứu cổ văn, thích thưởng thức lối văn biền ngẫu nhiều nhạc điệu rất thú vị này, mà người sáng tác (thành công) thể văn này trong cả nước dễ chừng còn ít hơn nữa – chắc là không đủ đếm trên đầu ngón tay. Sự xuất hiện một tác phẩm loại này là một điều ngạc nhiên lý thú.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên
Tưởng niệm 4 năm ngày nhà văn Thảo Trường qua đời

thao_truong
Nhà văn Thảo Trường (1936-2010)

“Chiến tranh hả?
Chiến tranh là cái c. chó gì”.
(Thảo Trường)

Thảo Trường vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 74 với 14 tác phẩm xuất bản tại Việt Nam và 8 ở Hoa Kỳ. Không phải với số lượng tác phẩm như vậy, hay việc ông bị tù đày 17 năm (không có bản án), từ Nam ra Bắc khiến tên tuổi Thảo Trường nổi tiếng trên văn đàn, mà hơn hết, ngay từ những tác phẩm đầu tay và cách ông chọn lựa thái độ và trách nhiệm của người cầm bút trước cuộc chiến tranh tương tàn đã làm cho những người trong và ngoài cuộc chú ý rồi.

Khởi đầu là những truyện ngắn đầu tay đăng trên tạp chí Sáng Tạo (Hương Gió Lướt Đi, Làm Quen…) đầu thập niên 60, sau đó tiếp tục là tập truyện Thử Lửa, nhưng phải đến Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp, Cánh Đồng Đã Mất, Chạy Trốn… thì cái tên Thảo Trường mới khẳng định được vị trí của ông trên văn đàn miền Nam, nhưng đồng thời cũng gây nhiều dư luận đa chiều.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

…thấy nguyên cả sự tục tĩu kèm với bài thơ
trên xương cụt, thấy nguyên cả
hiện tình văn nghệ tồi tàn của gia đình lão”

(Chinh Ba)

chinh_ba

Khoảng những năm 1964 trở về sau, báo chí miền Nam thường xuyên bị đục trắng, bị bôi đen. Cầm các tờ nhật báo, tạp chí trên tay nhìn những ô đen trắng đó như nhìn thấy sự bất toàn bắt đầu xâm chiếm, ngự trị lên các hoạt động báo chí ở một miền đất được mệnh danh tự do, dân chủ! Đệ tứ quyền đang lần hồi bị bức hiếp một cách thô bạo. Rất nhiều bài chính luận đã lên tiếng đả kích cách “cai trị” này của chính quyền, của Bộ Thông Tin Chiêu Hồi miền Nam. Đến cuối tháng 10 năm 1965, đọc truyện ngắn Bài Thơ Trên Xương Cụt, đăng trên tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ số 4 (1), tôi mới nhận ra, theo cảm tính chủ quan, tính chất phản kháng thâm thúy của nhà văn. Tôi “hả hê” với cách hành xử của Út Lệ. Nhưng mọi chuyện rồi cũng qua đi, không ai làm gì được ai. Ngay cả ông Võ Phiến đang ngồi ở cái bộ ấy cũng chỉ biết thế và hay thế.

Thời cuộc biến đổi như một cơn lốc.
(more…)

Phan Thành Khương

chuong_ho

“Nhớ rừng” của Thế Lữ là một bài thơ hay. Những ai có chí khí, có khát vọng thoát ra khỏi cuộc sống chật hẹp, tù túng, quẩn quanh, gò bó, tầm thường đều thấy phấn khích khi đọc hay khi nghe ngâm bài thơ “Nhớ rừng”. Bài thơ được tác giả đề tặng nhà văn lớn Nhất Linh và có một chú thích rất rõ ràng, cụ thể: “Lời con hổ ở vườn Bách thú”. Đúng vậy. Bài thơ là “lời con hổ” nhưng lại mang tâm trạng của con người. Và, đó không chỉ là tâm trạng của một người, của riêng Thế Lữ mà còn là tâm trạng của cả một tầng lớp, một thế hệ. Đáng tiếc thay, đó lại là tâm trạng gần như bất lực và bế tắc!

