Archive for the ‘Biên Khảo / Phê Bình’ Category

Khuất Đẩu

bia_dan_tam

Tôi mượn bốn chữ dễ thương trong tập thơ Đan Tâm để làm tiêu đề cho bài viết này. Dễ thương vì còn lại “một chút gì để nhớ” của con gái anh.

Nằm im giữa trái tim ta
Nhỏ nhoi hạt bụi… tên là Các khuê

Tôi đã đôi lần được gặp anh, quả là anh cũng nhỏ nhoi cả trong dáng hình và lời ăn tiếng nói. Hãy nghe anh thầm thì bên mộ con

Nằm chơi dưới một hàng cây
Lao xao lá, lá thơ ngây chuyện trò
Nằm thanh thản một nấm mồ
Hồn nhiên cỏ, cỏ thơm tho hơi người
Hồn nhiên bao tiếng khóc cười
Tan vào lòng đất thắm tươi linh hồn
Hòa vào màu cỏ xanh non
Bay vào mây khói chiều hôm quê nhà

Cùng năm sinh, cùng năm mất. Ngắn ngủi quá, mong manh quá! Nhưng qua những câu thơ trong trẻo, ta thấy bé vẫn còn sống mãi giữa hoa cỏ đất trời, sống mãi trong tim người cha cũng như trước kia đã từng sống trong bụng mẹ.
(more…)

Phan Tấn Hải

bia_buoc_duong_cua_cai_luong

Tôi biết gì về cải lương? Thiệt sự, không bao nhiêu hết. Đó là lời rất mực chân thật.

Nhưng tôi còn biết một điều nữa: những người như tôi, những người sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn trong hai thập niên trước 1975, đều có cơ duyên tắm người trong dòng sông cải lương, không dám nói là tinh tuyền nhất nhưng hẳn là cả mọi tầng bậc của âm thanh này. Do vậy, khi cầm lên cuốn sách “Bước Đường của Cải Lương” của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh, với tấm hình bìa của một dàn nhạc kiểu như đờn ca tài tử chụp ở Sài Gòn năm 1916, tôi cảm thấy rất mực thân thiết như có hình ảnh mình đang ngồi khề khà uống rượu và nghe những tiếng đờn kìm một thời, dù bản thân mình chỉ là một kẻ ngoại đạo với làng âm nhạc.
(more…)

Nguyễn Xuân Thiệp

bia_coi_tinh_mong_manh

Trần Phù Thế là một nhà thơ được độc giả yêu mến. Anh em chúng tôi quen nhau kể đã khá lâu -hình như khởi đi từ nhà anh Trà Nguyễn ở North Carolina cách đây chừng dăm năm. Từ đó lâu lâu lại gặp nhau khi thì ở Dallas, khi thì ở Atlanta. Và bây giờ gặp ở Greenville, South Carolina.

Chúng tôi gặp nhau trong tình văn nghệ. Rõ ra là vì thơ. Mà thơ anh Trần Phù Thế thì có những điểm đáng yêu. Trước hết là tính mộc mạc, đặc trưng của người miệt Hậu Giang. Còn nhớ chúng tôi đã rất thích thú khi đọc bài Bậu Về của Trần Phù Thế:

bậu về liếc mắt đong đưa
gió Xuân đầy mặt
như vừa chín cây

bậu về má đỏ hây hây
ta mười lăm đã lòng say bậu rồi

(more…)

Khuất Đẩu

bia_toi_ve_dung_ngan_ngo
Bìa tập tranh/thơ TÔI VỀ ĐỨNG NGẨN NGƠ
do Nguyễn Sông Ba trình bày

Ngẩn ngơ vì bạn tôi cũng không còn cùng tôi nhìn những ngọn lau già rạp theo chiều gió hú, vì ba tôi nằm một mình trong ngôi mộ buồn thiu ở Gò Dưa

Và cũng vì hãy còn những người bạn cũ và mới đốt lửa trong vườn khuya để ấm áp đón người từ bên kia trái đất trở về…

Bảy mươi lăm bài thơ và bảy mươi lăm bức tranh soi chiếu lẫn nhau như hình và bóng khiến người xem, là tôi, cũng thực sự ngẩn ngơ vì ngôn ngữ và sắc màu cùng nói lên một chữ rất bình thường mà cũng rất phi thường, đó là chữ TÌNH.
(more…)

Roland Barthes
Lý Thơ Phúc dịch

bia_la_bruissement_de_la_langue

Trong truyện ngắn Sarrazine, khi nói về nhân vật nam bị thiến cải trang thành phụ nữ, Balzac có viết một câu như sau : “Đó là người đàn bà có những nỗi sợ hãi bất chợt, những thay đổi thất thường vô lý, những lo âu bản năng, những táo tợn vô cớ, những lời nói khoác lác và những cảm xúc tinh tế tuyệt vời”. Ai là người nói câu đó? Phải chăng là một nhân vật trong truyện cố tình không biết rằng đó là một gã trai bị thiến dấu mình dưới cái vỏ phụ nữ? Hay là cá nhân ông Balzac, người được phú cho cái kinh nghiệm cá nhân về triết lý đàn bà? Hay là tác giả Balzac, người lên lớp những tư tưởng “văn chương” về bản tính của phụ nữ? Hay đó là sự thông thái có tính nhân loại? Mà cũng có thể đó là một thứ tâm lí học lãng mạn? Chúng ta không bao giờ có thể biết được điều đó vì thật sự là, sự viết chính là nơi huỷ diệt tất cả mọi tiếng nói (giọng điệu), mọi cội nguồn. Sự viết là cái trung tính, cái pha tạp và là cái nghiêng lệch, nơi chủ thể của ta chạy trốn, là cái mê cung đen trắng, nơi biến mất mọi căn cước mà trước hết là đánh mất căn cước của cái thân xác đang viết.
(more…)

Trần Yên Hòa
Bài phát biểu của tác giả trong buổi ra mắt sách

tac_gia_tran_phu_the
Nhà thơ Trần Phù Thế

Hôm nay tôi rất hân hạnh đứng trước các anh chị, để nói qua đôi nét về nhà thơ Trần Phù Thế, người đứng ra mắt tập sách hôm nay với tác phẩm thứ 3 của anh: Cõi tình mong manh

