Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự’ Category

Hoàng Kim Oanh

Cuộc gặp gỡ đầu năm 2019, cũng là lần đâu tiên tôi gặp nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, tác giả gần 50 truyện ngắn ấn tượng cũng như nhiều bài nghiên cứu phê bình sâu sắc về các cây bút miền Nam mà tôi thường xuyên tham khảo từ gần 10 năm nay trên trang vanchuongviet và tìm được nhiều thông tin, nhận định vô cùng đúng đắn, giá trị trong cái thời buổi ”văn chương đồng phục”, “văn chương khẩu hiệu”, “văn chương phải đạo” này. Một số bài viết của tôi cũng từng trích dẫn tài liệu tham khảo/ý kiến nhà phê bình Nguyễn Lệ Uyên…

Sau này, đều đặn… mỗi tháng 2 kỳ, một đàn anh ở nửa vòng trái đất bên kia Thái Bình Dương, phụ trách trang T.Vấn và bạn hữu, gửi vào inbox cho tôi… tác phẩm Nguyễn Lệ Uyên gần như đầy đủ…
(more…)

Phạm Quốc Bảo

“Kìa xem mọi thứ đều thay đổi
Còn lại nhân gian một chút tình”

Hôm nọ, sẵn dịp sọan từ 8 tủ sách trong nhà để lựa ra một số dự định sẽ tặng lại cho thư viện của Viện Việt Học hay thư viện của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (VHM Our Pride), tôi tình cờ nhìn thấy cuốn CHỚP BIỂN, Thơ Bùi Giáng, gia đình ông đã in vào năm 1996 để kỷ niệm 70 năm sinh của tác giả này và do anh Bùi Vịnh tặng cho tôi. Ngay ở trang mở đầu đã đề:

“Em đi từ tỉnh mộng đầu
Một mình anh ở mang sầu trăm năm”

Hai câu thơ này của Bùi Giáng chợt khiến tôi liên tưởng nhớ ra quãng đời mà ông đưa vợ con vào sống ở vùng núi đồi hẻo lánh Trung Phước (Quảng Nam), rồi vợ con của ông mất tại đấy và ông đã bỏ về xuôi [1] … Tự nhiên tôi cảm thấy trong lòng một nỗi bi thiết bung ra lan tràn và trùm lấp không gian, khiến tôi cảm thấy khó thở, tôi tần ngần bỏ tập thơ xuống, không còn muốn đọc tiếp nữa …
(more…)

Phạm Khắc Trung
Viết cảm ơn chị Liễu của tôi


Chị Nguyễn Thị Liễu

Hồi mới bước chân lên đại học, tôi lý tưởng hóa tình yêu và hung hăng con bọ xít lắm. Trong bài thuyết trình đầu tiên với chủ đề “Tình yêu qua thi ca”, tôi đã hiên ngang chỉ trích nhà thơ tình lãng mạn bậc nhất trong làng văn học hiện đại là Xuân Diệu, rằng ông không có yêu.

Đầu tiên, tôi trưng bài thơ “Yêu” (1935) làm dẫn chứng, hỏi ông yêu kiểu gì mà đem tình yêu đặt lên bàn cân, cân đo đong đếm từng chút từng phân, phân vân cho nhiều – nhận ít, đắn đo thừa – thiếu, cân nhắc lỗ – lời…?

Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu;
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết…
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt.
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!

(more…)

Vương Trùng Dương

Sau tháng ngày giá lạnh, sau Giáng Sinh, khi nhạc Xuân vang lên, vang vọng  trong nắng ấm báo hiệu cho năm mới sắp sang của Tết Dương Lịch và kéo dài cho đến Tết Nguyên Đán. “Ta ca vang, đàn nhịp nhàng, đón Xuân sang. Vui hân hoan, tình rộn ràng, mừng Xuân mới” như Ca Khúc Mừng Xuân của Văn Phụng.

Khi đất nước phân chia, miền Nam VN thuở đó còn thanh bình, những ca khúc đón Xuân như: Xuân & Tuổi Trẻ của La Hối (lời Thế Lữ) năm 1946,  Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước năm 1949 với điệu Valse (luân vũ) vui tươi, rộn ràng của khúc hoan ca (Dương Thiệu Tước còn 3 ca khúc Vui Xuân, Vườn Xuân Thắm Tươi, Tìm Xuân), Bến Đàn Xuân của Ngọc Bích vào cuối thập niên 40, nhạc phẩm Xuân Đã Về của Minh Kỳ năm 1954, Xuân Thôn Giã của Văn Phụng năm 1956, và, hình ảnh miền Nam Việt Nam được phác họa qua ca khúc Xuân Miền Nam của Văn Phụng:

“Miền Nam! Niềm vui chan chứa đêm mơ hồ
Miền Nam! Tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ
Giờ đây, mùa xuân đang xóa tan mây mờ
Quên đi đau thương sầu nhớ
Vui ca tung gieo nguồn sống
Đắp xây tự do”
(more…)

Trần Mộng Lâm

Câu chuyện này tôi muốn viết đã lâu, nhưng không hiểu sao cứ đắn đo, vì nó có vẻ cá nhân quá. Viết ra, mọi người có thể hiểu lầm là muốn tự mình ca tụng mình. Hôm nay, viết lại để trả một món nợ mang nặng trong lòng. Mục đích của bài viết này chỉ để ghi lại tấm thảm kịch của những người sống cùng thời với tôi, cùng là nạn nhân của cuộc chiến Việt Nam thế kỷ 20 và cùng đau đớn hứng chịu những hậu quả của nó. Chiến tranh đổ xuống những thường dân không trông mong gì hơn là được sống một cuộc sống an bình. Tóm lại, đây là một truyện thực, người thực ngoài đời.
(more…)

Hồ Đắc Túc

Tôi vào tiệm tạp hóa Tàu ở Luân Đôn mua một thẻ nhang ngắn rồi xuống Portsmouth, bắt phà qua Normandy.

