Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự’ Category

Nguyễn Mạnh Trinh

Khoảng thập niên 60-70, thực sự đã có những luồng gió mới thổi tới trong văn học nghệ thuật miền Nam. Giữa người đọc và người viết hình như chung một ý hướng là làm mới lạ văn chương, để khác đi với thời trước, thời tiền chiến và thời của Tự Lực Văn Ðoàn. Những tác giả trong những tác phẩm của mình và các tạp chí văn học đã cố gắng trong nỗ lực ấy. Người viết mang những trào lưu tư tưởng triết học tây phương mà trong đó những tư tưởng hiện sinh là một. Trong khi đó, người đọc, phần đông trẻ tuổi là sinh viên học sinh hoặc những người lính chưa có nhiều năm quân ngũ, cũng theo dõi một cách hào hứng những trào lưu tư tưởng có khi trở thành thời thượng.
(more…)

Nguyễn Khôi

Mười yêu không bằng người tình cũ
Mười nhớ không bằng nhớ bản xưa

Thôn bản là hình ảnh thu nhỏ của xứ sở. Bản (làng) dân tộc Thái đầu tiên khi tôi đến ở là bản Nà Nghiu bên bờ sông Mã (thượng nguồn). Tiếng Thái có nghĩa là “bãi cây gạo”. Đó là mấy chục ngôi nhà sàn (gỗ, tre, nứa, gianh), mái hình mai Rùa, ở 2 đầu hồi có 2 tia “khau cút” (hoa nhà) sơn vôi, kẻ hoa văn đen như 2 cánh chim đang vẫy bay lên rất điệu đàng và rất bản sắc, không ở đâu có ngoài Tây Bắc Việt Nam.
(more…)

Đinh Vũ Hoàng Nguyên

Theo tích xưa kể Trọng Cao, Phạm Lang đều lần lượt là chồng của Thị Nhi, vì số kiếp éo le rồi cả ba cùng chết trong lửa. Diêm Vương thương mối oan tình mới cho ba người thành thần, chuyên cai quản bếp của các gia đình. Dân gian gọi họ là Táo Quân.

Chuyện ngày nay kể có một lão làm nghề thầy bói, lão còn kiêm luôn cả nghề thầy cúng, thầy phù thủy… tóm lại là loại cao tay về đường âm. Dân tình đồn lão thầy bói này có bằng tiến sỹ tâm linh của Tây Tạng.

Nhà thầy bói cũng như mọi nhà, có ba Táo Quân, gồm hai Táo ông một Táo bà. Nhờ khả năng giao tiếp với âm thần, nên lão thầy bói có thể trò chuyện với những vị này, thỉnh thoảng còn họp hội với nhau chơi tá lả, tình cảm đôi bên thân mật.
(more…)

Huỳnh Ngọc Tuấn

Tháng hai về, khi những đợt gió mùa Đông Bắc ngắn ngủi nhưng dữ dội mang cái giá rét từ đâu đó rất xa về làm tê buốt đôi tay…khi những đám sương dày đặc buổi sáng làm mờ chân trời và cả hàng cây trước mặt. Khi những cánh mai vàng đã kết trái trên cành, màu trái xanh đã chuyển sang màu đen tuyền như những hạt ngọc trai lóng lánh, đó là lúc cây sầu đông bắt đầu nở hoa.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Hà Thúc Sinh không phải là một tên tuổi xa lạ. Trái lại. Ðó là một tên tuổi tác giả quen thuộc với văn học Việt Nam. Nhưng câu hỏi để định hình một danh tánh văn chương sẽ rất khó trả lời môt cách giản dị bởi trong chân dung nghệ thuật ấy, trong tên tuổi ấy , bao gồm nhiều lãnh vực. Là Nhà thơ? Là nhà văn ? Là nhạc sĩ sáng tác? Là trưởng ca đoàn Hưng ca một thời? Là tác giả viết về ngục tù Cộng sản với tác phẩm nổi bật nhất của văn học Việt nam hải ngoại? Là một nhà báo chuyên nghiệp của nền báo chí Việt nam hải ngoại lúc phôi thai đến khi phát triển? Và bất cứ trên lãnh vực nào, cũng là nổi bật, cũng đầy cá tính và gây cho độc giả những ấn tượng sâu sắc khó mờ phai…
(more…)

Minh Nguyễn

Từ phố núi Pleiku tôi mang mù sương xuống tới trung tâm ngã sáu Ban-Mê vào một buổi sáng đẹp trời. Đứng ở giao điểm hai con đường quốc lộ 14, 26 chạy qua thành phố Buôn Ma Thuột, tôi dõi mắt nhìn theo những con đường nối liền khu dân cư người Kinh tới buôn làng Ê-Đê, Ba-Na, Sê-đăng, Stiêng và các tỉnh miền Trung xa xôi dịu vợi; mới thực sự cảm nhận hết vẽ đẹp kỳ vỹ của núi đồi, rừng cao su, nương rẫy cà phê bạt ngàn, sánh vai nhau mọc lên giữa chốn đại ngàn. Chưa hết nỗi ngạc nhiên, tôi bị choáng ngộp trước cái quảng trường thiết kế hài hòa với vô số vòi phun, đang bắn những tia nước trong veo màu thủy tinh vào dưới chân một cái tháp cao, có dựng tượng đài mô phỏng chiếc xe tăng bằng gỗ; mở ra sáu ngã đường dài hun hút Tây Nguyên.
(more…)

Đỗ Xuân Tê
Nhân đọc bài của Ninh Hạ: Về một bài thơ phổ nhạc: “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan

Đất Thanh Hóa gần quê tôi, từ nhỏ tôi đã nghe nhiều về vùng đất này. Bố tôi và các anh con ông bác đã đi “bè” chở nứa từ Thanh hóa về cho mẹ tôi và các chị trong họ làm nghề đan cót, một làng nghề cha truyền con nối mà năm mươi năm sau các bà các cô vẫn cặm cụi ngôì đan. Nghề này không biết du nhập làng tôi từ hồi nào, nhưng một khi lúa gặt về cần quây che, thóc thu hoạch về cần chỗ chứa thì các tấm cót quê tôi vẫn là sản phẩm không thể thiếu trong các làng mạc vùng châu thổ sông Hồng. Tuy số cung ổn định, giá cả phaỉ chăng, nhưng sức lao động bỏ ra so với giá trị sản phẩm thu về thì quả không tương xứng. Bao thân phận từ các cô gaí lứa tuổi mươì hai mười ba đến các bà mẹ quê tuôỉ cổ lai hy cứ vừa qua vụ mùa laị cặm cụi ngày đêm âm thầm mắt ngó xuống, chân tay đan làm các thao tác xem như không mỏi, nhưng nỗi mệt đã ăn sâu trong tâm thức, trong da thịt, trong lục phủ ngũ tạng, để cả một đời không rời xa caí làng nhỏ bé từ đơì này sang đời kia.
(more…)

Tưởng Năng Tiến


Blogger anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải

Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ. (Nguyễn Thị Từ Huy)

Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải ‘bỏ qua’ nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi …”
(more…)

Tưởng Năng Tiến


Nhà Báo Tự Do Nguyễn Văn Hải. Ảnh: blogdieucay

Tôi có chút giao tình với nhà văn Vũ Thư Hiên. Mối giao tình này, nói nào ngay, không đậm đà gì cho lắm. Chúng chả có điểm nào tâm đầu ý hiệp, ngoài việc đều có thời gian sống ở “chiến khu” – hay nói theo ngôn ngữ đời thường là cùng … bị ở tù!