“Nhớ rừng” mở đầu bằng một nỗi căm hờn, một niềm bi phẫn cao độ:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

nguyen_minh
Nhà văn Nguyên Minh

Đến với nhau trong văn chương không phải là sự tình cờ. Và vì vậy, khi Nguyên Minh đến với thế giới chữ nghĩa là mang đến cả một niềm đam mê không biết mệt mỏi. 18 tuổi anh và bạn bè làm tờ Gió Mai ở Huế. Và từ đó đến nay anh có hơn 50 năm tuổi nghề, mặc dù có những lúc, thời gian đã chặn anh lại nửa đường. Nhưng thời gian mang những dấu ấn lịch sử kia đã không thể trói tay chân, đầu óc anh. Hết Gió Mai, ở Phan Rang anh lại cùng Ngy Hữu và bạn bè ra tờ Ý Thức, tờ báo in ronéo đẹp nhất Miền Nam thời bấy giờ và cũng tập trung đông đảo người viết trẻ nhất.

Cả cuộc đời Nguyên Minh không thể thiếu mùi mực in, mùi giấy và kim chỉ. Vắng chúng chừng như anh không thể nào sống nổi thêm giây phút nào nữa, như một Trần Hoài Thư ở New Jersey vừa khâu sách trên bàn ăn tối vừa tiếp bạn xa! Thời in ronéo chấm dứt, có lúc Nguyên Minh thẫn thờ như kẻ mất hồn giữa thị trấn tràn gió và cát bay. Anh quyết định bỏ Phan Rang, chốn quê nhà yêu dấu của mình, vào Sài Gòn để làm một điều gì đó cho văn chương, cho tuổi trẻ. Vậy là Ý Thức từ ronéo chuyển sang in typo, rồi ofset, có nhà in riêng hẳn hoi, có thư ký tòa soạn, có nhân viên phát hành… đặt tại 666 Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ). Phải thừa nhận công sức anh bỏ ra khá nhiều cho Ý Thức, nhưng từ nội dung tới hình thức chưa được một chỗ đứng “xứng tầm” trong làng báo văn học ở Miền Nam thời kỳ văn chương phi lý, hiện sinh lẫn với tình tự dân tộc… đang nở rộ. Có lúc tôi bạo miệng đề nghị anh xem lại và mạnh dạn làm một cuộc cách mạng cho tờ báo. Là nói vậy chứ trong đầu cũng chưa hình dung sẽ cách tân thế nào (nếu như Nguyên Minh giao chuyện cách tân đó cho tôi)?
(more…)

Ngô Nguyên Nghễm

vo_thanh_van
Nhà thơ Võ Thạnh Văn

A. Nghiệm Thề Hình Tướng
(Cát Bụi I)

Chao mình trong ngưỡng cửa phù sinh, hằng hà cát bụi li ti bay khắp cùng thế giới sinh tồn nghiệt ngã.Chính vậy, bước vào lộ trình tìm tánh giác, bằng những thiện căn như di hành dưới những đóm sáng le lói, băng ngang tư thức mà tìm chánh lộ. Nhưng tánh giác không hình không tướng, mà nghiêng ngửa giữa những vọng trần mê hoặc, che khuất những lộ trình chân phương đang trải dài trước mặt. Cõi phù đồ loang loáng những mê vọng ngã chấp, khiến tâm hướng xoay vòng trong tư thức nhân gian.Vẹt những đám mây ảo giác , phủi nhẹ cát bụi trên chiếc gương soi cổ độ, may ra chân tâm được chuyên chở thuần hành trong cuộc hành trình phục hồi tánh giác huyền diệu .
(more…)

Đỗ Trường

vo_thi_hao_2
Nhà văn Võ Thị Hảo

Từ độ linh hồn đã bị nhốt nơi địa ngục, cõi nhân gian dường như chỉ còn lại những đấng văn nhân đang cúi mặt, ngậm miệng ăn tiền, rồi tụng lên những lời ca lạc loài, giữa tiếng thét kêu oán hờn của hàng triệu sinh linh.