Chiếc phà mang tên Normandie của Pháp rời bờ biển Anh lúc gần nửa đêm. Mùa hạ năm nào. Vào giờ này những người lính nhảy dù Anh sắp nhảy xuống chiếm và giữ chiếc cầu Pegasus cách bờ biển Normandy chừng 7 cây số, như trong phim The Longest Day (Ngày Dài Nhất). Giờ này, những người lính nhảy dù Mỹ đã trên phi cơ nam tiến. Tôi muốn đến Normandy vào sáng sớm, lúc mặt trời chưa lên.

Bây giờ là mùa đông. Khi phà tiến gần vào bờ cho đến khi cặp bến Ouistreham nằm phía cực đông của bờ biển Normandy, trời còn rất tối. Sao Mai sáng long lanh, các ngọn đèn rải thưa quanh bến tàu, ánh sáng vàng đứng bóng, không hắt hiu. Yên tĩnh. Trong bóng đêm lành lặn, không thấy dấu tích gì, như trong phim, và sau này, phim Saving Private Ryan.
(more…)

Nguyễn Thị Khánh Minh
Như một món quà sinh nhật tặng Thu Vàng.


Thu Vàng
Huyền Chiêu

Dường như thời gian vừa lẫy một nhịp. Dường như tôi lọt vào khe hở của huyễn ảo, trôi ngược về không gian thần thoại. Có đường xanh hoa cỏ chim chóc của cô bé quàng khăn đỏ, có những giấc mơ đời thường của cô bé bán diêm, may mắn là tôi không gặp con chó sói hung dữ cũng như không bị cô đơn giá lạnh làm tắt những ước mơ, mà gặp một cô Hội An duyên dáng, có tiếng hát tuyệt vời, chinh phục cảm xúc tôi từ buổi sơ ngộ mùa thu năm nọ…

Để cảm và sống một dòng chảy khác của thời gian như thế chẳng khác nào ân phước, nó là sự đậu trái của một chuỗi những phút giây hạnh phúc, đủ sức mạnh làm cho người thụ hưởng cảm thấy như mình trôi với nhịp đẩy đưa rất mộng ảo của thời gian, tôi đang được như thế, khi bạn mở ra một cánh cửa cho tôi hít thở tràn trề hương cổ tích, nơi tôi gọi bạn là Tấm, trực gọi như thế trong niềm cảm khoái, biết ơn.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Tôi chẳng tin cái đảng ăn tàn phá hại này và bộ máy công an của nó sẽ bịt được miệng chúng tôi. (Phạm Đoan Trang)

Ngày 6 tháng 12 năm 2018, trên trang nhà VOA xuất hiện một bài viết (“Chuyện Cái Quần”) thú vị của blogger Trân Văn. Câu chuyện đã được phổ biế́n khá rộng rãi nên chỉ xin ghi lại tóm tắt, đôi đoạn:

“Ông Nguyễn Quốc Hùng – chồng bà Dương Ngọc Ánh – đã thay mặt vợ xin lỗi thầy giáo Hồ Văn Khánh, giáo viên trường Trung học cơ sở (THCS) Trần Huỳnh, tại một buổi họp với đầy đủ các bên được cho là có liên quan … Sở dĩ ông Hùng phải thay mặt vợ đứng ra xin lỗi … vì bà Ánh – vợ ông Hùng nhận thức sai, hành xử không đúng đối với một… cái quần!

Ông Hùng và bà Ánh có một cô con gái đang là học sinh lớp 9 trường THCS Trần Huỳnh. Sau buổi học sáng 30 tháng 11, ái nữ của họ để quên một cái quần trong hộc bàn. Buổi chiều, học sinh nào đó đem cái quần bị bỏ quên ấy đặt lên bàn giáo viên. Khi thầy giáo Khánh vào lớp, nhìn thấy cái quần, không xác định được chủ, ông yêu cầu học sinh bỏ nó vào thùng rác.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Tôi không biết làm thơ. Có viết được một đôi bài đăng báo, chị tôi đọc thấy và bảo “cái này mà gọi là thơ ư?”. Ai chỉ trích thì bụng tôi không vui nhưng khi nghe chị tôi nói, tôi buộc phải đưa tay ra sờ sau ót. Chị tôi đọc nhiều sách, yêu thơ rất mực và có một trí nhớ đáng nể. (Chị từng phê bình là văn viết của tôi có nhiều điển tích bị trích dẫn sai, liền mang sách ra đọc rõ ngọn ngành; nói có sách, mách có chứng, hết đường chối cãi). Thời nữ sinh, chị chép tay nhiều bài thơ tiền chiến trong một tập giấy xanh, lên tới hai ba cuốn, nâng niu. Chị gieo cho trí óc dại khờ tôi dạo nọ một hoài nghi: Có phải thơ là món cần thiết?
(more…)

Hoàng Vũ Thuật


Nhà thơ Phùng Quán (1932-1995)

1. Gặp gỡ.

Tôi chơi thân với Hải Bằng từ cuối năm 1966, lúc Hội Văn Nghệ và Ty Văn hoá còn sơ tán lên làng Phú Vinh. Qua Hải Bằng tôi được biết rất nhiều về cuộc đời và con người Phùng Quán. Trước đó những năm đầu 60 tôi đã đọc cuốn “Bọn Nhân văn-Giai phẩm trước toà án dư luận” cùng rất nhiều bài viết khác, thông qua Hà Nhật thầy giáo dạy văn và bạn bè cùng học cấp 3 Quảng Bình cho mượn. Chưa gặp nhưng tôi đã trọng, vì đó là con người khác người. Chữ “người” thời ấy gần như cùng chung mẫu số. Ai cũng như ai, khó mà bộc lộ cá tính trước đám đông.
(more…)

Trịnh Y Thư

Duềnh quyên? What the heck do you mean by “duềnh quyên?”