Chắc các anh chị ở đây từng là bạn bè, bạn văn của anh Trần Phù Thế bao nhiêu năm, có anh còn là bạn từ hồi học trò với Trần Phù Thế ở trường Hoàng Diệu, Sóc Trăng, như anh Lâm Hảo Dũng, những người bạn cùng quân ngũ như anh Trần Văn Sơn, anh Đặng Kim Côn…cũng bốn, năm chục năm rồi. Trong khi tôi chỉ là bậc đàn em, cũng mới quen anh Trần Phù Thế khoản năm, bảy năm nay…từ ngày nhà thơ Viên Linh tổ chức Đại Hội 1/3 thế kỷ Thơ tại nhà hàng Emerald Bay, ngày 21 tháng 6 năm 2009, lúc đó Trần Phù Thế bay từ tiểu bang S. Carolina sang, đó là lần đầu tiên tôi gặp anh.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

le_van_thien
Nhà văn Lê Văn Thiện thời còn trẻ

Lê Văn Thiện sinh ngày 10 tháng 5 năm 1947 tại thị trấn Giã, Khánh Hòa trong một gia đình nông dân nghèo. Sau khi cha chết vì làm lụng cực nhọc, Thiện phải bỏ học lúc mới xong chương trình trung học đệ nhất cấp tại trường Trung Học Võ Tánh, Nha Trang, vào lính vì không biết một nghề nào để làm lụng đỡ đần mẹ già và em gái. Anh có thời gian 2 năm phục vụ tại Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 47, SĐ 22 Bộ Binh, đóng tại Phú Yên. Sau khi tốt nghiệp trường SQ Trừ Bị Thủ Đức, Thiện được thuyên chuyển về Trung Đoàn 14 Sư Đoàn 9, tham gia các trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường Miền Tây Nam Bộ và Campuchia.

Truyện ngắn đầu tay, Ngoại Lệ, đăng trên Văn số 47 lúc mới 18 tuổi, ra ngày 1.12.1965 dưới tên Văn Lệ Thiên. Sau đó truyện của ông đăng đều đặn trên Văn, Bách Khoa, Trình Bày, Ý Thức…

Đến nay Lê Văn Thiện có 5 tác phẩm được phát hành, đều là truyện ngắn: Một cách buồn phiền, Sao không như ngày xưa, Chuyện đời, Mưa lạ, Quế.
(more…)

Hoàng Nhất Phương

bia_cuu_long_can_dong_bien_dong_day_song

Đồng Bằng Sông Cửu Long nổi tiếng là nơi ruộng vườn thẳng cánh cò bay, là vùng đất nông nghiệp trù phú và đa dạng với Gạo Ý Đông, Gạo Móng Chim, với Nếp Thơm, Nếp Sáp, Nếp Đen, với giống Dừa PB121 của bác Tám Thưởng – người được mệnh danh là Ông Già Bến Tre trồng dừa được giải thưởng quốc tế, và với những tràm chim, sân chim, vườn chim nổi tiếng…Trong tác phẩm “Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng,” nhà văn Ngô Thế Vinh nhận xét: “Con sông Mekong như mạch sống đã và đang ngày một gắn bó với tương lai vận mệnh của các quốc gia Đông Nam Á, mà Việt Nam lại là quốc gia cuối nguồn…” [trích từ lời dẫn nhập] Ảnh hưởng ngày càng xấu từ mọi phía đổ ập lên môi trường sinh thái của thiên nhiên, khiến tác giả có cảm tưởng hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa, bởi những hoạt động thiếu trách nhiệm, thiếu quan tâm đến giá trị nhân bản do một nhóm người, hay do chủ trương của các nhà lãnh đạo hình thành. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến sự sinh tồn của hàng trăm triệu con người thuộc các quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Những nhân vật hư cấu như ông Khắc, như bác sĩ Duy, như Cao, như Hộ, như Điền, như Thuận, như Bé Tư…v.v.., phải chăng chính là hóa thân của nhà văn Ngô Thế Vinh nói riêng, của các nhà khoa học về môi trường nói chung, thầm lặng đi vào mặt trận Biển Đông đối diện với cuộc chiến rộng lớn về môi trường, về chủ quyền đất nước, về những thảm họa sẽ xảy ra một khi giòng Cửu Long cạn nước vì các công trình xây đập nước của Trung Quốc.
(more…)

Đinh Cường

self_portrait-amedeo_modigliani
Modigliani – chân dung tự họa

Còn nhớ, một buổi sáng thật tình cờ, Bạch Thái Quốc, người bạn thời còn làm trưởng ban Việt ngữ đài R.F.I tại Paris gọi qua Virginia hẹn phỏng vấn. Nói là nhân vừa xem triển lãm tranh Modigliani ( Triển lãm mang tên  Modigliani, L’Ange au visage grave  tại Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Luxembourg từ 23-10-2002 đến 2-3-2003 ) nhớ đến những tranh thiếu nữ của tôi vẽ ngày trước, cũng hai bàn tay dài, chiếc cổ dài, đôi mắt sương khói. Quả thật vậy, nhớ lại đầu thập niên 1960 ở Saigon, chúng tôi, những họa sĩ trẻ, đang hăng say vẽ, tìm tòi, sáng tạo … đã tìm thấy ở Chagall, Modigliani, Klee … một không khí hư thực, thơ mộng, gần thẩm mỹ phương đông, với thiếu nữ, ngựa, đồi, và trăng, bàng bạc khói sương, một tình yêu phơi phới :

“Trong vườn tôi hoa phù dung đã nở
ngày rất hồng và chim hót rất xanh”
(Nguyễn Xuân Thiệp)
(more…)

Tâm Nhiên

tran_doi
Nhà thơ Trần Đới (1933-2014)