Bởi thế, mỗi khi có dịp gặp nhau (sau khi đã cạn mấy ly đầy, rồi đầy vài ly cạn) thế nào chúng tôi cũng huyên thuyên về những chuyện “ở chiến khu.” Có lần, tôi nghe ông nói nói đến một người tù có tên Thái Bát. Nhân vật này là một tù nhân số lẻ – nghĩa là tù chính trị, thuộc diện tập trung cải tạo – loại tù không án, cứ cải tạo tốt là (automatic) được cho về nhà (đuổi gà) giúp vợ thôi.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Có những bài thơ, đọc lại là cả một sự hồi tưởng, đối với riêng tôi. Hơn thế nữa, nó còn là một phần đời sống.

Một trong những bài thơ vừa kể, tôi viết năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chiếc trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi xẫm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà, …
(more…)

Phạm Khắc Trung

Tôi đã từng học lậu môn Việt Văn lớp 11 với thày Tạ Ký gần một năm trời, được thày ký tên đề tặng tập thơ “Sầu ở lại”. Sau này lên đại học, thỉnh thoảng tôi còn ghé Chợ Đũi ngồi uống bia đấu hót, nghe thày đọc thơ. Gắn bó đến vậy, dĩ nhiên tôi đã đọc đi đọc lại tập thơ của thày nhiều lần, đa phần đã gần như thuộc.
(more…)

Nguyễn Bảo Hưng
Viết để ngẫm về ngày biến cố lịch sử 30-4-1975


Albert Camus (1913-1960)

Cái tên Albert Camus hẳn không xa lạ đối với độc giả Việt Nam. Có thể nói ông cùng với J P Sartre là hai nhà văn đương đại Pháp được đọc nhiều hoặc ít ra cũng được nghe nhăc đến nhiều nhất. Nếu như Sartre với nhân vật Roquentin trong cuốn La Nausée được ca tụng là nhà văn của chủ nghĩa hiện sinh, thì tên tuổi Albert Camus, trái lại, được gắn liền với nhân vật Meursault trong cuốn L’Etranger  như là nhà văn của triết học phi lý. Có thể nói L’Etranger là tác phẩm của Camus được ưa chuộng nhấtvà cũng được dịch ra tiếng Việt nhiều nhất. Theo Nguyễn Văn Lục trích dẫn dịch giả Trần Thiện Đạo, riêng cuốn L’Etranger đã lần lượt được các dịch giả sau đây chuyển ra tiếng Việt : Người xa lạ, A. Camus (Võ Lang), nxb Thời Mới 1965. Kẻ xa lạ (Dương Kiền và Bùi Ngọc Dung), nxb Ngày Nay 1965. Kẻ xa lạ (Lê Thanh Hoàng Dân và Mai Vi Phúc), nxb Trẻ 1973. Người dưng (Dương Tường), nxb Văn Học, Hà Nội 1995. Và mới đây nhất Kẻ xa lạ (Nguyễn Văn Dân), nxb Văn Hóa, Hà Nội 2002.(1) Hiện tượng thi dua dịch cuốn « L’Etranger » khiến hình ảnh Meursault, nhân vật người hùng của câu truyện kể, trở thành phổ biến và tên tuổi A. Camus, vì vậy, cũng được gắn liền với cuốn L’Etranger như là nhà văn của ý thức phi lý. Bản thân tôi, trong bài viết « Dịch là phản ? » mới đây, khi nhắc tới nhân vật Meursault ngay trong phần mở đầu, cũng đã vô tình đóng góp vào việc nuôi dưỡng cái khí quyển phi lý bao trùm không gian văn học Camus và tô đậm thêm chân dung nhà văn của phi lý nơi ông. Nhưng mới đây, một biến cố thời sự gây chấn động toàn thể nước Pháp làm tôi sực nhớ tới một bài viết về Camus cho mục văn học nghệ thuật đọc trên đài RFI cách đây khoảng chừng hai chục năm (2).

Biến cố thời sự tôi vừa nhắc đến, là vụ một thanh niên Pháp gốc người Algérie, Mohamet Merah 23 tuổi,  sáng ngày 19/3/12 đã bất ngờ sấn tới nổ súng bắn chết một giáo viên cùng ba trẻ em học sinh trước cửa một trường học  tại Toulouse chỉ vì họ là dân Do Thái. Thành thực mà nói, vụ sát hại này, về mặt tổn thất nhân mạng, cũng chẳng lấy gì làm khủng khiếp cho lắm so với con số hàng chục có khi lên tới hàng trăm người bị chết hoặc bị thương trong các vụ khủng bố hoặc đàn áp dân chúng tại nhiều nơi trên thế giới. Với kỹ thuật truyền thông tiên tiến hiện đại, hàng ngày thiếu gì các tin tức thuộc loại này. Hình ảnh các vụ giết chóc xảy  ra hầu như cơm bũa ấy, đã dần dà tạo nơi ta một thứ phản xạ dửng dưng của người ngoại cuộc được bình chân như vại, nhất là khi những cảnh chết chóc đó chỉ được hình dung bằng các con số khô khan trừu tượng. Tuy nhiên vụ thảm sát tại Toulouse, qua tường thuật của tuần báo Paris – Match số 3279 (22-28 Mars 2012) đã khiến tôi  xúc động kinh hoàng.  Theo bài báo, đúng 7g54 sáng thứ hai 19-3-2012, sau khi lái xe moto tới trước một ngôi trường trung học Do Thái, tên Merah đã dùng súng bắn chết một giáo viên người Do Thái cùng hai đứa con trai lên ba và lên năm đang đứng trước cổng trường. Sau đo tên Merah còn quay súng định hạ sat thêm  bé gái Myriam bảy tuổi, con của vị hiệu trưởng trung học cũng dân Do Thái. Nhưng do súng  kẹt đạn, em Myriam chỉ bị thương nên chạy trốn vào trong sân trường. Nhất định không tha, tên Merah phóng mình rươt theo nắm bắt em, rút trong người ra một khẩu súng khác và hạ sát em. Tôi rùng mình khi tưởng tượng ra cảnh  em bé ngây thơ vô tội đó hai tay ôm mặt, thân hình co quắp lại vi sợ hãi, trong khi tên sát nhân, bất chấp tiếng rú thất thanh và khuôn mặt rúm ró của em đã lạnh lùng  bắn vào màng tang em. Tôi còn kinh hoàng hơn nữa khi được biết động cơ của hành vi sát nhân dã man này, theo lời tự thú của đương sự trong mọt cuộn băng vidéo thu sẵn định nhờ truyền thông phổ biến, là nhân danh chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và để trả thù cho các trẻ em Palestine nạn nhân của người Do Thái. Mấy chi tiết sống sượng này đã ám ảnh tâm trí tôi, làm tôi thắc mắc tự hỏi :  Sự thật có đúng như vậy không ? Nếu quả là đúng, bước vào kỷ nguyên tin học ở thế kỷ 21 này chúng ta thực sự đã ra khỏi tình trạng dã thú để có thể tự hào là  thuộc về nhân loại  văn minh tiến bộ hay không ? Hay là những phát minh khoa học diệu kỳ đem lại cải thiện đời sống vật chất đáng kể, nhưng không đi kèm với tiến bộ của lương tri, chỉ dẫn đến hủy hoại tâm hồn mà thôi, như lời báo động của Rabelais đã vang vọng ngay từ đầu  thế kỷ thứ 16. ( « Science sans conscience n’est que ruine de l’âme », Rabelais, Gargantua, Livre I,17)). Tôi thắc mắc tự hỏi không phải riêng vì Merah là người gốc Ả Rập và y đã ra tay hành động nhân danh các chủ thuyết tôn giáo và chủng tộc. Chưa đầy một tháng sau vụ thảm sát tại Toulouse thì tại Oslo, thủ đo xứ Na Uy lại dội lên vụ án Anders Breivik, một thanh niên Na Uy theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan, ngày 22-7-2011 đã thẳng tay hạ sát 77 nhân mạng cùng làm bi thương hàng chục người khác tới dự một cuộc họp biểu tình của các nhóm thiên tả, trong đó có nhiều người theo đạo Hồi. Ra tòa, Breivik  chẳng những không hề tỏ vẻ ăn năn, mà còn cho việc làm của mình là hành vi tự vệ chính đáng để bảo vệ đất nước Na Uy khỏi sư xâm nhập và bành trướng của đạo Hồi. Cả Merah lẫn Breivik, trong hai vụ này, đều tự cho mình cái quyền sinh sát nhân danh các chủ thuyết hay tín ngưỡng của họ. Chinh thái độ cuồng tín ấy làm tôi chợt nhớ tới nhân vật Kaliayev trong vở « Les Justes » của Albert Camus, khiến tôi muốn tìm đọc lại vở kịch này. Nhưng giữa hành động khủng bố của Mahomet Merah và nhân vật Kaliayev trong vở « Les Justes » có sự liên hệ nào ? Trước khi đi vào trả lời, có lẽ ta cần tìm hiểu qua nội dung và ý nghĩa vở kịch của Camus.