Có anh bạn sau khi đọc Chùm lục bát Lập Đông của tôi, nêu thắc mắc “duềnh quyên” là “cái quái gì vậy?” Bạn nói tiếp, “Tôi chưa bao giờ nghe hay đọc cái chữ mà khi đọc muốn trẹo quai hàm đó, cậu có bịa chữ thì cũng bịa vừa vừa thôi chứ, làm quá cậu ‘ngộ chữ’ thì khốn, bởi vì từ ‘ngộ chữ’ đến tâm thần chỉ là khoảng cách cận kề… Cậu biết chửa?”

Anh bạn tôi còn nói nhiều nữa, nhưng tôi từ tốn ngắt lời anh bảo anh đừng nóng nẩy, có mắng mỏ lên án thì chí ít cho tôi biện bạch vài lời đã, và tôi nhỏ nhẹ bảo anh:

Bạn ạ, “duềnh” theo từ điển Việt Nam của cụ Lê Ngọc Trụ nguyên nghĩa là vụng nước. “Duềnh quyên” là vụng nước có mặt trăng soi vào lấp lánh. Cụ Nguyễn Du thích nhóm từ này lắm vì nó giàu hình ảnh. Tả cảnh Kiều ngồi buồn bã trước lầu Ngưng Bích, cụ viết:
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Năm hết, tết đến, bạn bè đang đàn đúm (tiệc tùng) vui vẻ thì South China Morning Post – số ra ngày 12/18/2018 – bỗng loan tin dữ, khiến cả đám đều hụt hẫng: “Death penalty may await Sun Bo, boss of Chinese aircraft carrier firm CSIC, for alleged spying role.”

Qua bữa sau, VOA cho biết thêm chi tiết:

“Ông Tôn Ba, cựu tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp đóng tàu Trung Quốc (CSIC), trước đó đã bị cơ quan chống tham nhũng kết tội nhận hối lộ, nhưng ít nhất có 3 nguồn tin hiểu chuyện cho biết các nhà điều tra đang xem xét những cáo buộc nói rằng ông Tôn Ba đã chuyển thông tin mật về tàu Liêu Ninh, tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, cho tình báo nước ngoài.”
(more…)

Đỗ Trường


Hòa thượng Thích Như Điển

Dường như, không ai nghĩ, ngọn lửa mùa thu 1989, được đốt lên từ sinh viên, từ nhà thờ (Nikolaikirche) Leipzig đã thiêu cháy bức tường Berlin nhanh đến như vậy. Tuy vui mừng, nhưng cái bất ngờ ấy cũng mang đến sự hoang mang không ít cho người Việt chúng tôi đang sống, và làm việc ở miền Đông nước Đức. Bởi, hầu hết các nhà máy, công xưởng phải đóng cửa. Không riêng chúng tôi, mà kể cả những nghiên cứu sinh, sinh viên đại học cũng chạy loạn xí ngầu. Có lẽ, chỉ có ai đã từng sống qua cái thời khắc đó, mới hiểu hết tâm trạng của chúng tôi. Quả thực, tiền bạc, nơi ăn chốn ở, không phải là điều chúng tôi phải lo nghĩ tới. Bởi, sống ở Đức đã khá lâu, tiền bạc chúng tôi vẫn còn rủng rỉnh trong túi. Ngoài ra, nhà cửa, ăn uống, bảo hiểm ốm đau đều có xã hội chu cấp. Nhưng tâm hồn ai cũng vậy, rất chông chênh và trống trải. Có thể nói, chúng tôi như những con chim lạc đàn, chưa định được đường bay. Thì thật may mắn thay, những người Đức, người Việt ở miền Tây đã mở rộng vòng tay, cùng nơi cửa Phật, Thánh đường che chở, bao bọc, lấp đầy những khoảng trống trong hồn người bơ vơ.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Với đại đa số dân chúng, lễ Giáng Sinh được coi như một ngày lễ lớn của dân tộc và đó là một nét văn hóa đẹp, Ngày lễ Noel như một ngày lễ của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo. Trong sinh hoạt xã hội và cả sinh hoạt về văn học, ngày lễ ấy có một vị trí rất quan trọng. Mặc dù Thiên Chúa Giáo mới du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 19 cho tới nay, nhưng lễ Giáng Sinh đã trở thành một ngày lễ nhân gian của cả nước. Và riêng với tôi, thì có ý nghĩ rằng tôn giáo nào cũng tốt cũng dạy người ta làm việc thiện nên những ngày lễ là những ngày nhắc nhở tất cả mọi người đi trên con đường tu thân tu tập ấy…
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Nụ cười rạng rỡ của các cô gái anh hùng trên nhật báo và phim ảnh tuyên truyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến tranh đã chu du khắp thế giới, nhưng số phận bi thảm của chính những người nữ anh hùng vô danh này vẫn chưa được mọi người biết đến đầy đủ. (François Guillemot)

Thỉnh thoảng, giới truyền thông trong nước lại hốt hoảng loan tin:

Khắp nơi dư cấp phó

Hoặc:

Dư thừa cấp phó khắp nơi

Tuy được báo động đều đều như thế nhưng tình trạng “lạm phát cấp phó vẫn cứ diễn ra ở nhiều sở, phòng, ngành, tại không ít địa phương” – theo như lời than phiền của phóng viên báo Lao Động.
(more…)

Phạm Nga

1.
Xa xưa, vài năm đầu thập kỷ 60, chiến tranh còn chưa khốc liệt mà chỉ mới có mặt đâu đó ở những vùng rừng núi thật xa đô thành Sài Gòn, lâu lắm mới nghe tiếng đại bác chợt vọng về thành phố ban đêm. Do đó, ít ra là đối với tuổi niên thiếu hồn nhiên của những cậu bé dân Sài Gòn như tôi, những tháng 12 thời ấy quả là “bình yên dưới thế”, bọn nhóc chúng tôi tha hồ háo hức trông chờ những lễ hội lớn lao, thật vui vẻ là Noel và Tết dương lịch.