Từ thuở nào xa mù sương khói, cuối năm 1933, thi sĩ Trần Đới sinh ra trên mặt đất này, nơi làng chài, bãi biển cát trắng Lăng Cô, rào rạt sóng vỗ ngàn năm ấy, dường như để thi hành một sứ mệnh duy nhất, đó là chỉ làm thi sĩ mà thôi. Với một hồn thơ bẩm sinh, hấp thụ dưỡng chất vô ngần của hồn thiêng sông núi từ khi mới mở mắt chào đời, thi nhân đã may mắn chiêm ngưỡng, thưởng thức trọn vẹn biển rộng sông dài, những phong cảnh ngoạn mục suốt thời thanh xuân, nên thường xuyên xúc động kỳ cùng, rung cảm miên man một điều chi trong từng hơi thở, để rồi bật dậy thành những tiếng thơ : Dấu Chân Trên Biển, Tảo Mộ Lênh Đênh, Nắng Chợ Mưa Chùa, Bụi Đời Ca, Võng Nắng, Sầu Ca, Thân Quen, Trăm Năm Đèo Biển Lăng Cô… bay bổng lồng lộng, dập dìu bướm hoa phất phới :

Trời hồng lồng lộng nắng bay
Mai vàng rực ngõ gió đầy vườn xanh
Non cao cây uống mây lành
Biển dài sóng trải bãi gành mặn hơi
Tảo hoa đường rộn tiếng cười
Áo màu phất bướm thơm lời chào xuân

(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

L’art est une méditation de la vie, non de la mort.
(Jean Paul Sartre)

nguyen_vien
Nhà văn Nguyễn Viện

Hình như, chỉ sau khi Nguyễn Viện bị “đá đít”, văng ra khỏi tòa soạn một tờ báo không mấy tiếng tăm ở Sài Gòn (chỉ vì những tư tưởng và hành vi đứng hẳn phía bên lề rất trái) thì ông mới vùi mình trong căn phòng hẹp, hăng say viết, háo hức viết, viết đến dại khờ máu me tinh huyết từ thơ đến truyện ngắn, tiểu thuyết, với một thái độ không dạng chân, thỏa hiệp; không đánh đĩ ngòi bút. 15 tác phẩm lần lượt ra đời trong chừng ấy năm ngắn ngủi, chứng tỏ ông đã chọn lựa con đường đi “đúng” cho riêng ông. Những tác phẩm được xuất bản, hầu hết đều in “chui’ dưới tên nhà xuất bản Cửa và trên các trang mạng.

Việc làm này cũng dễ hiểu, bởi không một nhà xuất bản nào trong nước dám liều mạng in tác phẩm ông; thứ đến, khi phát hành liệu độc giả có chấp nhận cái bút pháp bông phèng hổ lổn trong mớ chữ nghĩa bị lật tung lên, như một viên đá cố ý ném vào bãi phân, văng tung tóe. Và, hơn hết liệu “bọn họ” có chịu để yên cho ông?
(more…)

Tâm Nhiên

tam_nhien-tue_sy
Tâm Nhiên và Tuệ Sỹ

Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về

Đó là hai câu thơ mở đầu tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn của Tuệ Sỹ. Quê quán Quảng Bình, sinh năm 1943, Tuệ Sỹ nhỏ hơn Phạm Công Thiện 2 tuổi, cũng là một bậc thiên tài xuất chúng, làu thông kinh điển Nguyên thủy, Đại thừa và nhiều thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hán, Phạn, Pali. Khi mới vừa 26 tuổi đã viết Triết Học Về Tánh Không làm chấn động giới văn nghệ sĩ, học giả, thiện tri thức Việt Nam thời bấy giờ. Cùng đứng tên trong nhóm chủ trương tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, trước năm 1975, Tuệ Sỹ cũng là giáo sư giảng dạy Thiền Tông, Trung Quán Luận ở Đại học Vạn Hạnh và Cao đẳng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang, nổi bật lên như một hiện tượng độc đáo, gây bao nguồn cảm hứng cho những tâm hồn ưa thích thiền học, thi ca và phiêu lãng.“Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết mọi chân trời mới cũ, từ Đường thi Trung Hoa tới siêu thực Tây phương.” Bùi Giáng đã nhận định như thế về Tuệ Sỹ qua bài thơ Không Đề :

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
(more…)

Lâm Hảo Dũng

tac_gia_tran_phu_the
Nhà thơ Trần Phù Thế

Nhà thơ Trần Phù Thế một tên tuổi không mấy xa lạ đối với bạn đọc yêu thi ca nhất là những anh em bạn bè văn nghệ cùng một thời đồng hành với anh tại miền Tây sông Cửu.

Với khuôn mặt hiền hòa, đôn hậu nhưng ẩn chứa một trời mơ mộng và hồn thơ đã phát tiết sớm vào đầu thập niên 1960. Sau những năm gian khổ của đời lính chiến, những ngày tháng bị giam cầm khi miền Nam sụp đổ, nhà thơ lúc bước khỏi ngưỡng cửa lao tù lại phải đối diện với nỗi đau khổ dày xéo tâm hồn mình, khi người bạn đời đã rẽ sang hướng khác.
(more…)

Đặng Châu Long

bia_ban_tay_nho_duoi_mua

Khi một người chết đi, anh ta nắm trong tay
chỉ những gì mình đã cho đi khi còn sống.

Jean Jacques Rousseau

“Tất cả đã đến, đã hiện hữu, rồi ra đi. Tự xóa nhòa theo tiếng thở rì rào của biển cả”.

Dòng chữ trên trang đầu chương khởi nhập của quyển truyện Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa của Trương văn Dân đã gom gọn chung cuộc của một tập truyện dày trên 400 trang viết. Định mệnh đã được chỉ ra ngay từ trang viết đầu tiên. Những trang tiếp sau là những cơn mưa đời mãi tuôn trên bàn tay nhỏ, không che đủ thân phận người.

Hình ảnh một thiếu nữ mong manh chiếc áo choàng, khoanh tay dõi ngóng trước biển tràn mây xám, trên bìa sách như hình tượng một cõi sống bất toàn. Những dịu êm, những cuồng nộ biển đời luôn không nằm trong sự đoán định của nhân gian.
(more…)

Khuất Đẩu
(Đọc Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, G. Marquez).

bia_hoi_uc_ve_nhung_co_gai_diem_buon_cua_toi

Mới đây, trong thư từ biệt bạn bè, Márquez viết, “nếu Thượng Đế cho sống thêm chỉ một giây, tôi sẽ nói yêu em, và rằng, mọi người quá sai lầm khi cho là đã già thì không còn yêu ai được nữa, mà không hề biết chính vì ngừng yêu thương nên họ mới già đi!”

