Archive for the ‘Tùy Bút / Tản Văn / Ký Sự’ Category

Zulu DC


Nhà thơ Trần Thoại Nguyên

Trời lạnh, tôi đứng bên nầy sông Santa Ana, sau cơn mưa nước sông cũng chỉ như dòng suối, nhưng bên cạnh là mặt hồ rộng của công viên Centennial. Tôi tưởng tượng điếu thuốc Pall Mall trên môi và nhìn làn khói trắng tan vào trong gió, thói quen để chống trả cảnh hiu hắt và giá lạnh giữa biển khơi thuở nào. Hình ảnh đã xa lắm, nhưng hôm nay đứng đây, bất chợt tôi liên tưởng đến anh bạn Trần Thoại Nguyên (TTN), trên tay lúc nào cũng kẹp điếu thuốc. Và mơ hồ, nhân vật Tất Đạt trong “Câu chuyện Dòng Sông” của Hermann Hesse. Hai nhân vật không liên quan gì với nhau, nhưng cùng lúc cả hai hiện hữu trong trí nhớ của tôi.

Trần Thoại Nguyên – người bạn kết nối từ những dòng thơ trên FaceBook – Tất Đạt và TTN mỗi người một tính cách. Tất Đạt, sau khi từ bỏ lý thuyết và những điều thầy (Cồ Đàm) dạy, đi tìm cho mình lý thuyết tốt đẹp hơn với một ý chí thép – đạt tới đích hoặc chết.
(more…)

Trần Mộng Tú
Cho Teresa Uyên Chi Đỗ

Cô cháu tôi (con út của em gái tôi) chỉ còn hai tháng nữa được 39 tuổi bỗng một ngày như mọi ngày, khám phá ra bị ung thư gan ở giai đoạn cuối. Một loại ung thư gan, bác sĩ nói không chữa được. Cái ngày đó không còn như mọi ngày nữa. Đất trời như lật ngược, cả nhà, rồi cả họ, rơi vào tình trạng hoảng hốt chạy chung quanh cô như đèn kéo quân. Ngoài cha mẹ, chồng con, anh chị em ruột, cô dì chú bác các anh em họ hai bên nội ngoại, còn thêm bạn học, bạn nơi làm việc. Tất cả cộng vào thành một số người không nhỏ cùng chạy đua với căn bệnh hiểm nghèo của cô.

Sau 18 tháng chạy chữa, (bây giờ cô đã bước vào tuổi 40) bắt đầu bằng Chemo rồi được thử những loại thuốc mới nhất trị ung thư gan, mỗi loại thử ba tháng, lá gan vẫn mỗi ngày một tăng trưởng, to bằng một trái dưa hấu thật lớn trong bụng, cứng như đá tảng. Bác sĩ buông tay, tuyên bố ngưng chữa trị, giao cô vào chương trình Hospice. May mắn cô có người anh rể làm y tá cho bệnh nhân Hospice kinh nghiệm nhiều năm rồi, nên cô được săn sóc ở nhà.
(more…)

Ngọc Ánh

Má à,

Con viết thư cho Má trong cái lạnh thấu xương của mùa đông nước Mỹ, thỉnh thoảng cũng có vài cơn mưa bất chợt làm con nhớ má vô cùng, cây mai trước nhà Má lặt lá hôm rằm chắc đang chớm nụ, không biết có kịp bung hoa sáng mồng một cho Má vui, tội nghiệp nó cũng suýt bị trộm mấy lần nên Má cột cả gốc lẫn cành bằng dây xích vào cửa sắt cho an toàn, ai thấy cũng cười, cái xứ gì lạ, tới cái cây, con chó cũng bị trộm vặt. Con nhớ vợ chồng ông hai trong hẻm nhỏ của mình sáng nào cũng thức sớm nhúm bếp luộc khoai chuối bán quanh năm mà vẫn không đủ sống, vay nợ bà bảy cứ đến chiều ba mươi là bị bả đứng chửi tới nửa đêm. Con nhớ tiếng rao chè khuya não nuột của cô tư đầu xóm bán ế quảy gánh ngang nhà. Con nhớ bác tám xích lô hay ngủ tạm trước hàng ba nhà mình chờ sáng chở mấy đứa nhỏ đi học kiếm chút tiền cơm…Họ nghèo từ mấy chục năm nay rồi. Tết này họ ra sao hả Má?
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Bà con kiều bào luôn là một phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc (Nguyễn Phú Trọng)
Mong kiều bào tích cực đóng góp xây dựng đất nước. (Nguyễn Xuân Phúc)