Cứ bắt đầu nghe bản Jingle Bells vang vang ngoài phố cùng hình ảnh ông già Noel cỡi xe tuần lộc, tươi cười trên những tấm thiệp đẹp đẽ là tôi đã cảm thấy vô cùng nôn nao, hí hửng. Bọn trẻ, bọn thanh niên nam nữ thì lúc nào chẳng chộn rộn trong những mùa hoan lễ.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Tôi viết tặng em bài thơ buồn. Câm lặng. Đôi ba hôm sau nghĩ chẳng đặng, em hồi âm. Mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ, bây giờ em thôi làm mẹ, qua mùa đông sẽ lên chức bà nội, đừng làm tình làm tội nữa nha anh. Sao đứt thắng có người bảo hỏng phanh mà kêu ca cho đến hồi khản tiếng gọi là thất thanh? Rõ là em đã soán đoạt ở anh màu trời xanh. Anh chết máy giữa đường đầy nắng hanh.

Yêu cần tri kỷ viết cần tri âm, hai món hỷ tín này coi bộ anh vô duyên. Nói huyên thuyên tiếc sợi dây nối vào gàu giếng cạn, ừ thì sức người vốn hữu hạn, mình thôi làm bạn từ dạo súng nổ đạn bay. Ớt thì cay mà miệng anh thày lay: Dễ như ăn ớt. Vậy đụng phải trớt quớt trách chi ai? Thơ văn có lúc là thứ mang tai ương đến tha nhân, hành hạ người ta đủ điều lần khân. Đẻ ra chán, oải, nhàm, nản, ngấy… “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Ngày xưa thân ái. Bốn chữ này thường được sử dụng nhiều trong các cuốn lưu bút, bạn cùng lớp bịn rịn trao tay khi hè về chấm hết một niên học. Trong ca từ một bản nhạc cũng có gợi nhắc, hình như là (thể điệu boléro?): “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho nhau…”

Tôi có nhiều bạn, tên bắt đầu bằng N. Trong cuốn sổ điểm danh kích cỡ to một cách lạ thường nằm trên bàn thầy cô, đứng trên những đường kẽ chữ xanh nhạt đều đặn thẳng tắp, đè đầu cỡi cổ chen chúc vây quanh tôi có lắm đứa thân thích: Nam, Nhã, Như, Nhân, Ngọc, Ngôn, Ngữ, Nghĩa, Nguyện… Và họ Nguyễn bao giờ cũng lấn át những họ khác. Tôi lạc mất tin về Nguyễn Thanh Ngọc từ năm 1968. Nguyễn Văn Ngữ thì mất vào mùa hè 1972. Nguyễn Duy Nguyện thì bị động viên, vào lính năm 1974 chả biết sống chết ra sao. Lớn lên theo thời gian, bạn bè cứ thế mà lần hồi chìm tăm biệt tích. Những ngày xưa thân ái có hiện ra cũng nhạt nhoà dần bao trang vở khắc ghi tới thời vàng son thuở nọ. Một nhà văn thành danh từng nói với tôi: Giai đoạn mà cậu sống với, quả có bất hạnh.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Những kẻ đặt Khổng Tử lên bàn thờ, thánh hóa ông chính là những kẻ cầm quyền, hoặc những kẻ muốn nắm quyền. Việc này hoàn toàn không phải là việc của dân chúng bình thường. (Lỗ Tấn)

Tháng trước, nhân dịp kỷ niệm 95 năm sinh nhật của nhạc sỹ Văn Cao (15/11/1923 – 15/11/2018) nhà văn Đặng Văn Sinh đã chịu khó viết lại vài đoạn (“ghi chép vụn”) của bạn đồng nghiệp Hoàng Minh Tường, trên trang FB của ông:

Có chuyện này về cụ Văn Cao, chỉ mình hai bố con tôi chứng kiến – Long Bụi kể – Ấy là cái năm Hội Nhà văn hay Nhạc sỹ Hunggari có giấy mời đích danh Văn Cao sang chơi hay hội thảo gì đó. Tổ chức không muốn cho Văn Cao đi, vì ông thuộc diện văn nghệ sỹ bất hảo, nhưng chưa tìm ra cớ gì ngăn cản. Tối ấy, tôi lai bố Lê Chính cùng bác Văn Cao đi đâu đó. Đến ngã tư Trần Nhân Tông – Mai Hắc Đế, bỗng thấy hai thằng du côn tự nhiên xô vào xe bác Văn, rồi chửi ông và đánh ông túi bụi. Khi ấy tôi đã là một thầy dạy võ, có lò võ riêng. Điên tiết, tôi xông đến, giằng hai thằng côn đồ ra, định dạy cho chúng một bài học. Thấy tôi ra đòn, biết gặp cao thủ, chúng bí quá, liền dí tấm thẻ đỏ vào mặt tôi: “Mày không biết chúng bố là ai, hả? Xéo đi cho các bố làm việc.”
(more…)

Người Buôn Gió

Từ Phất Lộc đến Weimar là cuốn tự truyện tôi viết trong thời gian nhận học bổng của thành phố Weimar 6 tháng. Giấy mời của thị trưởng thành phố Weimar gửi đến địa chỉ nhà tôi 22 ngõ Phất Lộc, Phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm có đoạn.

– Chúng tôi đánh giá cao khả năng văn chương và báo chí của ông. Chúng tôi mời ông đến thành phố của chúng tôi 6 tháng để thăm và tạo điều kiện để ông có thể viết những gì ông muốn.