Tôi viết những dòng này khi tôi đang ở tuổi bảy mươi mà không sợ bị diễu cợt là một lão già mất nết. Bởi vì tôi đang đón nhận thông điệp của ông, một người yêu cuộc đời đắm đuối đến hơi thở cuối cùng, và đang sững sờ với trái tim để trên môi theo cách nói của ông, khi đọc tác phẩm kỳ dị Memoria de mis putas tristes, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi.

Hồi ức chứ không phải hồi ký nên câu chuyện ngắn và mỏng như giấy vấn thuốc lại lan man khiến ta có cảm giác như đang đi lạc vào một vùng khói sương hư ảo.
(more…)

Ngô Nguyên Nghiễm

phan_ba_thuy_duong-nguyen_van_bay
Phan Bá Thụy Dương – Tranh của Nguyển văn Bảy

Hai câu kệ của tổ sư Thường Chiếu đời nhà Lý, được nhà thơ Phan Bá Thụy Dương chuyển ý “ ngoài cõi trời bao la vô tận đó/ có nơi đâu chẳng thể gọi là nhà”. Cái khuynh khoái của người nghệ sĩ chất nhẹ trên đôi vai gánh tang bồng, thì thế sự chất chồng chung quanh nẻo sống chỉ là những cát bụi phù du. Bước đạt ngộ của kẻ làm văn nghệ hình như cũng tương đồng với thậm thâm vi diệu pháp của người tu chứng. Quẫy trên lưng cả một vũ trụ nghiệp chướng dầy đặt những hạnh phúc hay khổ đau, như quẫy nhẹ cả hư không trong lòng người đạt ngộ. Thơ Phan Bá Thụy Dương có cái gì nhè nhẹ, loáng thoáng lúc khinh bạt như hình dáng một người hàn sĩ vác thanh kiếm hồng, vửa du hành vửa ca tụng thanh thoát giữa rừng bạch tùng đầy mù sương và khí thiêng. Nhưng người khách tiêu dao kia, không chỉ một đường đi thẳng trầm lặng trong vũ trụ riêng mình. Hàn sĩ vác thanh khí gươm hồng, ngoãnh lại sau lưng cười nhẹ nhàng chia sẻ dưỡng trấp hậu thiên cùng người đồng điệu nhân gian. Cái ngoáy nhìn lại trong giây phút vô hư chính là trang trải nỗi niềm thanh thản bồ tát đạo, hình như chỉ để chia sẻ những tinh hoa và hạnh phúc thường hằng, còn ẩn hiện trong hàng vạn lớp thượng tầng sinh khí với vạn vật của ba ngàn thế giới quy tông.
(more…)

vu_huu_dinh2
Nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981)

Từ độ Nguyễn Bính bị “giam mình” bởi Trăm Hoa đua nở, để rồi phải chết trong cái tận cùng của sự đói khổ vào một đầu ngày xuân, nơi bè bạn. Cứ tưởng rằng, văn học sử Việt Nam không phải viết tiếp những cái bi thương đó. Nhưng đúng mười lăm năm sau (1981) thi sĩ Vũ Hữu Định ra đi, trong cái khốn cùng ấy, đã lặp lại y trang bóng hình Nguyễn Bính. Tuy không cùng một thế hệ, nhưng Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định đều là hai thi sĩ đích thực nhất, lấy thơ, rượu và rong chơi bạn bè, giang hồ làm thú vui của cuộc đời. Nếu như Lỡ Bước Sang Ngang hay đến độ trùm cả lên tên gọi của Nguyễn Bính, thì Còn Một Chút Gì Để Nhớ đã làm nên tên tuổi nghệ sĩ Vũ Hữu Định. Tôi không có ý so sánh, nhưng quả thật, Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định có những cá tính, thân phận khá trùng hợp nhau.
(more…)

Roman JakobsonClaude Lévi-Strauss
Lý Thơ Phúc dịch

les_chats

Les Chats – Beaudelaire

1Les amoureux fervents et les savants austères
2Aiment également, dans leur mûre saison,
3Les chats puissants et doux, orgueil de la maison,
4Qui comme eux sont frileux et comme eux sédentaires.

5Amis de la science et de la volupté
6Ils cherchent le silence et l’horreur des ténèbres;
7L’Erèbe les eût pris pour ses coursiers funèbres,
8S’ils pouvaient au servage incliner leur fierté.

9Ils prennent en songeant les nobles attitudes
10Des grands sphinx allongés au fond des solitudes,
11Qui semblent s’endormir dans un rêve sans fin;

12Leurs reins féconds sont pleins d’étincelles magiques,
13Et des parcelles d’or, ainsi qu’un sable fin,
14Étoilent vaguement leurs prunelles mystiques. [1]

Nếu người ta tin tưởng vào mục tiêu phẩm “Con mèo Trot” của Champfleury là nơi mà bài sonnet của Baudelaire được xuất bản lần thứ nhất (Le Corsaire, số ngày 14/11/1847) thì bài thơ trên đây ít ra là được viết vào tháng 3/1840, và trái với khẳng định của một số nhà chú giải – văn bản trên tờ Le Corsaire và văn bản trong tập thơ Hoa Ác trùng khít từng từ một với nhau.
(more…)

Sigmund Freud
Lý Thơ Phúc dịch

cover_les_freres_karamazov

“Cuốn tiểu thuyết vĩ đại mà người ta chưa từng viết ra”
(Sigmund Freud)

Trong nhân cách phong phú của Dostoïevski, ta có thể nhận ra 4 phương diện sau đây: nhà văn, người bệnh thần kinh, nhà đạo đức và kẻ phạm tội. Làm thế nào định hướng được trong cái phức thể rắc rối ấy?