Kaliayev là một nhân vật có thật và vở kịch « Les Justes » cũng dựa trên một sự kiện lịch sử có thật : vụ ám sát quận công Serge, nhân vật tiêu biểu cho chế độ độc tài sắt máu Nga Hoàng tại Moscou ngày 17-2-1905. Là thành viên của một tổ chức khủng bố thuộc Đảng Xã Hội Cách Mạng Nga thời đó, Kaliayev được giao sứ mạng liệng bom vào xe chở quận công Serge đê sát hại ông ta. Âm mưu ám sát lần đầu không thành vì bữa đó trên xe, ngoài quận công Serge, còn có  hai đứa cháu nhỏ đi cùng. Kaliayev đã không ra tay hành động vì thấy không thể bắt hai trẻ em vô tội phải hi sinh vô ích. Hai ngày sau, khi chỉ còn mình quận công Serge, Kaliayev đã hoàn thành sứ mạng và bị bắt. Nhất định không khai đồng đội, Kaliayev chịu bi hành quyết khi còn là sinh viên mới hai mươi sáu tuổi. Trong vở kịch, Camus đã giữ nguyên cái tên Kaliayev cùng một vài nhân vật khác, cũng như ông đã tôn trọng diễn biến của hành động khủng bố ám sát. Nhưng Camus đã mượn tên các nhân vật và sự kiện lịch sử này không chỉ cốt để dựng lại lịch sử hay luận về lịch sử, mà chủ đích là để nêu lên một vấn đề nóng bỏng ngày càng được đăt ra ở thời đại chúng ta : Vấn đề phương tiện và cứu cánh trong hành động cách mạng. Hay, cụ thể hơn : Để thực hiện lý tưởng phục vụ con người, ta có quyền tự cho phép làm bất cứ điều gì, kể cả hành động sát nhân, hay ta không thể, vì chủ nghĩa lý tưởng và nhân danh chủ nghĩa lý tưởng, mà cướp đoạt quyền sống tha nhân ? Trong vở kịch, hai nhóm nhân vật đại diện cho hai quan niệm hành động khác nhau đã nói lên quan điểm của Camus về vấn đề này.

Một bên là Stépan đại diện cho nhóm người cách mạng khủng bố chuyên nghiệp, lấy việc xây dựng một trật tự xã hội mới làm cứu cánh và thù hận làm động cơ hành động. Ta có thê gọi họ là những con người cách mạng tha hóa (des révolutionnaires aliénés). Là những robot cách mạng, những con người chỉ có cái đầu mà không có trái tim, họ không tin rằng tham gia cách mạng còn có thể là những con người bình thường và vẫn có thể sống  như một con người bình thường. Bởi vậy ngay buổi hội kiến lần đầu, Stépan đã tỏ vẻ khó chịu trước một vài biểu hiện lạc quan yêu đời của Kaliayev và nghi ngờ về khả năng đi làm cách mạng nơi anh. Rồi tới khi nghe nói Kaliayev tự phong mình là nhà thơ và cho rằng « thơ cũng là cách mạng », y đã lạnh lùng đáp : « Chỉ có bom đạn mới cách mạng » (« Seule la bombe est révolutionnaire. »A.Camus  – Les Justes, p.21.- Folio, Editions Gallimard 1950). Tiếp đến, khi thấy Kaliayev lủi thủi quay về chỉ vì trên xe còn có hai trẻ nhỏ, Stepan đã không ngần ngại quả quyết : « Ngày nào chúng ta quyết định quên đi những đứa trẻ, ngày đó, chúng ta sẽ làm chủ thế giới và cách mạng sẽ thành công. » (Quand nous nous déciderons d’oublier les enfants, ce jour-là, nous serons maitres du monde et la révolution triomphera. » – Sđd. tr. 59). Rồi khi nghe Dora, người yêu của Kaliayev, phản biện :« Ngay cả trong hủy diệt, cần có một trật tự, cần có những giới hạn.» (Même dans la destruction, il y a un ordre, il y a des limites.)  y liền hung hăng kết tội : « Không cần có giới hạn. Sự thật là mấy người không tin vào cách mạng. » (« Il n’y a pas de limites. La vérité est que vous ne croyez pas à la révolution » ; Sdd. tr. 62). Qua một vài mẩu đối thoại trên, ta có thể xếp Stepan thuộc loại con người cách mạng tha hóa. Với những con người như vậy ta không lạ gì nếu, sau khi cách mạng thành công, họ đã khư khư bám lấy quyền hành, dựa vào chủ nghĩa để củng cố quyền hành, để rồi cuối cùng sự đam mê quyền hành đã biến họ trở thành những bạo chúa tha hóa. (3).Ta có thể coi những Staline, những Mao Trạch Đông, những Kim Jong Il hay Polpot đều là những khuôn mặt cách mạng tha hóa thuộc diện này.

Khác với Stépan, ta có thể gọi Kaliayev cùng người yêu Dora là những nhà cách mạng nhân bản (des révolutionnaires humanistes). Họ đến với cách mạng không chỉ với cái đầu  mà còn bằng  trái tim, nghĩa là họ vẫn là những con người còn biết yêu : yêu bản thân, yêu người yêu, yêu đồng loại, yêu cái buồn cái vui, cái thương cái ghét, cái làng cái xóm, cái hoa cái bướm, cái nắng cái mưa… tất cả  những cái bình thường nhưng ý vị  đem lại ý nghĩa cho đời sống trên thế gian này. Đó mới là động cơ thúc đẩy họ gia nhập cách mạng. Ta hãy nghe Kaliayev tâm sự với Dora : « Anh yêu cái đẹp, anh yêu hạnh phúc ! Chính vì vậy anh mới ghét bỏ sự chuyên chế áp bức… Làm cách mạng, dĩ nhiên rồi ! Nhưng làm cách mạng là để vun trồng sự sống, là để tạo thêm cơ hội cho cuộc sống, em có hiểu không ? » (« J’aime la beauté, le bonheur ! C’est pour cela que je hais le despotisme. La révolution bien sûr ! Mais la révolution pour la vie, pour donner une chance à la vie, tu comprends ? » ; Sdd. tr 36). Cũng bởi vậy, nên khi bị Stépan chỉ trích là anh có thể làm hỏng cơ đồ cách mạng chỉ vì muốn buông tha hai trẻ nhỏ, Kaliayev đã thẳng thắn trả lời: « Nhưng tôi, tôi lại yêu mến những con người đang sống trên cùng một  trái đất như tôi. Họ mới là kẻ  tôi muốn chào đón. Vì họ tôi mới đấu tranh, vì họ tôi mới chấp nhận hi sinh. Và tôi không thể nhân danh một thiên đường xa vời không lấy gì chắc chắn để mà đạp lên mặt những  người anh em tôi. Tôi không thể nhân danh một nền công lý chết mà hành động để làm tăng thêm những bất công hiện tại. » (Mais moi, j’aime ceux qui vivent sur la même terre que moi, et c’est eux que je salue. Et c’est pour eux que je lutte et que je consens à mourir. Et pour une cité lointaine, dont je ne suis pas sûr, je n’irai pas frapper sur le visage de mes frères. Je n’irai pas ajouter à l’injustice vivante pour une justice morte. » Sdd, tr. 65). Bởi dấn thân làm cách mạng do yêu mến con người và yêu chuộng công lý  nên Kaliayev đã nhiều lúc bức xúc trăn trở với ý nghĩ phải ra tay sát hại kẻ khác. Nhưng rồi anh cũng tìm ra được giải đáp qua phần thố lộ dưới đây với Dora : « Một ý tưởng làm anh trằn trọc : chúng đã biến chúng ta thành những kẻ sát nhân. Nhưng đồng thời anh nghĩ là anh sẽ chết, thế là tâm hồn anh lắng dịu. Rồi anh mỉm cười và ngủ lại, như một đứa trẻ thơ. » (Une pensée me tourmente : ils ont fait de nous un assassin. Mais je pense en même temps que je vais mourir, et alors mon cœur s’apaise. Je souris, tu vois, et je me rendors comme un enfant.  Sdd. tr, 39)