Khả năng văn chương và báo chí của tôi là gì, tôi cũng không biết. Thiên hạ cũng chẳng rõ, những gì tôi viết ra sự khen chê khác nhau. Những loại dư luận viên tôi không bàn đến, những người thân với tôi cũng không bàn đến. Bởi nhận xét của họ không thể khách quan.
(more…)

Tâm Nhiên

 
Từ trái: Thiền sư Tuệ Sỹ và tác giả

“Năm tháng vẫn như nụ cười trong mộng” là một câu thơ của Thầy Tuệ Sỹ mà tôi cứ đọc đi đọc lại mãi trên những chuyến phiêu bạt, giang hồ khắp đó đây. Ngày đi, tháng đi, năm đi và đời mình cũng đang chuyển dịch đi qua. Đi trên nhịp bước sương lồng sông núi lặng: “Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng. Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu.” 1 Phiêu lưu, phiêu lãng ngàn phương, theo cách điệu tiêu dao du chơi giữa vô thường:

“Bước đi nghe cỏ động
Đi mãi thành tâm không
Hun hút rừng như mộng
Tồn sinh rụng cánh hồng” 2
(more…)

Song Thao


Thánh Andrew Dũng-Lạc

Ngày 5 tháng 11 năm 2018, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đã gửi “Đơn Kiến Nghị Khẩn Cấp” do Hồng Y Nguyễn văn Nhơn và Giám Mục Chu văn Minh ký, yêu cầu thành phố Hà Nội đình chỉ việc ngang nhiên xây dựng trên đất của tòa Tổng Giám mục. Khu đất này chính là khu trường Dũng Lạc trước kia.

Tin xấu này làm nhiều người bất bình. Tôi là học sinh trường Dũng Lạc trong bốn niên khóa từ năm 1950 đến 1954, từ Đệ Thất đến Đệ Tứ, nên xót xa cho mái trường xưa, mái trường mà ít ngày trước đây tôi thẫn thờ nhớ khi cô cháu tôi từ Việt Nam qua chơi, đã mang qua cho tôi cuốn học bạ bốn năm tại trường Dũng Lạc. Cuốn sổ mỏng, vàng ố, chỉ có 16 trang, ghi lại thành tích học tập của tôi trong bốn năm học Trung Học Đệ Nhất Cấp này. Học bạ được in tại nhà in Tiến Long, 25 phố Nhà Chung, Hà Nội. Phố Nhà Chung, con phố ngắn nhưng rất thân thuộc với học trò Dũng Lạc.
(more…)

Nguyễn Quang Duy


Trương Vĩnh Ký (1837-1898)

Trương Vĩnh Ký, người tạo nền móng cho giáo dục và cải cách ngôn ngữ Việt Nam vào thế kỷ 19, là nhà bác học nhiều năm qua vẫn chưa được hậu sinh hiểu một cách tận tường. Bài viết này muốn nhắc lại nỗ lực giáo dục và cải cách ngôn ngữ tiếng Việt của ông nhân kỷ niệm 181 năm ngày sinh của ông, vào ngày 6/12/1837 tại ấp Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long.

Sau 30/4/1975, khi ngôi trường trung học Petrus Trương vĩnh Ký bị đổi tên và bức tượng bán thân giữa sân trường bị dời đi, học sinh chúng tôi thường tranh luận về “công và tội” của Petrus Ký khi mượn tay người Pháp giúp nền văn học nước nhà. Chúng tôi thường kết thúc bằng ngạn ngữ được Pétrus Ký dùng nhiều lần khi viết thư “Sic vos non vobis”. Hồi ấy chúng tôi hiểu câu ngạn ngữ trên là “Ở với họ mà không theo họ”, vừa tránh dẫn đến chuyện bị quy kết “phản động”, vừa tỏ bày tâm sự “Ở với cộng sản mà không theo cộng sản”. Gần đây tôi mới biết câu ngạn ngữ tiếng La Tinh “Sic vos non vobis” có 2 nghĩa và dịch như trên là hoàn toàn sai ý Pétrus Ký.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội!
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?
(Bình Ngô Đại Cáo)

Khoảng bằng giờ này năm trước, báo Thanh Niên Online (số ra ngày 7 tháng 11) ái ngại loan tin:

Cụ bà Hoàng Thị Minh Hồ, quả phụ nhà tư sản dân tộc yêu nước Trịnh Văn Bô vừa trút hơi thở cuối cùng vào đêm 5.11 tại Hà Nội trong sự tiếc thương và ngưỡng mộ của hàng triệu người Việt Nam yêu Tổ quốc. Không nhiều người biết, lúc cụ nhắm mắt, nỗi buồn sâu thẳm trong lòng vẫn chưa được khơi thông, thậm chí còn là nỗi buồn nhân đôi!

Chuyện gì mà buồn dữ vậy, Trời?

Tác giả bài báo thượng dẫn, nhà báo Quốc Phong, cho biết:

Năm 1954, sau khi Cách mạng về tiếp quản Thủ đô, hai vợ chồng cụ Trịnh Văn Bô khi đó đã cho Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái mượn ngôi biệt thự tại 34 Hoàng Diệu, Hà Nội có khuôn viên rộng 3.000 m2 trong 2 năm. Lý do tướng Thái muốn mượn là vì nó rất tiện cho công việc. Nhất là lúc này, đất nước vẫn còn chia cắt và cuộc chiến đấu giải phóng đất nước vẫn chưa trọn vẹn. Vị trí này rất tiện làm việc vì nó rất gần Bộ Quốc phòng. Theo như lời hứa của tướng Thái (sau này là đại tướng) thì “khi nào Bắc Nam thống nhất, quân đội sẽ trả anh chị”…
(more…)