Nhà văn là điều không ai có thể chối cãi: ông ta có địa vị không xa mấy sau Shakespeare. Cuốn Anh em nhà Karamazov là cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất đã từng được viết ra và người ta khó có thể đánh giá cao hơn nữa trường đoạn Đại phán quan [2], một trong những thành tựu cao nhất của văn chương thế giới. Nhưng tiếc thay, trước vấn đề của người sáng tạo văn chương, việc phân tích tâm lý chỉ có thể đầu hàng mà thôi.
(more…)

Tâm Nhiên

tam_nhien-nguyen_luong_vy
Từ trái: Tâm Nhiên và Nguyễn Lương Vỵ

Trời đất mênh mang sương khói, một thời thơ trẻ dại, bàng bạc nắng quái u buồn nơi quê nhà giữa hai đầu biển núi lung linh. Sinh năm 1952 ở Quán Rường, Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam, một chốn miền “Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” ấy, Nguyễn Lương Vỵ lớn lên trong một gia đình có truyền thống Nho học. Từ thuở nhỏ vốn bẩm sinh có năng khiếu làm thơ, đặc biệt được ông nội ( nguyên là một nhà Nho, có thời kỳ làm chánh tổng ) trực tiếp truyền dạy các loại thơ tứ tuyệt, Đường luật, nên biết mần thơ ngay từ lúc 12, 13 tuổi, thuở còn chạy rông chơi bên mấy cổ tháp rêu phong Chiên Đàn, cạnh dòng sông Tam Kỳ và bãi biển Tam Thanh xanh biếc mộng.
(more…)

Đặng Đình Túy lược thuật theo “Beauvoir In Love” của Irène Frain, nxb Michel Lafont.

bia_beauvoir_in_love

“Parce que les jambes, le ventre, le sexe, aucune importance ; c’est le cœur qui compte…” (Irène Frain)

Tình yêu là một món quà. Chắc là của trời cho. Vì nếu không phải vậy thì ai cũng phải có chứ sao lại kẻ có người không, mà đôi khi nó còn đến với ta rất muộn màng. Dù vậy vẫn còn hơn không. So với cuộc sống dài đằng đẳng, chỉ cần vài giây phút chao nghiêng ấy đủ làm món nhắm cho ly rượu đời, “tình trong giây phút mà thành thiên thu” là vậy. Ngược lại, cũng có trường hợp tình yêu đến như cơn cuồng phong, phá phách tan tành. Chưa chắc nhận được món quà như vậy đã hay. Tốt hơn là đừng có. Nhiều đôi lứa chẳng hề biết yêu là gì mà vẫn sống với nhau đến mãn đời, sinh con đẻ cái tùm lum, và dù có khi cơm không lành canh không ngọt nhưng chưa đến nỗi phải đâm chém nhau gây án mạng.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

lam_anh
Nhà thơ Lâm Anh

Lâm Anh sinh năm 1942 ở Quảng Ngãi. Ông thuộc thế hệ chúng tôi nhưng cách tôi một khoảng năm tháng khá xa. Biết và đọc ông khá lờ mờ và không nhiều, khi ông còn là cán bộ ngành thông tin ở một huyện nhỏ quê nhà, trong nhóm Trước Mặt của Phan Nhự Thức. Mãi tới năm 2004, tình cờ gặp ông ở Đà Lạt và tình cờ được nghe ông đọc thơ của chính ông trong bữa rượu mới nhận ra: ông có nhiều con người trong một người. Ông la đà trong men rượu và thơ la đà trong ông giữa ngọn đồi đầy cỏ hoa và đêm xuống nhập nhòa. Thật bất ngờ: bất ngờ bởi chất thơ lạ, bởi giọng đọc lạ, gần như chất giọng ấy đã lột truồng tất cả tứ trong thơ, lột truồng chính ông, lột cả màn đêm để đắm chìm vào cõi khác, bồng bềnh mênh mông… tưởng chừng như ông đang trầm mình trong đáy hồ Xuân Hương vọng lên những tiếng chép miệng não nuột một kiếp người:

Như thể mày vừa ra khỏi núi
chống gậy bằng vai chống trên vai
đôi chân ngâm rượu lâu ngày ấy
chợt rã vào tao những hớp đầy…
Muốn thụi cho nhau đau mấy cú
cho rã tan thêm nỗi lục bình
nghĩ thương con nước không còn sức
ngầu bọt vào em ở cuối đường
Thôi tao về
nói sao cho hết
mặc mẹ mặt trời mọc ở đâu
chớ mở bàn tay ra hỏi thử
đã cầm bao nhiêu cõi nổi trôi
(Gặp Hạ Đình Thao).
(more…)

Thụy Khuê

bia_buom_trang

Nếu chỉ có một năm để sống” bạn sẽ làm gì? Ðây có thể là đề tài một cuốn phim hồi hộp, một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn hay một tác phẩm văn học phân tâm. Nhất Linh chọn giải pháp thứ ba: Bướm Trắng là một ăng-kết của Trương về bản ngã mình. Trương bị lao và bác sĩ cho biết chàng chỉ có thể sống được một năm nữa là cùng. Nhất Linh đem máy ghi âm đặt vào óc Trương để ghi lại những ý nghĩ, những phản ứng của Trương từ khi biết mình chỉ còn một thời gian sống nhất định.

Phản ứng đầu tiên của Trương là sẽ ghi vào sổ nhật ký, ngày 21/2: Hôm nay mình chết (Bướm Trắng, NXB Ðời Nay tái bản, 1970, trang 34). Ðó là cái chết đầu tiên, sau khi biết mình sắp chết, cái chết này biểu hiện tính cách hóa thân của hai từ Bướm Trắng và đưa Trương vào đoạn đời thứ nhì, đoạn đời mà Trương quyết định rằng từ nay “chàng sẽ nếm đủ các khoái lạc ở đời, chàng sẽ sống đến cực điểm, sống cho hết để không còn ao ước gì nữa, sống cho chán chường. Trương thấy mình nô nức hồi hộp mà lại sung sướng nữa. Chàng sung sướng vì chàng thấy mình như con chim thoát khỏi lồng, nhẹ nhàng trong một sự tự do không bờ bến. Những cái ràng buộc, đè nén của cuộc sống thường không có nữa, chàng sẽ hết băn khoăn, hết e dè được hoàn toàn sống như ý mình.