Về phần Dora, người yêu của anh, tuy chưa phải sống cái bi kịch của con người công chính đi làm cách mạng như Kaliayev, nhưng lại có những âu lo khắc khoải khác. Trước hết là âu lo của một đồng đội. Gia nhập hàng ngũ cách mạng trước Kaliayev và cũng lớn tuổi hơn, Dora đã nhìn sự nhiệt tình hăng say của Kaliayev bằng cặp mắt đùm bọc âu  lo  của người chị với đứa em còn non trẻ . « Ồ ! Yanek. (4) Anh nên biết, anh cần phải được cảnh báo. Một con người dẫu sao cũng là một con người. Quận công (lúc đó) có thể đang có tia nhìn cảm thông. Có thể anh sẽ thấy ông ta đang gãi tai hay cười nụ vui vẻ. Biết đâu trên mặt ông ta  lại chẳng có một vết xước dao cạo. Và biết đâu lúc đó ông ta lại chẳng nhìn anh… » (Oh ! Yanek, il faut que tu saches, il faut que tu sois prévenu !Un homme  est un homme. Le grand-duc a peut-être des yeux compatissants. Tu le verras se gratter l’oreille ou sourire joyeusement. Qui sait, il portera peut-être une petite coupure de rasoir. Et s’il te regarde à ce moment-là… Sdd ; tr.42). Cũng tham gia cách mạng như Kaliayev, nhưng từng trải hơn, kinh nghiệm hơn, nên Dora biết nhìn ra cái cạm bẫy mà Kaliayev có thể gặp phải : Khi ta trừu tượng hóa đối tượng đấu tranh bằng một ý niệm, bằng một biểu tượng cho sự bát công áp bức ta có thể chém giết không gờm tay. Nhưng khi phải đối diện một con người bằng xương bằng thịt với một vài điệu bộ của một con người bình thường – như ta – thì chính những biểu hiện bình thường ấy đã làm ta phải ngần ngại. Cái tuyệt tác của văn chương Camus là thế đó. Là ở chỗ ông đã khéo chọn thể loại kịch để khai thác khả năng truyền đạt của ngôn ngữ kịch trong những trạng huống đặc biệt. Chỉ bằng một vài mẩu đối thoại nho nhỏ, đôi ba chi tiết cỏn con, ông cũng cho ta thấy được khoảng cách vời vợi giữa những kẻ đầu cơ cách mạng để thực hiện tham vọng ngông cuồng của họ, và  những con người chân chính đến với cách mạng chỉ vì tha thiết với cuộc sống và qui trọng con ngừoi.

Nhưng Dora không chỉ có là đồng đội mà, trước hết, còn là một người đang yêu và được yêu. Bởi vậy nàng mới phải sống một thảm kịch riêng. Nếu như Kaliayev, bằng  hi sinh tính mạng, đã có thể an tâm lên đường làm Kinh Kha tráng sĩ hề một đi không trở lại, thì Dora, trong cương vị người yêu bất lực, lại phải sống thấp thỏm lo âu trước viễn ảnh cuộc tình có thể vĩnh viễn dở dang. Bởi vậy tuy không muốn làm cho Kaliayev phải anh hùng khí đoản, Dora cũng có lúc không trấn áp nổi cái nhi nữ thường tình của mình : « Máu đã đổ nhiều quá, bạo lực cũng nhiều quá. Những kẻ thực tình yêu công lý lại không được quyền hưởng lạc thú yêu đương. Họ phải đứng đậy như em, cái đầu ngửng cao, cặp mắt nhìn thẳng. Liệu có chỗ đứng nào cho tình yêu trong những trái tim kiêu hãnh này ? Tình yêu làm cho cái đầu mềm mại cúi xuống, Yanek. Vậy mà anh và em, chúng ta cứ phải ngửng cổ cao. » (Il y a trop de sang, trop de dure violence. Ceux qui aiment vraiment la justice n’ont pas droit à l’amour. Ils sont dressés comme je suis, la tête levée, les yeux fixes. Que viendrait faire l’amour dans ces cœurs fiers ? L’amour courbe doucement les têtes, Yanek. Nous, nous avons la nuque raide. Sdd. tr,84). Rồi khi nghe Kaliayev tìm lời an ủi : « Nhưng chúng ta yêu nhân dân… (Vì nhân dân) chúng ta cho hết, hi sinh hêt mà không hi vọng được đền bù, đó chính là tình yêu » (Mais nous aimons notre peuple… Mais c’est cela l’amour, tout donner, tout sacrifier sans espoir de retour. Sdd ; tr.84), nàng đã trút hết nỗi lòng bằng những lời hầu như nức nở : « Có thể. Đó chính là tình yêu tuyệt đối, niềm vui tinh khiết và cô đơn, và đó cũng là cái đang nung nấu trong em. Tuy nhiên cũng có lúc em tự hỏi liệu tình yêu có thể là một cái gì khác thay vì chỉ là những lời độc thoại (5)  và liệu, đôi khi, cũng có được câu trả lời. Anh biết không, câu trả lời đó em mường tượng như sau : ánh nắng lung linh, đôi mái đầu từ từ cúi sát, con tim từ bỏ niềm kiêu hãnh, những cánh tay mở rộng. Ôi ! Yanek, nếu chúng ta có thể quên đi, dù chỉ là một giờ thôi, quên đi những thống khổ trên thế gian này để được cùng nhau sống buông thả. Quên đi để được sống ích kỷ với nhau chỉ trong một giờ ngắn ngủi thôi. Anh ! anh có nghĩ như vậy không ? » (Peut-être. C’est l’amour absolu, la joie pure et solitaire, c’est celui qui me brûle en effet. A certaines heures pourtant, je me demande si l’amour n’est pas autre chose, s’il peut cesser d’être un monologue, et s’il n’y a pas une réponse, quelquefois. J’imagine cela, vois-tu : le soleil brille, les têtes se courbent doucement, le cœur quitte sa fierté, les bras s’ouvrent. Ah ! Yanek, si l’on pouvait oublier, ne fût-ce qu’une heure, l’atroce misère de ce monde et se laisser aller enfin. Une seule petite heure d’égoïsme, peux-tu penser à cela ? Sdd. tr,84-85).