Đỗ Trường


Nhà văn Trương Văn Dân và vợ ông nhà văn Elena Pucillo

Nếu không có gần nửa thế kỷ sống xa quê, xa Tổ Quốc, thì có lẽ, chưa chắc Trương Văn Dân đã dính vào cái nghiệp văn chương, viết lách. Những năm tháng chia ly ấy, như một sự thiếu hụt trong tâm hồn, luôn làm cho ông chông chênh và trống trải. Để lấp đi khoảng trống đó, Trương Văn Dân phải độc thoại trên từng trang viết của mình. Sự tìm tòi và sáng tạo ấy, không chỉ vơi đi nỗi nhớ thương, mà còn giúp ông tìm lại một nửa linh hồn của mình, dường như vẫn còn ở lại nơi quê nhà. Do vậy, có thể nói, cũng như Trần Trung Đạo, Phạm Tín An Ninh, hay Cao Xuân Huy, nhà hóa học Trương Văn Dân đến với văn thơ một cách ngẫu nhiên, bởi hoàn cảnh cuộc sống, và trái tim thúc bách, chứ hoàn toàn không có sự chuẩn bị để trở thành một nhà văn. Văn thơ Trương Văn Dân, tuy không vụt sáng lên, song nó góp phần không nhỏ cho sự tiếp cận, giao thoa giữa hai nền văn học Việt – Ý (Italia).
(more…)

Trang Nguyen

Nha trang là nơi tôi sinh ra và đã sống trong thời thơ ấu, Ninh hòa là nơi tôi đã sống sau ngày vận nước thay đổi, cả một quãng đời niên thiếu và thanh xuân trôi qua trong lam lũ và buồn bả. Lòng tôi luôn nhớ về làng quê nhỏ bé, con đường đất gập gềnh, với hàng tre bến sông, ánh trăng quê… Nhắc đến Ninh hòa tôi thường không ngăn được những dòng nước mắt, nhớ đến những tháng ngày đắng cay, buồn nhiều hơn vui mà tôi đã từng trải.

Tuổi thần tiên

Khi còn bé, trước khi về Ninh hòa sống, tôi rất thích bài hát “tuổi mộng mơ” của Phạm Duy “em ước mơ mơ gì tuổi 12, tuổi 13, em ước mơ em được em được làm tiên nữ…” và nhất là bản nhạc “tuổi thần tiên” của Phạm Duy
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:

Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:

“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Trong nỗ lực xóa bỏ ký ức tập thể về sự kiện này, người ta đã không chỉ đục bia, mà còn đục cả thơ… một hành vi không chỉ xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ mà còn đớn hèn và nhục nhã về chính trị. (Nguyễn Anh Tuấn)

Ngày 11 tháng 11 năm 2018, báo Nhân Dân trang trọng loan tin: “Lễ kỷ niệm 100 năm ngày ký Hiệp ước đình chiến kết thúc cuộc chiến tàn khốc trong lịch sử nhân loại, đã diễn ra tại Khải Hoàn Môn trên đại lộ Champs Elysée ở trung tâm thủ đô Paris. Tham dự sự kiện này có 72 nguyên thủ và lãnh đạo quốc gia.”


Ảnh: thenational

Tui lấy kính lúp xăm soi hoài nhưng không thấy mặt mũi của “lãnh đạo quốc gia” Việt Nam đâu ráo trọi. “Đại diện của dân tộc” này cũng khỏi có luôn, theo như lời phàn nàn của nhà báo Lưu Trọng Văn:
(more…)

Lê Phú Khải


Nhà thơ Nguyễn Duy

Ca dao là những viên ngọc lung linh, trong suốt, lấp lánh trên bầu trời văn hóa của dân tộc. Tưởng chừng không ai có thể làm cho nó đẹp hơn, hay hơn được nữa. Thử nghĩ, ai có thể gọt dũa thêm, trau chuốt hơn những câu ca dao như thế này:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Vậy mà thật bất ngờ cho tất cả những người Việt trong nước và trên toàn thế giới phải sững sờ, phải lặng người đau đớn khi đọc bài thơ “Cướp” của Nguyễn Duy:

Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan (ca dao)
Cướp xưa băng nhóm làng nhàng
Cướp nay có đảng có đoàn hẳn hoi
Có con dấu đóng đỏ tươi
Có còng có súng dùi cui nhà tù

(more…)

Võ Kỳ Điền

Tôi nhớ có lần thi sĩ Borges xứ Argentina, Nam Bán Cầu viết câu thơ hay: “Tôi sanh ra ở xứ lạnh, để sưởi ấm đôi bàn tay, nên tôi làm thơ.” Tứ thơ đẹp lung linh khiến người đọc giật mình nên tôi mạo muội bắt chước ý nghĩ đó – mình cũng hiện ở xứ lạnh nè, ngó qua ngó lại thì sự nghiệp công danh không có gì hết, trơ trọi một thân già, những khi trời đông lạnh, tuyết bay phơi phới trắng xóa đầy trời, thì tại sao không mượn câu thơ để gầy lò sưởi ấm. Và hôm nay tôi mượn bài Tiết Phụ Ngâm của Trương Tịch, một thi sĩ nổi tiếng thời Trung Đường, vì bài nầy cứ mỗi lần đọc là mỗi lần thú vị, thâm trầm.

TIẾT PHỤ NGÂM
Trương Tịch (766-827 đời Đường)

Quân tri thiếp hữu phu
Tặng thiếp song minh châu,
Cảm quân triền miên ý,
Hệ tại hồng la nhu
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt
Sự phu thệ nghĩ đồng sinh tử
Hoàn quân minh châu song lệ thùy
Hận bất tương phùng vị giá thì.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh


Nhà văn Lại Thanh Hà

Tác phẩm đầu tay của Lại Thanh Hà là “Inside Out & Back Again” được giải thưởng National Book Award năm 2011 về văn chương dành cho thiếu nhi. Tập thơ này làm cô nổi tiếng, có nhân vật chính là cô bé Kim Hà với những ý nghĩ hồn nhiên. Vẫn là hành trình gập ghềnh của một gia đình tị nạn. Vẫn là những nỗi niềm của một tuổi thơ lớn lên giữa những nếp sống xa lạ mà ngôn ngữ khác biệt đã tạo thành những rào chắn để tiến đến sự cảm thông với những người chung quanh. Tác phẩm viết về một câu chuyện của một cô bé Việt Nam tị nạn lúc mười tuổi tên Kim Hà. Nhưng, một điều đặc biệt, là tác giả đã viết tiểu thuyết bằng thơ. Cô tả người, tả tình, tả cảnh bằng những vần thơ Anh ngữ có chất hóm hỉnh trộn lẫn với cảm xúc để chuyên chở một cách linh động tâm tình của những người phải bỏ xứ ra đi sống ở nước ngoài.
(more…)