– Chết thì còn cần gì nữa?” (trang 38)
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

bia_ky_vat_cho_em

Trước và sau thập niên 70, chiến tranh Việt Nam bùng phát dữ dội và đó cũng là hệ quả tất yếu khiến hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh đến tuổi phải từ giã sự nghiệp, sách vở, giảng đường để tham gia cuộc chiến với nhiều cách khác nhau. Đó cũng là thời gian xã hội Miền Nam có nhiều biến động nhất: chiến tranh lan rộng sâu tận thành phố, những cuộc biểu tình lớn nhỏ dưới nhiều chiêu bài, khuynh hướng hỗn tạp, đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Và chính sự khủng hoảng chính trị, xã hội  dẫn tới một hiện tượng không thể phủ nhận: văn đàn Miền Nam xuất hiện những khuôn mặt trẻ đầy bất ngờ, mới mẻ, phần nào làm mới sinh khí văn chương vốn dĩ bị che mù bởi dòng văn học hiện sinh, bị lấn át bởi những đàn anh tên tuổi. Đó là những Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Y Uyên, Vũ Hữu Định, Trần Thị Ngh… Công chúng, nhất là giới trẻ đã đón nhận họ như đón nhận một luồng gió mới, một sinh khí mới trong dòng văn học Miền Nam.
(more…)

Hoài Ziang Duy

bia_anh_biet_da_nang_qua_may

Tôi biết Nguyễn Nam An (tức nhà văn An Phú Vang ) khi chúng tôi cùng đứng chung trong Tuyển tập truyện ngắn 14 tác giả do nhà thơ Phạm Ngọc thực hiện (Văn Tuyển xuất bản năm 2000), từ đó thỉnh thoảng có trao đổi email qua lại, nhưng chưa có duyên gặp gỡ.

Những ngày cuối năm 2013, tôi nhận được tập thơ Anh biết Đà Nẵng qua mây của Nguyễn Nam An, do Quyên Bút xuất bản. Tập thơ với 3 tác giả Bùi Ân, Dương Nổ, Nguyễn Nam An cùng đứng chung, với bìa xoay ngược 2 mặt trước sau. Sách do họa sĩ Mai Phương (tức nhà văn nữ Trầm Hương) trình bày bìa, đẹp trong sáng. Tôi nghĩ đây là sự thể hiện tình bạn hữu lâu năm.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên

lu_quynh
Nhà thơ Lữ Quỳnh

Tay với trời cao không thấu nổi
Tuổi già mất bạn cũng mồ côi

(LQ)

Rất có thể Lữ Quỳnh đã làm những câu thơ đầu tiên trước khi viết những trang văn. Nhưng rồi, văn của ông được ấn hành trước những tập thơ. Đối với Lữ Quỳnh, cái trước và cái sau, hình như không phải là dấu mốc để văn chương của ông khởi đi. Bởi văn ông viết, có rất nhiều trang, nhiều đoạn như thơ. Đó là nét đặc thù của một Lữ Quỳnh, chàng nghệ sĩ luôn tìm kiếm một nửa đã mất trong ông. Cái nửa ấy là người tình, người bạn, là góc phố, là cơn mưa, là tuyết trắng…là những gì ông đã đến với, và rồi chúng đã “bỏ rơi ông”, một mình, cô độc.
(more…)

Tâm Nhiên

pham_cong_thien_1
Triết gia Phạm Công Thiện (1941-2011)

Có những con người đến rồi đi qua mặt đất trần gian này như một cơn giông tố bão bùng sấm sét, gây chấn động kinh hồn, làm bùng vỡ một điều chi kỳ vĩ, tinh khôi trên bầu trời tâm thức nhân loại, Phạm Công Thiện là một con người độc đáo vô song như vậy.

Đấy là một thiền sư, triết gia, giáo sư, nhà văn, nghệ sĩ hay một thi sĩ kỳ tuyệt thiên tài như Henry Miller từ Hoa Kỳ đã phát biểu trong thư gởi Phạm Công Thiện đề ngày 8.8.1966: “Mới ở tuổi 25 mà là khoa trưởng văn chương ở một đại học nổi tiếng trong xứ sở của ông. Điều đó thật phi thường quá, quả thật khó tin, thật như chuyện huyền thoại.” Đúng vậy, một con người đã đến và đi như huyền thoại giữa cuộc sống đầy biến loạn tang thương trên quê hương Việt Nam vào thập niên 1960 đến 1970.
(more…)

Lâm Hảo Dũng

hoai_ziang_duy
Nhà thơ Hoài Ziang Duy

Hoài Ziang Duy, theo như phần tác gỉa tự giới thiệu, anh là người làm thơ rất sớm và đồng hành cùng nhiều anh em khác, đặc biệt ở Châu đốc, quê nhà cuả anh. Những Ngô Nguyên Nghiễm, Mặc Lan Hoài, Phạm Yến Anh, Lưu Nhữ Thụy, Nguyễn Thành Xuân…

Gia nhập quân đội và cũng đau niềm đau chung đất nước. Tù đày và bỏ nước ra đi. Xứ người, tâm trạng ray rức, cuộc sống mới đầy những thử thách, và ở anh, khám phá một lối suy nghĩ rất xác thực.

“Từ em tay phố ngỡ ngàng
Từ Hoa thịnh Đốn đem Sàigòn sang
Điệu hò câu hát ngổn ngang
Điệu oan trái khúc điệu tràng tịnh thân
Bước qua phấn bụi hồng trần
Mặt xúc xắc đổ mỗi phần an cư
Dẫu xoay vòng vận bù trừ
Bề trong, mặt trái kẻ thù chính ta”
(Ngày tôi lạ mặt, trang 10)
(more…)

Phạm Đức Nhì

thuyen_troi_lenh_denh

Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam với những lời nhận xét:

Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây (Tống biệt hành) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. (1)
(more…)

Tâm Nhiên

nguyen_duc_son-dinh_cuong_2
Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn – tranh Đinh Cường

Không biết từ đâu ta đến đây
Mang mang trời thẳm đất xanh dày
Lớn lên mang nghiệp làm thi sĩ
Sống điêu linh rồi chết đọa đày