Vở kịch, như chúng ta đã biết, kết thúc bằng cái chết của Kaliayev. Hành động hi sinh quả quyết của anh đã làm thay đổi cách nhìn của Stépan khiến y biết cảm thông. Bởi vậy tuy được chỉ định thi hành sứ mạng kế tiếp, nhưng trước cái đau  khổ tuyệt vọng của Dora, y đã nhường vinh dự ấy cho Dora để nàng có cơ hội được gặp lại người yêu ở một thế giới tốt đẹp hơn. « Les justes » do đó không chỉ có là bi kịch lịch sử, mà còn là bi kịch con người trong lịch sử hay, đúng ra, là bi kịch của thân phận những con người còn là người. Những con người biết thương biết ghét, biết vui biết buồn, biết sướng biết khổ, biết yêu biết hờn… nghĩa là tất cả những gì đem lại  ý nghĩa cho đời sống con người trong một thế giới còn mang chiều kích con người. Riêng với những con người ở tuổi thanh xuân, thử hỏi có bi kịch thân phận nào bi đát hơn là bi kịch  tình yêu ? Bởi vậy Camus đã không quên mượn câu thơ của Shakespeare trong vở  Roméo et Juliette  : « O love ! O life ! Not life but love in death » (Ôi tình yêu ! Ôi cuộc sống! Không phải sự sống mà là tình yêu trong cõi chết.)  để mở đầu cho vở kịch của ông . Với câu thơ này phải chăng Camus còn muốn nhắc nhở ta rằng sau mỗi biến động lịch sử, nếu như –  vâng nếu như – đời sống xã hội có được phần nào cải thiện thì những người đang sống hôm nay chớ nên quên rằng những gì họ đang thụ hưởng đã được tạo nên bằng máu và nước mắt của những Dora, những Kaliayey, những con người công chính (les justes) quảng đại, không biết sống cho mình nhưng sẵn sàng dâng trọn tuổi thanh xuân để mong vun xới cho cây đời thêm được xanh tươi. (6)

Hai mươi năm đã trôi qua sau bài viết đầu tiên nói lên những cảm nghĩ của tôi khi được đọc vở “Les justes” của A. Camus. Hai mươi năm sau, khi đọc lại tôi càng thấm hơn và, với ánh sáng của các biến cố thời sự hàng ngày, tôi phát hiện  được rằng  Camus không phải nhà văn chỉ có luận  về phi lý. Trái lại ông còn là nhà văn nhân bản mà những suy tư về các vấn đề con người vẫn luôn luôn hiện đại. Và nhờ có đọc lại, tôi phát hiện thêm rằng : Văn chương không chỉ là sản phẩm của trí tuệ và cảm xúc chỉ nhằm phục vụ nhu cầu giải trí. Nó lại càng không phải  là công cụ để phục vụ cho những chế độ theo chủ nghĩa hay những tham vọng quyền lực. Văn chương đích thực chính là nỗ lực vươn lên không mệt mỏi của ý thức để tìm kiếm những giá trị mới đem lại một ý nghĩa mới cho dòng đời không hề ngưng đọng.Và văn chương càng có giá trị cao chừng nào khi nó càng được bám rễ sâu vào thực tại cuộc sống chừng nấy. Hàn Lâm Viện Thụy Điển quả đã không lầm  khi trao tặng Camus giải văn chương Nobel 1957 như là để tưởng thưởng “một công trình văn học đã đưa ra ánh sáng những vấn đề đặt cho lương tri con người ở thời đại chúng ta” (… pour couronner une oeuvre qui met en lumière les problèmes se posant de nos jours à la conscience des hommes. Theo Lagarde & Michard, XXè siècle, p. 616) Tôi mong sẽ còn dịp  trở lại với Camus để nói về một vài tác phẩm khác của ông. Tôi cũng mong sẽ có những đóng góp khác của các vị học giả uyên bác, các nhà phê bình chân chính, các bậc giáo sư tiến sĩ có thẩm quyền để cùng độc giả ra khỏi những lối mòn lầy lội và tạo điều kiện cho chúng ta được hiểu sâu hơn, hiểu rộng hơn về một nhà văn mà giá trị tư tưởng đã được thế giới công nhận.

Nguyễn Bảo Hưng
Nguồn: Tác giả gửi

(1) Nguyễn Văn Lục: “20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975”–  Hợp Lưu số 79 Tháng 10&11 năm 2004, tr.69

(2) Bài viết mang tựa đề “Cách mạng bạo động và cách mạng nhân bản qua vở Les justes của Albert Camus”, đọc khoảng đầu năm 1992 hay 1993, vì đã lâu ngày tôi không nhớ rõ. Bài viết ngắn hơn, thuần văn học hơn, ít mang tính chất thời sự hơn.

(3) Tôi chỉ mượn hình ảnh của Stépan trong phần đầu của vở kịch dùng làm biểu tượng cho con người cách mạng tha hóa mà thôi. Thực ra trong vở kịch Stépan không hoàn toàn như vậy.

(4) Dora quen dùng tên này để gọi thân mật Kaliayev.

(5) Độc thoại của những kẻ khủng bố ôm bom chờ đợi trong bóng tối miệng lẩm bẩm với những câu hỏi, những hồi hộp, những lo âu của mình.

(6) Dora trong vở kịch này làm tôi nhớ tới bác sĩ Đặng Thùy Trâm với tập nhật ký của chị, đặc biệt doạn văn sau đây trong thư gửi người yêu :”…Em nghe rồi, nhưng vẫn có lúc nào đó trong hai tràng tiếng nổ em nghe tiếng thì thầm của trái tim… Đó là khuyết điểm không thì tùy người đánh giá… Anh có khỏe không? Mong anh được bình an và khỏe, mãi mãi là người giải phóng quân cầm súng mà tâm hồn không phải chỉ có lửa đạn…” (Trích đoạn lấy lại trên trang mạng “Tin tức Bình Phước- www.binhphuoc.org.). Về phần Kaliayev, được chết trong niềm tin tưởng lạc quan, tôi cho rằng Kaliayev đã có số phận may mắn hơn nhân vật Kiên trong “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh : Sống sót sau những hi sinh mất mát, những cái chết bi thảm của đồng đội, rồi còn phải chứng kiến những cảnh đời phơi bày sự khoe khoang hợm hĩnh xấc xược trong thời hậu chiến, Kiên chi biết đi tìm an ủi và niềm vui bằng ẩn náu trong quá khứ, “ bởi vì nhờ thế mà anh vĩnh viễn được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng, những ngày bất hạnh nhưng chan chứa tình người (in đậm do tôi, NBH), những ngày mà chúng ta biết tõ vì sao chúng ta cần phải bước vào chiến tranh, chúng ta cần phải chịu đựng tất cả. Ngày mà tất cả đều còn rất son trẻ, trong trắng và chân thành.” (Bảo Ninh : “Nỗi buồn chiến tranh” – Nhà Xuất Bản Hôi Nhà Văn 1991, tr. 283)

Nguyễn Mạnh Trinh


Thi sĩ Khoa Hữu (1938-2012)

Khoa Hữu là một chân dung thi sĩ đặc biệt. Ông sinh sống và viết văn làm thơ ở Việt Nam nhưng cả ba tác phẩm của ông đều xuất bản ở hải ngoại. Thi phẩm đầu tiên là tập thơ Luc Bát do nhà xuất bản Trình bày và nhà thơ Diễm Châu ấn hành tại Pháp năm 1994. Tập thơ thứ hai, Thơ Khoa Hữu, do nhà xuất bản Văn Học xuất bản ở Hoa Kỳ tháng 11 năm 1997. Và thi tập thứ ba, Nửa Khuôn Mặt, do Thư Ấn Quán xuất bản năm 2010.