Ngọc Ánh

Có ai đó nói quê hương là nơi đi xa thì nhớ mà ở gần thì yêu thích luyến lưu, tôi nghĩ điều này đúng với những người có nguồn gốc Việt Nam nhưng đã sinh ra và lớn lên ở một đất nước khác, hoặc khi họ ra đi cùng gia đình theo dòng di tản thì tuổi thơ của họ còn quá bé nhỏ để cảm nhận sự háo hức đọng lại trong hình ảnh của con diều lộng gió trên bầu trời cao, hay con cá lia thia đủng đỉnh trong cái keo thủy tinh trên kệ tủ. họ không có khái niệm gì về vùng đất xa xôi “ chôn nhao cắt rún” của cha mẹ ông bà, mà đôi khi họ cũng có gởi ở đó một chút thịt da của lúc lọt lòng. Cũng có những người ra đi khi tuổi thanh xuân vừa chớm, cái tuổi 18-20 nhựa sống tràn trề để mơ về phương trời rộng mở phía trước mà vô tình quên hẳn lũy tre làng.
(more…)

Nguyễn Kiến Việt

Mẹ tôi chỉ là một thư ký thường cho một công sở ở Sài Gòn trước năm 1975. Vào cái trưa ngày 30 tháng 4, 1975, khi biết chắc miền Nam đã thất thủ và Việt cộng đang từ từ tiến vô Sài Gòn, mẹ tôi lặng lẽ mở tủ lấy lá cờ quốc gia, bỏ vô chiếc thau đồng vẫn thường để đốt vàng bạc trong các dịp cúng giổ trong gia đình, rồi đem xuống bếp, thắp ba cây nhang lâm râm khấn vái trước khi châm lửa đốt. Lúc đó chúng tôi cũng biết việc cất giữ những gì thuộc về chế độ cũ sẽ mang tới tai họa cho gia đình, huống chi là lá cờ quốc gia, nên mẹ tôi phải đốt đi; nhưng những điều mà mẹ tôi giải thích sau đó về việc khấn vái trước khi đốt lá cờ mang một ý nghĩa khác hơn mà suốt đời tôi không quên được. Mẹ tôi nói: “Biết bao nhiêu anh chiến sĩ quốc gia đã chết dưới lá cờ ni, chừ vì thời thế mà mình phải đốt đi, mình cũng phải xin phép người ta một tiếng!”
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguyễn Huy Thiệp nổi tiếng về những truyện ngắn. Với những truyện như Phẩm Tiết, Tướng Về Hưu, Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Cún, Con Gái Thủy Thần… đã tạo nhiều ảnh hưởng trong giới làm văn học nghệ thuật trong nước và lôi cuốn theo cả giới độc giả. Truyện của ông có người thích có người không ưa và đã tạo ra nhiều cuộc tranh luận. Những tác phẩm của ông xuất hiện trong một thời kỳ mà có nhiều nhận định cho rằng bắt đầu cuộc đổi mới văn học sau tín hiệu của lời tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ ở trong nước của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh.

Nhưng, Tuổi 20 Yêu Dấu lại là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Huy Thiệp. Từ thể loại truyện ngắn đổi sang tiểu thuyết, đã có nhiều thay đổi từ bút pháp đến suy tưởng. Tuổi 20 Yêu Dấu được viết xong năm 2003, được xuất bản ở hải ngoại năm 2004 do nhà xuất bản Văn Mới năm 2004 và được chuyển sang Pháp ngữ năm 2005 với tên “A Nos Vingt Ans” nhà xuất bản L’Aube, dịch giả Sean James Rose. Và đến bây giờ, tháng 9 năm 2018, được chính thức ra mắt. Trên mạng, tiểu thuyết này cũng được phổ biến khá rộng rãi.
(more…)

Phan Trà


Nhà thơ Nguyễn Minh Phúc

Cứ mặc cho dòng đời trắc trở, thơ của anh Nguyễn Minh Phúc, đặc biệt những vần lục bát, có một sức hút kỳ lạ, như mời gọi người đọc chúng ta, cùng nhau về lục tung quá khứ, cùng đến gõ cửa tương lai, miệt mài góp nhặt tinh khôi.

Trong chuyến lữ hành xa xăm, dường như phiêu lãng đó, dù có tìm được những reo vui, như:

“ừ nhỉ… hình như là tình yêu
tôi nghe nồng ấm khói lam chiều
có em tha thướt về trong nắng
và gió… hay là hương tóc theo…”
(Hay Bởi Tình yêu)

Hoặc, dù có gặp phải những buồn bã, như:

“em về phơi mỏng hồn tôi
mùa thu hoa cải hiên trời xôn xao
gửi trên môi một câu chào
đã nghe thương nhớ đậu vào tim nhau

giờ em tay bế tay bồng
bùi ngùi tôi nhớ tình nồng năm xưa
mà thu cũng đã sang mùa
còn chăng tiếng vọng gió lùa qua song…”
(Gõ Cửa Mùa Thu)
(more…)

Phạm Nga

Năm tháng trôi qua, cứ ăn-chắc-mặc-bền, cà phê bình dân thầm lặng phục vụ cho giới người nghèo, dân lao động nơi nơi, tại những quán cóc trong hóc hẽm hay các sạp, tủ bán cà phê /nước giải khát trên vỉa hè, trong bến xe, trước cửa các trường học, nhà thương, rạp hát, chỗ làm giấy tờ… Có điều là cách pha cà phê đã dần hồi đổi khác…