Mấy câu thơ thời tuổi trẻ, lúc mới 23 tuổi ấy đã theo suốt cuộc đời Nguyễn Đức Sơn, một thi sĩ kiệt xuất trên bầu trời văn nghệ Việt Nam hiện đại. Rờn lạnh hoang vu một tâm hồn cô độc cô liêu khốc liệt, luôn luôn ngún cháy bên trong chiều sâu linh thức một ngọn lửa tịch mịch vô hình, thường trực đứng giữa đôi bờ sống chết giữa đỉnh cao và hố thẳm của tồn sinh bức bách ngay từ những ngày còn chạy lông bông đùa rỡn cùng sóng vàng cát trắng vu vơ dọc mấy hàng cây dương liễu xanh ngút ven bãi biển Ninh Chữ xa mù. Từ đó, từ thuở nhà thơ chào đời năm 1937 ở làng quê Dư Khánh, Thanh Hải, Ninh Thuận đến nay cũng hơn 70 năm trời đằng đẵng trôi qua rồi mà ngọn lửa tịch mịch đó vẫn còn hừng hực rực ngời như một ngọn lửa thiêng trong lòng người thi sĩ dị thường:

Tôi chỉ có lửa
Và tịch mịch
Trong người

(more…)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Nguyen_Trai
Nguyễn Trãi (1380–1442)

Gửi Ức Trai

Người sợ đưa nhanh nhát chổi
Làm bóng hoa tan
Nhưng khi xô một tảng núi bạo tàn
Ức Trai! Người không biết sợ
Thà chịu một vừng trăng đổ vỡ
Để đổi lấy một mặt trời đại nghĩa giữa hành tinh.  (more…)

Lâm Hảo Dũng

bia_o_cua

Trong bài trước, chúng tôi được hân hạnh giới thiệu đến qúi bạn đọc thi tập “Dưới Trời Khói Lửa” của Trần Hoài Thư, tập thơ ghi lại những ngày tác giả cầm súng giữ đất trời Bình Định, Tây Nguyên trong tuyển tập Ô Cửa.

Hôm nay, chúng tôi hân hoan, mạn phép, mở cánh cửa hồn nhà thơ lính qua thi tập “Tình Si”, bởi đôi khi thơ thẩn qúa nên đâm ra ngớ ngẩn: “Chưa biết tên nàng, biết tuổi nàng – Mà sầu trong dạ đã mang mang” của Xuân Diệu thi sĩ thuở nào.

Ai cũng giữ riêng cho mình những ngăn kéo trong tim, tác gỉa thuở vào đời đã run rẩy:

“Nhã ở làng trên – Anh về làng dưới” để rồi “Không biết khi nào anh được hôn em” (Nhã; trang 132).
(more…)

Lâm Hảo Dũng

bia_o_cua

Trong cuộc sống chạy theo kim đồng hồ vả một bản tánh lục bình trôi, hôm nay, một ngày không, đọc lại “Ô Cửa”, mới thấy tâm sự của một người lính miệt mài với tay súng rất ân cần, đầy trách nhiệm. Và nơi xứ người, chàng lính ấy vẫn một lòng với quê hương đất nước, đặc biệt về thi văn của một thời qua phân mà anh cũng như những anh em khác đã bất ngờ tham dự.

Những Tuyển tập thi ca thời chiến , tôi nghĩ đã ngốn biết bao thời gian, tâm trí của anh để sưu tập, chọn lọc và gởi đến bạn đọc bốn phương như một món qùa, một kỷ vật của chiến tranh. Chiến tranh qua rồi, kỷ vật cũng sẽ chỉ có một lần và tàn phai theo năm tháng. Không ai kéo ngược lại thời gian để bày trò chơi súng đạn mà đoạn cuối như những đọan phim buồn.Những tráng sĩ trẻ thời Xuân Thu, Chiến Quốc ấy đã ngủ vùi trên những chiếc xe lăn và giai nhân đã sớm bạc đầu trước khi mùa giông bảo kết thúc. Tang thương, chết chóc, chia lìa…
(more…)

Phan Tấn Hải

ho_bieu_chanh
Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958)

Tác phẩm “Kể Chuyện Tình Buồn, 2013” của cụ Hồ Biểu Chánh (HBC), bản do Giáo sư Nguyễn Văn Sâm giới thiệu và chú giải vừa hoàn tất cuối năm 2013. Tên cũ của sách này có tên là “U Tình Lục,” nghĩa là chuyện tình buồn..

Như thế là tròn 100 năm, tính từ năm “U Tình Lục” (UTL) xuất bản là 1913, lúc đó cụ Hồ Biểu Chánh in với tên thật là Hồ Văn Trung. Trong thời gian một thế kỷ đó, rất nhiều ý tưởng nhà văn Hồ Biểu Chánh nêu lên trong UTL bây giờ vẫn còn là cấp tiến, vượt qua vòng rào dư luận xã hội Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên nên là, tại sao tập truyện thơ lục bát hay tuyệt vời như UTL lại ít được công chúng biết tới như thế?
(more…)

Đặng Đình-Túy

bia_long_lanh_troi_xua

Giữa hai kẻ có chung một theo đuổi, dù theo một cách chuyên cần hay chỉ là hứng khởi chốc lát, vẫn có chỗ gần gũi và vẫn có điều để nói với nhau. Đó là cách tôi phân bua khi đã giành công việc của Bà Tám (bút hiệu dùng viết blog của NTHH), một người quen viết phê bình, có cách phân tích tế nhị, sâu sắc, và nhất là đọc nhiều biết nhiều. Thế nhưng dạo này  bà bận bịu quá mà tôi thì ngồi không… Vả lại, ở đây tôi không có tham vọng phê phán mà chỉ nhằm giới thiệu tập truyện ngắn “Lóng Lánh Trời Xưa” của Đặng Kim Côn mà bà có nhã ý gửi cho đọc.
(more…)

Cao Kim Quy

bia_ban_tay_nho_duoi_mua
Tiểu thuyết của Trương Văn Dân, Nxb Hội Nhà văn, 2011

Cầm trên tay cuốn tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa (tác giả Trương Văn Dân), cảm giác đầu tiên của người có cặp mắt đã bắt đầu lão hóa là… ngán! Hơn 400 trang sách, mệt chứ chẳng chơi! Nhưng sách in đẹp, tác giả lại là người tuy có “quen” nhưng chưa thật “biết”, tôi tự nhủ, tại sao không nhân cơ hội này để “làm quen”. Thế là đọc. Và tôi mừng mình đã có quyết định sáng suốt.