Tại sao lại có hiện tượng như thế? ở trong nước không in ấn để thi sỉ phải chọn một phương cách quá nhiêu khê phiền toái để cho những đứa con tinh thần của mình chào đời. Có phải đó là một sự kiện “vượt biên văn học” để người cha cho đứa con vượt qua bao nhiêu bờ bãi để tìm “ tự do”? Có phải đó là những thông điệp của người ở lại gửi gấm tâm sự mình.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…” (Tạ Phong Tần, thành viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)

Lâu rồi, có bữa, tôi nghe nhà văn Vũ Thư Hiên (bùi ngùi) nhắc lại một kỷ niệm buồn ở Bất Bạt – Sơn Tây:

“Nơi tôi được đưa đến là một trại giam quân đội… Trên cái bàn gỗ mộc bụi bặm và mốc thếch lăn lóc mấy tờ Quân Đội Nhân dân nhàu nát. Tôi vồ lấy chúng, đọc ngấu nghiến để rồi thừ ra, thất vọng – tin tức trong báo chả nói với tôi điều gì mới.”
(more…)

Đinh Tấn Lực

Có bao nhiêu vô ích làm nên lịch sử
(Lê Bi – 1990 – Tự thân)

Năm nhuần, theo lịch tây, chỉ thêm mỗi ngày 29 cho tháng Hai. May thay! Bằng không, tính theo lịch ta, năm nhuần nhồi thêm nguyên cả tháng, mà như năm nay, đến những 2 tháng Tư. Chết dở, với biết bao hoài niệm!

Người ta thường nháy mắt pha trò: Bao giờ cho tới tháng Mười? Lại lắm kẻ nghiêm mặt hỏi: Bao giờ cho hết tháng Tư? Nghe thoáng cứ như thêm một vết dao cùn cứa thành sẹo mới, trong tim, hàng năm.

Mọi chữ “nếu” đều có cái giá của nó. Có cái có thể trả ngay bằng tiền tươi. Có cái được trả bằng tương lai (bị nhấn ngược vào quá khứ) của một dân tộc. Thành ra, mơ rằng “Nếu VN chẳng có 30 tháng Tư” thì không khác nào nằm mộng “Nếu Kampuchia chẳng có những cánh đồng sọ người”.
(more…)

Đỗ Xuân Tê
Tháng tư nhìn lại…

Nhớ lại vài năm trước nhân ba mươi lăm năm nhìn lại tháng tư đen, hình ảnh gây ấn tượng nhất đối với tôi vẫn là buổi lễ trang trọng được các giới chức Hải quân Mỹ và quan chức địa phương tổ chức trên Hàng không mẫu hạm Midway, một bảo tàng nổi về lịch sử chiến tranh, hiện thả neo cố định tại vùng vịnh San Diego từ nhiều năm nay.
(more…)

Lê Thương

Dân Việt Nam ta vốn có hồn thơ lai láng nên ngoài những mẩu chuyện châm biếm đả phá chế độ cộng sản, họ còn sáng tác rất nhiều vần thơ và ca dao nói lên những hoàn cảnh sinh hoạt bi ai cũng như tâm tư uất hận của người dân dưới chế độ bạo tàn. Dĩ nhiên những vần thơ “quốc cấm” này đều khuyết danh, chỉ được lén lút học thuộc lòng rồi thì thầm rỉ tai cho nhau nghe nên được gọi là “thơ chui”. Những vần thơ chui đôi khi dí dỏm khiến người nghe phải tủm tỉm cười thầm hay ôm bụng cười sằng sặc hoặc đôi khi não nùng thống thiết bày tỏ tinh thần chống đối chủ nghĩa cộng sản đem lại đói khát, khổ đau, nhục nhã cho người dân sau ngày chúng cưỡng chiếm Miền Nam.
(more…)

Phạm Khắc Trung

Lúc tôi mới đến Pulau Galang, trại tỵ nạn có khoảng 15 barrack, nhưng chỉ mới có 12 barrack là có người ở, đại đa số là người Việt gốc Hoa.

Chúng tôi được rải vào barrack 1, điền vào chỗ trống cho những người đã được đi định cư, nên những người đến sau tưởng tôi là một trong 1000 người đầu tiên đặt chân lên đảo.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh


Rainy night – Liz Wiltzen

Ðêm hôm qua. Mưa lớn. Nằm nghe những hạt mưa rơi trên mái, trong cái ẩm lạnh của đất trời tự nhiên không ngủ được. Thức giấc trong cái không gian mênh mông, thấy cuộc đời qua đi với nỗi bàng hoàng khi nhìn về tháng ngày đã trải. Bao nhiêu cơn mưa trong đời. Ở những nơi chốn nào, tuy xa xôi mà gần gũi. Bao nhiêu tháng tư, từ chiều mưa sấm sét cuồng nộ của Sài Gòn ngày tổng thống Dương Văn Minh lên nhậm chức và cũng là lúc tên phi công phản bội Nguyễn Thành Trung đánh bom căn cứ Tân Sơn Nhất. Bao nhiêu những chiều mưa và bao nhiêu những sáng nắng. Làm sao quên buổi chiều hôm đó, khi cơn giông tối thẳm của bầu trời Sài Gòn, khi quốc gia đang trong những ngày bi đát và tôi đứng trong hangar nhìn những chiếc A37 thả bom phi trường. Buổi sáng tôi vừa tiễn mẹ tôi và gia đình ra đi, trong lòng đang hoang mang giữa đi và ở thì bây giờ tưởng như mình đang đứng giữa cơn giông tố cuộc đời. Mưa, những cơn mưa hay là giọt lệ của trời. Gió, hay là những sợi lạnh buốt làm tê điếng làn da….
(more…)

Phạm Khắc Trung

Ông Tú Ngang có bài thơ “Vịnh lá đa”, đăng trong một kỳ nhật báo vào khoảng những năm đầu của thập niên 70 như sau:

Là con đỏ hay vua cũng thế,
Người người do một cửa mà ra.
Thưa rằng cửa ấy lá đa,
Có lá đa mới có ta có người.

Cái khéo của ông Tú Ngang ở chỗ đã lựa chọn từ ngữ để sắp xếp thành một bài thơ mang tính chất trào lộng, lại nói lên một sự thực hiển nhiên là mọi người đều được sinh ra bởi người mẹ, và lúc sinh ra đều bình đẳng như nhau.
(more…)

Thiếu Khanh


Tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

Người Nhật lãnh 2 trái bom nguyên tử, năm năm lao đao cùng động đất sóng thần, bị người Tàu hù muốn đái trong quần mà vẫn làm được chuyện vĩ đại trên cả vĩ đại. Những con ếch ngồi đáy giếng tự sướng với mấy ngàn năm văn hiến, coi lại mình chút.” (Từ một Email nhân có một clip 10.000 người Nhật hợp xướng Bản giao hưởng số 9 của Beethoven)

Mười ngàn người hợp xường bài nhạc này của Beethoven có nghĩa là có thể có mười triệu người, hoặc toàn thể dân Nhật đều quen thuộc và biết thưởng thức bài nhạc này. Hiển nhiên là trình độ văn hóa của họ thật cao.
(more…)

Đỗ Xuân Tê

Sau 75, đất nước có nhiều biến đổi. Tuy lãnh thổ qui về một mối, nhưng lòng người lại khởi sự ly tan. Ly tan không hẳn là người ta không thích chế độ mới hoặc ghét bỏ gì những kẻ ở bưng biền về, mà vì họ từng bước bị đưa đẩy đến bước đường cùng, dần dà trở thành kẻ thù của chế độ. Bài viết sau đây như nhắc nhớ những ngày ‘tháng tư nắng úa’ và kiểm lại xem ai là những kẻ bị lừa. Bài viết có phần chủ quan, thiếu sót, nhưng hy vọng có sự đồng điệu giữa người đồng cảnh. Phần xếp đặt dựa theo thời điểm từ đêm 30-4 lúc Sài-gòn hấp hối đến khi đi tập trung cải tạo vào giữa tháng 6. Các đối tượng, nhân vật, bối cảnh đươc chọn mang tính chất tiêu biểu dễ nhận diện.
(more…)

Tưởng Năng Tiến


Hòn đá bị cưỡng chế (Ảnh: phunutoday.vn)

Tôi nghe nhà văn Nguyễn Khải kể chuyện làng quê ở nước mình mà thấy bất an, và bứt rứt:

“Trong mấy ngày xuống xã vừa vui vừa buồn. Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay.
(more…)

Trangđài Glassey-Trầnguyễn


Nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang hát trong chương trình “Vết thương vô diện Hòa bình vô danh”

Giỗ đầu Nguyễn Đức Quang. Mưa. Trời lạnh. Một đêm đông nấn ná. Một đêm xuân chưa thành.