1. Cà Phê “Vợt” Bình Dân

Trong cõi nhân sinh đầy triền phược, bất công này lại có một điều bình đẳng thật hay ho là mọi người chúng ta, bất kể giàu hay nghèo, đều có thể uống cà phê. Từ những người nghèo, thật nghèo hèn như anh xe ôm, cậu sinh viên, dân lượm ve chai cho đến những người giàu, thật giàu có như ngài tổng giám đốc ngân hàng, ông chủ hãng xe hơi, vị trưởng phòng kinh doanh công ty nước ngoài…, đến cơn ghiền hay khi chợt nghĩ mình nên đi uống cà phê, hoặc vào bất cứ lúc nào đó rảnh rang, đều có thể đi một mình hay cùng bạn bè, đồng nghiệp ghé một quán cóc thật xập xệ bên đường hay một quán cà phê giá vửa phải hoặc một quán máy lạnh thật sang trọng, để mỗi người có thể nhâm nhi, thưởng thức món cà phê theo ý mình.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Nhưng phải nói lá cờ máu này xui thấy mẹ. Mang đi ủng hộ đội tuyển bóng đá, màu cờ đỏ ngập tràn sân vận động thì ta thua liểng xiểng. Vác cờ đỏ sao vàng đi biểu tình thì CA cứ thấy thằng mang cờ đỏ sao vàng là xông vào đánh tơi bời. (Mai Tú Ân)

Chị Phương Anh (nhà xuất bản Quê Mẹ) và chị Trương Anh Thụy (nxb Cành Nam) cùng vài ông anh khác – Võ Thắng Tiết, Uyên Thao, Trần Phong Vũ, Huy Phương – đều đã có lúc khuyến khích tôi “ra” một cuốn sách, cho nó … giống với mọi người. Tôi lắc đầu quầy quậy trước sự ân cần và tử tế của qúi anh/qúi chị vì sợ lỡ có tác phẩm, rồi bị trao giải Nobel (về văn học) là hư bột/hư đường ráo trọi.

Lập thân tối hạ thị văn chương! Tôi tin rằng mình có thừa khả năng để có thể “lập thân” trong rất nhiều lãnh vực khác, ngon lành và bảnh bao hơn nhiều! Ngoài việc tìm hiểu (để giải trí) Vũ Trụ Học và Thiên Văn Học, tôi dành hết đời mình để cặm cụi nghiên cứu về nguyên nhân nghèo đói của những nước ở Đông Nam Á. Tài liệu, nay, đã chất thành từng núi. Chỉ cần sắp xếp, ghi chép lại, rồi cho trình làng xong là tôi tin (chắc) rằng mình sẽ ẵm cái giải Nobel về kinh tế.
(more…)

Phan Tấn Hải

Tôi có một thói quen rất bình dân, là rất mực ưa thích những gì gọi là bình dân. Chính vì như thế, tiếng Việt tôi sử dụng thường là bình dân, không có gì cầu kỳ, kiểu cọ, chẳng hề sang chảnh ngữ ngôn cách điệu gì cả. Nói cách khác, chữ tôi dùng rất mực nhà quê, ưa theo đám đông quần chúng.

Thí dụ, tôi ưa dùng theo đám đông, viết là “hồi ký” thay vì “hồi kí” và chẳng hề có thì giờ để xem các nhà ngữ học tranh cãi về y hay i. Đời mình chẳng có bao nhiêu ngày để sống, chẳng bận tâm những chuyện có thể là đã nằm ngoài tầm hiểu biết của mình. Đất nước lại chẳng có một Viện Hàn Lâm ở cấp quốc gia để thống nhất các chuyện như thế.

Thế rồi cũng mệt với dấu gạch nối. Thí dụ, một số nhà ngữ học viết có gạch nối là “hồi-ký” – người khác viết là “hồi-kí” và độc giả trung bình cỡ như tôi là khựng lại.

Sau này, tôi quyết định giữ thói quen kiểu Mỹ là đi con đường ngắn nhất, đơn giản nhất. Đó là, cứ viết “hồi ký” với y và không gạch nối.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Chống cờ đỏ nghĩa là biểu tỏ sự bất đồng của những người bình thường với một chính quyền tham tàn. (Huỳnh Thục Vy)

Bà chị đi lấy chồng đúng vào lúc tôi vừa đủ lớn để giã từ tuổi thơ, vĩnh biệt cá chim/diều dế (chia tay những trò chơi của thưở ấu thời) để bước vào một thế giới khác với khói thuốc lá Bastos, nhạc Beatles, café noir, bière 33, và tràn lan phim truyện.

Nhà vốn nhỏ hẹp nên vắng chị tôi được “thừa hưởng” nguyên cái giường trống (khỏi phải nằm chung với bố hay mẹ nữa) cùng một tủ sách nho nhỏ có đủ mặt Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Lan Khai, Đinh Hùng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, Võ Hồng, Thanh Nam, Mai Thảo, Nhật Tiến, Tuấn Huy, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn, Văn Quang, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc …

Tôi đọc tuốt luốt nhưng “chịu” Doãn Quốc Sỹ, và vẫn cứ tiếp tục lẽo đẽo theo ông cho đến lúc xế chiều. Theo Nguyễn Mộng Giác: “Khi xây dựng nhân vật, Doãn Quốc Sỹ thường không lưu tâm moi móc những ngóc ngách xấu xa của họ.” Võ Phiến cũng có nhận xét (gần) tương tự: “Các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo được người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn.” (Văn Học Miền Nam Tổng Quan. Westminster, CA: Văn Nghệ, 1999).
(more…)

Đinh Quang Anh Thái


Nhà văn Dương Thu Hương

Dương Thu Hương tự nhận mình là “người rừng”, “mụ đàn bà nhà quê răng đen, mắt toét”. Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”. Còn lãnh đạo CSVN thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới trên mạng, bõ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.
(more…)