Nếu bạn mong chờ sẽ gặp những trang tiểu thuyết hấp dẫn, lôi cuốn kiểu “phải đọc một mạch thâu đêm” thì e bạn có thể thất vọng, vì cuốn sách mở ra cho chúng ta khá nhiều vấn đề và đòi hỏi người đọc có lúc phải dừng lại, chiêm nghiệm nhiều điều.
(more…)

Phạm Đức Nhì

tu_xuong
Nhà thơ Tú Xương (1870-1907)

Sau buổi nhậu cuối tuần, mấy thằng bạn ngồi uống trà, cà phê bù khú chuyện văn chương. Được một lúc, câu chuyện lan man đến thơ: làm thơ nên làm thơ dài hay thơ ngắn? Một ông bạn, sau khi nói một câu ba phải để vừa an toàn (khỏi sợ sai) vừa hợp lòng mọi người: “Thơ dài hay ngắn hoàn toàn tùy sở thích của thi sĩ”, rồi có lẽ do thúc đẩy của hơi men, bỗng nổi hứng tuyên bố thẳng thừng:

“nhưng những bài thơ ngắn quá (4 câu hoặc ít hơn) không đủ để tác giả bày tỏ lòng mình; nó giống như mấy thằng cha mắc chứng sậu tinh, chưa nhập cuộc đã khóc ngoài quan ải, chưa đi đến chợ đã hết tiền, để người bạn tình nằm tô hô, thất vọng trên giường.”
(more…)

Nguyễn Thị Khánh Minh

bia_nam_chu_nam_cau

Cuối thu. Có một thứ rượu, chắc ngon cũng cỡ hoàng hoa tửu của thu ẩm trong thú sống vui của người xưa, rượu thơ.

Trong lất phất mưa, lạy trời mưa xuống, mưa tầm tã đi để Calif. yên bình này không lo lắng về một cơn hạn hán, trong buồn bã cơn bệnh kéo thân thể nằm nghỉ ngơi, nhớ người bạn có gửi tới một bản thảo thơ, mở máy đọc, tâm hồn nhẹ và mỏng hẳn đi theo những sợi mưa bay ngoài cửa sổ, phất phơ với trời đất thiên nhiên, nghe xa xa tiếng cười của Thánh Thán, chắc tại sáng sớm nay chợt nghĩ sẽ ăn đậu chiên với dưa muối chua theo lời ông trước khi chết: “dưa muối mà ăn với đậu vàng thì có vị như là hồ đào, nếu phép này được lưu lại thì ta chẳng còn gì ân hận.” Những thú vui của ông sao mà nó giản dị, và phải tu luyện cái nhìn thế nào để thấu thị những điều nhỏ bé ấy?

Lúc này, đọc thơ bạn, trong cơn bệnh, cho khí trời thu hòa âm với cảm xúc mình, là chỉ muốn bắt chước hưởng những phút vui bình thường trong cuộc sống mà thôi, chứ không dám thưa thốt chuyện văn chương.
(more…)

Đặng Đình Túy

homosexuality

Thuở ấy tôi còn bé, nơi phố nghèo và thưa thớt nơi chúng tôi trú có một hiện tượng khiến bọn trẻ tò mò : có đứa con trai khoảng 12, 13 tuổi không biết có bố mẹ không, nhưng anh ta lang thang ngoài chợ hoài, cách thế sinh nhai của anh ta là bán những món ăn rẻ tiền, khi thì rổ ổi chua khi nắm khoai luộc hoặc bó mía. Hẳn là cuối ngày anh ta cũng kiếm được món tiền lời nhỏ đủ cho bát cơm khổ.  Tội nghiệp cho anh ! Nhưng có lẽ đối với anh ta điều ấy chưa đáng bận lòng bằng sự việc anh bị mọi người trêu ghẹo, cách trêu ghẹo nhiều khi đưa tới chỗ gây thương tích (ngay trên thân xác chứ không chỉ tinh thần thôi đâu). Thật ra kẻ gây thương tích cho anh thoạt tiên cũng không có chủ định dữ dằn nào, y chỉ muốn… “vở lẽ” ! Thật đáng sợ cho cái tò mò của con người. Chả là vì người ta đồn rằng anh không hẳn là …con trai, vì thế để thỏa mãn tính tò mò mọi người xúm lại đè anh ta ra để vạch quần soi mói. Mà có lẽ ngay cả điều ấy cũng chưa  đáng trách đối với kẻ lần đầu muốn biết ; cái tệ hơn là một khi đã biết sự thật rồi người ta vẫn tiếp tục quấy phá trêu ghẹo anh. Còn anh, mặt khác, cũng muốn hợp thức hóa tư tưởng thầm kín nuôi giữ trong trí : anh tin rằng anh thuộc phái tính nữ. Giữa ý muốn che dấu thân xác bất toàn của mình và ý muốn công bố về bản năng giới tính, tôi nghĩ đó là mối bi thảm cá nhân tột cùng.
(more…)

Đỗ Trường

bia_tho_viet_o_duc

Tôi viết về những suy nghĩ của mình về tập Thơ Người Việt Ở Đức, theo đề nghị của lãnh đạo nhà xuất bản Vipen-Berlin, Tiến sỹ Peter Knost và nhà thơ Thế Dũng. Tác giả tập thơ này, là những người Việt, viết không chuyên nghiệp, đang sống ở Đức. Do vậy, sự khen chê trong tập thơ này, cũng nằm trong cái không chuyên đó. Tuy còn nhiều mặt hạn chế, nhưng nó nói lên nhiều điều, trong đó có tâm tư, cuộc sống của những cảnh đời xa quê. Hơn nữa, tôi cũng muốn gửi một chút đó, đến cho những ai muốn tìm hiểu về sự hình thành, cuộc sống cũng như sinh hoạt văn hóa của đồng bào mình ở Đức, đã và đang diễn như thế nào.
(more…)