Vì lý do sức khỏe, tôi nén lòng, không đến dự lễ giỗ được. Đây không là một sinh họat mở cửa, mà chỉ giữa một nhóm thân hữu, những người yêu quý Du ca Nguyễn Đức Quang. Tôi muốn đi lắm. Nhất là vì lời mời thiết tha của Cô Chú Hoàng Ngọc Tuệ và Hoàng Vĩnh, đôi chim đầu đàn, vốn luôn gắn bó và chăm chút cho Phong trào Du Ca từ những ngày đầu tiên cho đến tận hôm nay. Dược sĩ Hoàng Ngọc Tuệ chính là Chủ tịch đầu tiên của Phong Trào Du C­a Việt Nam, và đã dùng tư gia ở Sàigòn để làm nơi sinh hoạt cho Phong trào từ thời phôi thai.
(more…)

Tưởng Năng Tiến


Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Tranh: hoạ sĩ TTLan

Những trại cải tạo lao động mà tôi đã sống qua, hồi cuối thập niên 1970, đều không có điện. Mọi sinh hoạt, do vậy, được phân chia rõ rệt: từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lặn là thời gian dành cho “công tác.” Giữa khoảng thời gian này, trại viên được “tùy nghi.”

Phải sống trong cảnh tối tăm mới thấy đêm dài, nhất là những đêm đông. Có đêm, tôi khều thằng bạn nằm bên – hỏi nhỏ:

– Theo mày thì lúc nào, hay nơi nào, được coi là hạnh phúc nhất trên đời này?

– Bắc Mỹ Thuận!
(more…)

Phạm Khắc Trung


Thi sĩ Tạ Ký (1928-1979)

Tôi chuyển từ khoa Kỹ Thuật sang khoa Kinh Tế Quản Trị trong điều kiện hết sức éo le: Viện Đại Học Cửu Long đã khai giảng được hơn một tháng, Ban đại diện sinh viên đã bầu bán xong, và các nhóm học tập đã chia ra đâu vào đấy.

Thấy nhóm học tập của anh Liêu Quốc Vinh còn trống, GS phụ khảo Vương Đằng đề nghị cho tôi nhập chung vào, thành thử nhóm có 4 người gồm: Vương Đình Phương, Nguyễn Văn Lộc, tôi, và Trưởng nhóm Liêu Quốc Vinh.

Sáng sớm tuần thứ hai đi học, Phương, Lộc và tôi đang ngồi uống cà phê vỉa hè ngoài cổng trường thì Vinh ghé lại. Mặt hằn học, Vinh thẩy xấp giấy ca rô viết tay vào lòng Phương, miệng cay cú thốt, “Bài thuyết trình tôi đã soạn xong đây, trưa nay tới phiên mấy ông lên thuyết trình!”
(more…)

Nguyễn Khôi
Tặng Ts. Nguyễn Văn Hoa


Thi sĩ Phan Khôi (1887-1959)

Thi thoại là “Sách bình luận thi văn hoặc chép chuyện Thi nhân”. Đó là một dạng Phê bình thơ, xuất hiện từ đời Tống: Âu Dương Tu (1007-1072) có “Lục nhất thi thoại” cùng nổi tiếng với “Thạch Lâm thi thoại” của Diệp Mộng Đắc. Sau này sáng giá nhất là “Tùy Viên thi thoại” của Viên Mai (1716-1797).
(more…)

Lê Phùng

Trịnh Công Sơn qua đời năm 2001. Người Saigon đưa tiễn ông đông chỉ thua đám tang Phan Chu Trinh. Ảnh hưởng quá lớn của Trịnh Công Sơn không qua khỏi mắt bộ máy tuyên truyền của nhà nước Cộng Sản. Một chiến dịch đối phó với con người nguy hiểm này ra đời.

Bước thứ nhất: Cho phép phổ biến tình khúc Trịnh Công Sơn nhưng cấm ngặt ca khúc Da Vàng.
(more…)

Huyền Chiêu


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001)

NẮNG THỦY TINH

Năm 1967. Nàng là cô gái mới lớn đầy mộng mơ “qua công viên mắt em ngây tròn”. Trong giấc mơ của nàng có công chúa và hoàng tử. Nàng sống ở một thành phố biển miền trung. Cuối tuần, nàng đi xem phim nói tiếng Pháp có Tony Perkin, Steve Mc Queen, Audrey Hepburn… Đất nước đang có chiến tranh nhưng nàng không quan tâm vì chiến tranh ở quá xa và vì bộ máy tuyên truyền ở miền nam quá yếu. Ở trường, nàng không được học về lịch sử Việt Nam cận đại. Nàng hiểu rất mù mờ về tình trạng của đất nước và không hiểu tại sao anh em lại cầm súng giết nhau. Nàng yếu đuối như con sâu đo, quanh quẩn trong đám cỏ xanh, mặc cho bầu trời sấm chớp báo hiệu một cơn lũ sắp tràn qua nhấn chìm tất cả.
(more…)

Đỗ Xuân Tê


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001)

Hơn mười năm kể từ ngày mất của Trịnh công Sơn (1-4-2001), người ta nhắc nhiều, viết nhiều, nghe nhiều về huyền thoại TCS và ngày càng được nhân lên theo chiều hướng ngưỡng mộ, cảm thương cho một tài hoa âm nhạc. Nhưng vài năm về sau tên tuổi ông lại được nhắc nhớ và ‘bùng nổ’ theo chiều hướng gây tranh cãi từ khi có bài viết của Trịnh Cung, một người bạn cũng là một tài năng hội họa được coi là khá thân tình với TCS. Bài viết mang tựa đề, “Trịnh Công Sơn & Tham vọng chính trị”.
(more…)

Khuất Đẩu


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001) – Tranh sơn dầu của Đinh Cường

Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã giữa tim người
(Sóng về đâu? – TCS)

Khi Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ tài hoa nhất mà cũng bất hạnh nhất, suốt một đời dài giữa gió đồng vi vu đã tìm dược một nơi trăng mờ quê cũ, thì cũng là lúc những ồn ào không đáng có, những giành giựt níu kéo, những bè nhóm hơn thua quật đập suốt ngày đêm trên biển đời lao xao sóng vỗ.
(more…)

Phạm Khắc Trung

Trước ngày “dải phóng”, tôi cũng có “Đào” như ai vậy. Mẫu người tôi chọn thuở đó phải biết xí xọn, lí lắc, và có một chút “điêu ngoa” theo lối diễn tả của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, “Em hãy giữ tính tình con gái bắc / Giấu điêu ngoa trong dáng điệu ngoan hiền” vậy. Đẹp mấy mà hiền queo, tôi cho là khờ hổng chấm.