Thì thật may mắn thay, trong cái bi thương đó, có một vệt linh khí, đã vượt ra khỏi xiềng xích ngục tù, tụ lại, rồi tỏa ra luồng sinh khí mới, cho văn học đất Việt. Họ đã rạch ra một lối đi, cách viết mới cho dòng văn học hiện thực phê phán đương đại. Hiện tượng ấy, tuy không làm thay đổi cả diện mạo nền văn học định hướng, bao cấp èo uột, nhưng nó lại được cất lên, làm sống lại những trái tim khát vọng công lý và sự thật, đã bị nhấn chìm từ bấy năm qua. Qủa thật, họ là những tên tuổi, nữ sĩ, văn nhân đích thực nhất của văn học đất Việt hiện nay.

Võ Thị Hảo, là một trong số những nhà văn tài năng và can trường đó.
(more…)

Hoàng Nhất Phương

bia_thung_lung_tu_than-va

“Sự lựa chọn giữa cái đói cào cấu và sự giữ thẳng lưng cũng như nhân cách là một chọn lựa khó khăn!” [Trang 97] Nhà báo Vũ Ánh đã viết như vậy khi kể lại thời gian ở trong trại tù cải tạo, những ngày đội trưởng phải tổ chức các buổi góp ý, phê, và tự phê, rồi bình bầu mức ăn hàng tháng cho mỗi tù nhân cải tạo. Những giòng chữ lặng thầm thản nhiên viết ra tưởng chừng thật dễ, nhưng trong hoàn cảnh ăn đói, làm việc nặng, khi đau ốm chỉ có xuyên tâm liên chống trả lại các bệnh từ thông thường nhất là cảm lạnh đến nguy hiểm nhất là đau tim, hen suyễn, lao phổi, nhiễm trùng đường ruột…, thì sự giữ thẳng lưng cũng như bảo toàn nhân cách quả là việc rất khó. Thế nhưng nhà báo Vũ Ánh và các anh em tù cải tạo của ông đã làm được, vì họ còn có ý thức trong sáng về nhân cách, lòng trắc ẩn, và sự can đảm.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

bia_ba_nguoi_khac-to_hoai

Nhà văn Tô Hoài vừa qua đời ngày 6 tháng 7 tại Hà Nội. Ông là một tác giả lớn của văn học Việt Nam với những tác phẩm như Dế Mèn Phiêu Lưu Ký, O Chuột, Trăng Thề, Nhà Nghèo trước 1945 và Miền Tây, Cát Bụi Chân Ai, Chiều Chiều, Ba Người Khác sau 1945 trong gần 200 tác phẩm đã in. Riêng Ba Người Khác là một tác phẩm đã gây ra chấn động một thời trong giới cầm bút và lan ra cả quần chúng nữa.

“Ba Người Khác” là tác phẩm của nhà văn Tô Hoài viết xong năm 1992 với nhan đề là “Chuyện Ba Người” nhưng không được in, mãi đến năm 2006 thì mới được xuất bản.
(more…)

Nguyễn Lương Vỵ

bia_toi_cung_gio_mua-nxt

43 bài thơ trong thi tập “Tôi Cùng Gió Mùa” của thi sĩ Nguyễn Xuân Thiệp là một bản Giao Hưởng Thơ lộng gió, đẹp nao lòng nhan sắc mùa màng. Gió Mùa – Gió, của sử lịch u trầm rạng rỡ tháng năm, Mùa, của đời-người bão giông chớp tắt u hoài thân phận. 43 bài thơ, 43 tấu khúc, trôi và chảy, chảy và trôi, êm đềm và dữ dội, sâu lắng và tuôn trào. Gió Mùa – Thi sĩ đã thọ mệnh và mang theo trong suốt hành trình thơ với một tâm thế khiêm hạ, tĩnh tại và bi mẫn ngay từ buổi thiếu thời:

sáng nay. tôi lắng bước mùa xưa
chim nhỏ. năm nao. đậu khóm dừa
sông chớm đôi bờ thu quạnh quẽ
đường dài, son đỏ. quán lau thưa

nhà ai. phơi áo. ngoài hiên nắng
nắng tắt trưa qua. lạnh bến chờ
cây ố. sắc tường. vương phủ ấy
trẻ nghèo. nhặt lá. ngói rơi. hư
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