Tiêu chuẩn người yêu của tôi chọn như vậy, dĩ nhiên cổ quay tôi như quay dế. Mà ngộ ghê nha. Biết bị quay, nhưng tôi vẫn “như con thiêu thân lao vào lửa ngọn”, tìm hạnh phúc trong những cơn quay túy lúy điên cuồng.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm


Nhà văn, nhà thơ Nguyễn Mai (1944-2006)

Những cơn gió man dại tràn qua, lan rộng trên một vùng không gian đồi núi loáng thoáng những giọt cà phê đen ngập ngừng rót nhẹ vào hồn, vỗ về sự tỉnh thức của một tiềm thức đầy rẫy chông gai trên đoạn đường đời vừa bước qua. Nguyễn Mai ngồi tâm sự cùng tôi tại một quán cóc gần Lăng Ông Lê Văn Duyệt, giữa buổi trưa cuối năm 1997, trước sự biến đổi của đời mình. Anh cho biết đã lập dựng gia đình trên Buôn Mê Thuột và cai quản một vài mẫu cà phê, sống đạm bạc giữa gió núi cây ngàn. Nguyễn Mai cho rằng định số chắc đã an bài cho anh một giai đoạn hòa lắng tâm hồn trong bối cảnh thiên nhiên. Xa xa là bạt ngàn cây cỏ, và tiếng chim rừng le lói tận bản sóc, lại là nơi ổn định thân tâm thanh tịnh, bù đắp những ngày lang bạt phá phách suốt khoảng đường cơ cực tuổi thanh niên.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Vợ tui người miền Nam, quê quán ở tuốt luốt dưới Gò Quao hay Tắc Cậu gì đó. Hồi mới cưới, khi tui còn nhan sắc, nàng mê tui gần chết nên lúc nào cũng hớn hở và vui … như Tết – dù phải sống (chung) với mẹ chồng!

Có bữa, má tui phán ngang “sao tao thèm ăn cá rán quá” hà. Bà già vừa dứt câu là nàng dâu le te xách giỏ chạy ra chợ cấp kỳ. Mấy tiếng đồng hồ sau, nàng thất thểu quay về. Mặt xụi lơ:

“Em đi hỏi tùm lum khắp nơi mà không đâu có ‘cá rán’ hết trơn. Chợ nào cũng chỉ bầy bán cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá lòng tong, cá mú, cá hú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá dứa, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bống kèo, bống dừa và bống đá – thôi hà. Tội nghiệp má quá anh à!”
(more…)

Lan Hương


Nhà thơ Bùi Chí Vinh nhập vai đại ca trong phim Bốn thí nghiệm trong đêm tân hôn của hãng phim Chánh Tín

Tôi quen biết Bùi đại ca khi anh ở bộ đội về. Tôi quen anh đơn giản vì tôi là cô bạn gái của người bạn thân anh, vì vậy tôi có thể hiểu biết đôi điều về con người của anh. Bạn anh nói rằng Bùi đại ca vào bộ đội bất ngờ thì khi rời khỏi bộ đội cũng bất ngờ không kém. Cũng chỉ vì bản tính khí khái của nhà thơ thích đời sống Lương Sơn Bạc mà anh dám tấn công viên chỉ huy của mình để cứu những người bạn cùng đơn vị thoát khỏi sự trù dập độc ác của vị sĩ quan cấp trên mình. Hậu quả của hành động liều lĩnh đó là anh bị giam 3 tháng ở quân lao, bị tước quân tịch và may mắn anh còn được trở lại đời thường để trở thành một nhà thơ bất đắc chí lang bạt giang hồ làm thơ cho dân nghèo.
(more…)

Đinh Vũ Hoàng Nguyên


Đinh Vũ Hoàng Nguyên (1975-2012)

Nhà văn, nhà thơ và họa sĩ Đinh Vũ Hoàng Nguyên vừa mới qua đời vì bạo bệnh ngày 23/3/2012, đúng ngày sinh nhật 37 tuổi của ông. Ngoài lãnh vực VHNT, ông còn được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ qua những đoạn Viết ngắn mang đậm tính châm biếm thời sự chính trị xã hội đăng trên facebook và blog laothayboigia của ông.

Viết ngắn 57

Nhà văn Nam Cao tả Chí Phèo: “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu chửi trời. Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời. Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai”

Đỗ Trung Thoại – Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng khẳng định việc ngôi nhà ông Đoàn Văn Vươn bị phá là do nhân dân bất bình với việc làm của ông Vươn. Thế cũng chẳng sao: nhân dân là tất cả nhưng chẳng là đứa nào.

Địt mẹ, ai dám bảo ăn nói như Chí Phèo thì đéo làm được quan to nào???
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà thơ Bùi Chí Vinh

Lương Sơn Bạc, hình như đó là chốn sơn cùng thủy tận?

Lương Sơn Bạc (chứ không phải Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài uyên ương mút mùa lệ thủy) một địa danh, được người đời mãi nhắc vì nó là hiểm địa được trấn giữ bởi 108 vị, nhân dân tôn tụng hai chữ anh hùng, ngược lại triều đình “đương đại” bực bội nực nội gọi một trăm linh tám đứa phản động mưu toan lấy tiền của đại gia đi chia sớt cho kẻ khố rách áo ôm (Cái bang đâu lắm thế!). Nghĩa cử đậm chất Robin Hood ấy văn bản luật pháp ghi rõ: Phá rối trị an. Hình phạt nhẹ: Cởi quần quất 100 hèo vào mông đít, phạt 200 lạng bạc dằn mặt. Hình phạt nặng: Tứ mã phanh thây (chứ không phải tứ mã nan truy).
(more…)

Nguyễn Quyết Thắng


Cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và tác giả

Thấm thoát đã một năm trôi qua ngày Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của Phong Trào Du Ca Việt Nam lìa bầy ngày 27-03-2011, nhân dịp giỗ đầu của anh, hồi tưởng lại những sinh hoạt thân thương mà chúng tôi đã có, tôi viết lên đây 1 kỷ niệm tuy thật nhỏ bé, chả có gì gọi là đặc biệt, thế nhưng nó là sự khởi đầu của tôi dính liền với phong trào du ca nói chung và với Nguyễn Đức Quang nói riêng , đã ăn sâu một nền văn nghệ cộng đồng trong tôi và kéo dài mãi cho đến hôm nay, mảnh kỷ niệm này anh NĐQuang vẫn luôn nhớ và đã kể lại cho tôi cùng các bạn nghe trong lần họp mặt ” 30 Năm Sinh Hoạt Cộng Đồng ” tại Cali năm 1997, và tôi cũng có dịp kể lại cho anh và các bạn nghe lại trong buổi văn nghệ ” Tình Ca Ngưỡi Hát Rong ” tại Hòa lan năm 2010 trong dịp anh đi thăm Âu Châu cùng bằng hũu, hôm nay một lần nữa, tôi ghi lại đây với tất cả lòng qúi mến và thương nhớ tới người anh tinh thần NĐQuang của tôi đã muôn trùng xa cách. (Nguyễn Quyết Thắng)
(more…)

Đỗ Xuân Tê

Một trong những bài hát được lính và người yêu của lính yêu chuộng nhất vào đầu thập niên 70 phải nói là bài ”Kỷ Vật Cho Em”. Tuy được yêu thích, nhưng bài hát cũng gây nhiều tranh cãi. Tranh cãi về nội dung, xôn xao về tác giả và nếu không có cách nhìn cởi mở của một ông tướng đầu ngành tâm lý chiến thì bài hát đã nằm chung trong danh sách những bài hát bị cấm phổ biến trong quân đội.
(more…)

Nguyễn Minh Thanh


Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam (1927-1975)

Vào khoảng giữa năm 1993, như các anh em cựu tù Chính Trị, tôi làm thủ tục xuất cảnh cả gia đình theo diện HO (có người nói diện H, không có O) để đi Hoa Kỳ. Ở Miền Tây, chúng tôi phải lặn lội lên Sài Gòn làm giấy tờ, khám sức khỏe… Anh bạn tù rất thân tình là Nguyễn Khoa Phiên, được thả về trước, sống ở Sài Gòn. Anh có họ hàng rất gần với Tướng Quân Nguyễn Khoa Nam, anh cho biết là Tro Cốt Tướng Nam được thân nhân gởi thờ ở Quảng Hương Gìa Lam. Chúng tôi bàn nhau, tiện dịp sẽ cùng đi viếng Tro Cốt Tướng Nam và chào Tướng Quân trước khi xuất cảnh để Tị Nạn Chính Trị. Và ngày ấy đã tới.
(more…)