tran_yen_thao
Nhà thơ Trần Yên Thảo

A. SƠ HUYỀN
(PHẨM SEN VÀNG I)

Cuộc hành trình bước về chân như, bao giờ cũng mở đầu bằng những bước nhập thế, lặn lội chìm đắm trong nhiều sát na nghiệp lực. Thứ nhất là nhào lộn trên từng nghiệp chướng từ những lần thai sinh, và phủ quanh cuộc phiêu du trong trần thế bằng những phước họa đằng đẵng, gánh vác đầy ngập hai vai.Thứ hai, sự khai mở trí tuệ để bước chân thật trên bước đường hạnh ngộ của hằng hà dấu chân điểm đạo từ vô thỉ đến vô chung.Thứ ba là hạnh nguyện bước lên hóa đạo, trực ngộ sau a tăng tỳ kiếp tu chứng, vừa mở hoác chân như. Sen vàng hiện thân cho cuộc khai ngộ rực rỡ chánh đẳng chánh giác.Người văn nghệ sĩ cũng có một điểm hiện thân gian khổ, trên bước đường chứng ngộ kỳ diệu trong sáng tác. Và tùy quan điểm phù hợp với tư tưởng tâm niệm trong nghệ thuật, thì giây phút nhập thân trên bước sáng hóa ngôn ngữ sẽ sáng lòa trên điểm hóa đạo như người tu chứng.
(more…)

Hoàng Nhất Phương

bia_tdt

Mặc dù chỉ là quyển sách ghi chép lại từ những cuộc đàm thoại được thu âm, nhưng “Trần Đức Thảo – Những Lời Trăng Trối” được xem là tài liệu đặc biệt của Giáo Sư Trần Đức Thảo nói về con người của Hồ Chí Minh “một Tào Tháo muôn mặt của muôn đời,” [1] và “là một con khủng long ba đầu, chín đuôi.” [1] Giáo Sư Trần Đức Thảo khẳng định:

Nếu không dám khui ra những sai trái lịch sử của ‘ông cụ,’ không dám đưa ra ánh sáng tội lỗi của Marx thì không bao giờ thoát ra được tình trạng bế tắc chính trị độc hại như hiện nay ở nước ta.” [1]
(more…)

Nguyễn Lương Vỵ

bia_la_daffodil_that_bim

Tập truyện “Lá Daffodil Thắt Bím” của nhà văn Nguyễn Âu Hồng, do Thư Ấn Quán xuất bản vào mùa Xuân 2014, tuy khiêm tốn về số lượng (5 truyện ngắn, trong đó, “Cây Lá, Chim Và Cá” là truyện ngắn viết năm 1972, 4 truyện còn lại: “Lá Daffodil Thắt Bím”, “Mũi Tên”, “Mùa Cá Bẹ”, “Hoa Trâm Trâm” viết năm 2014, tại Hoa Kỳ,) nhưng giá trị văn chương, sức vang dội của cảm xúc, tính nhân văn nồng ấm sâu xa, đã đọng lại trong tôi một niềm tri ân chân thành với tác giả.

Trong phần Thay Lời Kết ở cuối sách, nhà văn Trần Hoài Thư đã viết về người bạn của mình như sau:

“Nguyễn Âu Hồng đến với văn chương rất sớm. Tôi biết anh nhiều, chẳng những qua những tạp chí Saigon mà chúng tôi cộng tác, mà còn qua những tháng ngày trôi nổi thanh xuân. Những cây số, địa danh mà chúng tôi đã đi qua, dừng lại đều na ná giống nhau. Nào là Bình Định, Phú Yên, nào là Bồng Sơn, Tam Quan, nào là Pleiku, Kontum… Lại thêm một chỗ trở về sau những ngày lênh đênh. Đó là thành phố Nha Trang. Đó là căn gác gió ở nhà sách Huy Hoàng trên đường Độc Lập của những năm cuối thập niên 60.
(more…)

Đỗ Trường

bia_sau_con_binh_lua

Chiến tranh, binh đao khói lửa, chết chóc trên chiến trường, không phải là cái đáng sợ nhất, đối với người lính. Những trận chiến đày đọa tư tưởng tâm hồn cũng như thể xác trong lao tù sau chiến tranh, đó mới là điều ám ảnh, đáng ghê tởm nhất đối với họ. Bốn mươi năm là hai phần ba của cuộc đời đã qua đi, nhưng nỗi đau đó, nào có khác chi những mảnh pháo, viên đạn còn đang găm sâu vào từng con tim, sớ thịt. Dù họ, những người lính ấy, giờ này đang sống nơi quê nhà, hay Đức, Mỹ, Pháp…hoặc một phương trời nào đó thật bình yên. Và để xoa dịu cơn đau, bớt đi những điều ám ảnh, họ buộc phải tìm đến trang viết, bằng những bút ký, hồi tưởng ấy.
(more…)

Khuất Đẩu
Đọc Sinh Nhật của Một Người Không Còn Trẻ của Lữ Quỳnh

bia_sinh_nhat_cua_mot_nguoi_khong_con_tre

Đến bây giờ tôi vẫn không bỏ được cái ý nghĩ không giống ai, rằng sinh nhật của một người giống như những trụ cây số trên đường thiên lý. Tôi đã đếm được bảy mươi tư trụ và Lữ Quỳnh cũng đã bảy mươi hai. Kể cũng đã khá nhiều. Nhớ lại những cột mốc đã qua, ai cũng thấy buồn nhiều hơn vui. Bởi vì con đường chúng ta đã đi, nói như Lữ Kiều, là con đường do lịch sử chọn chứ không phải chúng ta, những người lỡ sinh ra những năm bốn mươi, năm mươi. Cho dù có thắp lên những ngọn nến hồng thì vẫn buồn, nhất là thắp lên trong một đêm cuối đông ở xứ người mênh mông tuyết trắng.

Những ngọn nến thắp
Là hồi ức buồn.

Buồn vì lúc mở mắt chào đời / quê hương bừng khói lửa. Vì tuổi trẻ không mùa xuân / chúng tôi nghèo đủ thứ. Vì bây giờ trên chiến trường / cũng đám người rất trẻ / vội vàng đem máu xương / để giành từng thước đất.

Và họ đã ngã xuống tay còn thơm mùi giấy mới học trò. May mắn sống sót được thì:

Tuổi già mất bạn cũng mồ côi.
Một ly mình. Và một ly không
Quán hoa giấy chiều nay lãng đãng
Uống ngụm nắng tàn trong chiếc ly không.

Có thể gọi đây là bốn câu thơ đẹp nhất viết về tình bạn.
(more…)

Nguyễn Minh Thanh

den_tho_nguyen_bieu
Đền thờ Nguyễn Biểu ở Hưng Lam, Hưng Nguyên

I – LƯỢC SỬ

Ông Nguyễn Biểu ( ? – 1413) người huyện La Sơn, Nghệ An, đỗ Tiến sĩ cuối đời Trần làm quan Ngự Sử, phò nhà Hậu Trần vua Trùng Quang (1409 -1413). Năm 1413, tình hình binh bị rất ngặt, Trùng Quang Đế tỏ ý muốn cử người đi sứ sang địch thương thuyết. Không ai dám đi. Ông tình nguyện, chịu mệnh vua sang trại giặc nghị hòa. Vua Trùng Quang có bài thơ tiễn Ông, Ông đáp họa.

Vào trại giặc, tướng giặc Trương Phụ cho dọn Cỗ Đầu Người để thử đởm lược. Ông ung dung móc mắt nhắm rượu và khinh mạn làm thơ trước giặc. Việc nghị hoà không thành. Nhưng Trương Phụ cảm phục khí phách, cho Ông về. Môt lúc sau, do sàm tấu của Việt gian Phan Liêu, Trương Phụ bèn sai lính đuổi theo bắt lại. Trương Phụ bảo Ông qùi lạy hắn. Chẳng những không qùi, ông còn mắng vào mặt quân xâm lược. Trương Phụ tức giận sai trói, rồi dùng tóc của Ông cột vào chân cầu bên bờ sông Lam, gần chùa Yên Quốc. Nước lớn Ông bị chết ngộp..!!
(more…)