Lấy cớ tết nhất, tôi “hú” cả đống bạn bè tụ tập – uống sương sương vài chai – cho đỡ lạnh lòng viễn xứ. Sau khi cạn mấy ly đầy, và đầy vài ly cạn (rồi lại cạn mấy ly đầy nữa) thì chúng tôi đều “chợt thấy vui như trẻ thơ” – dù tất cả đã ngoài sáu muơi ráo trọi!

Xong “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương, cả đám tiếp tục đồng ca bài “Thằng Cuội.” Bản nhạc mà có lẽ đứa bé nào sinh trưởng ở miền Nam (vào thập niên 1950 – 60) cũng thuộc. Bài đồng dao này được nhạc sĩ Lê Thương viết bằng những lời lẽ rất tân kỳ, dù nền tân nhạc Việt Nam – ở thời điểm đó – còn ở giai đoạn phôi thai.

Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ …

Lặng nghe trăng gió hỏi nhau
Chị kia quê quán ở đâu
Gió không có nhà
Gió bay muôn phương
Biền biệt chẳng ngừng
Trên trời nước ta…”
Các con dế mèn suốt trong đêm khuya
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ

(more…)

Phạm Thanh Nghiên


Chị Phượng
Nguồn hình: Nguyễn Tín

Sáng mồng 10/1/2019, hai ngày sau khi nhà cửa của chúng tôi bị phá huỷ, tôi trở về Vườn rau. Đã hẹn với lòng mình sẽ không khóc. Nhưng khi tận mắt chứng kiến cả một vùng đất thân thương giờ biến thành đống đổ nát hoang tàn, tôi không cầm lòng được.

Tôi bật khóc. Con ngõ quen thuộc, những luống rau xanh mướt, những căn nhà trọ của xóm lao động nghèo đã hoàn toàn biến mất sau chỉ một đêm. Tôi dò dẫm, bước từng bước liêu xiêu trên đống đổ nát, đôi chân run rẩy như chực ngã. Tôi không ngăn được dòng nước mắt và tiếng nấc ngẹn trong cổ họng.

Không còn phân biệt được ranh giới của những căn nhà trọ. Chỉ có con đường mòn, nhỏ xíu dẫn vào khu trọ nhà chị Phượng là tôi nhận ra. Tôi cứ đi theo hướng ấy. Thỉnh thoảng, tôi lại gặp một vài người dân Vườn rau, ngồi khóc trên đống đổ nát mà chỉ mấy hôm trước thôi, nó vẫn là ngôi nhà mà họ đi lại, cười nói, sinh sống trong ấy. Có người không khóc được, cứ đứng bần thần như người mất hồn.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh

Cuối năm âm lịch, tảo mộ. Thời tiết lạnh lạnh của những cơn gió thổi qua nhắc đến những ý tưởng nào tưởng đã xa xôi nhưng có lúc lại gần gũi. Câu thơ “Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ” như nhắc lại một thời văn chương đã qua, những chân dung văn học đã vắng bóng. Buổi trưa, vào thăm từng ngôi mộ cũa những nhà văn nhà thơ vừa đi khuất, đọc những vần thơ ghi khắc trên bia mộ, chột thấy lòng bâng khuâng. Hình ảnh còn đây, ngôn ngữ còn đây. Nhưng người thì đã đi vào cõi vô thủy vô chung. Cái còn để lại, là những tác phẩm để đời, là những câu thơ vẫn cứ hoài trong trí nhớ của những người yêu mến.
(more…)

Nguyễn T. Long


Russell Drysdale (1912 – 1981)

Cho tới giữa thế kỷ XX, cộng đồng thế giới vẫn nhìn nước Úc ở Nam bán cầu (có hỗn danh là down under) như một phó bản mờ nhạt của Vương quốc Anh cho dù Úc đã trở thành một Liên bang độc lập theo quân chủ lập hiến từ 1901.

Người Anh qua Úc thì hoá thành người Úc như một lý đương nhiên (cho dù vẫn nghĩ mình là người Anh) nhưng người Anh sống ở xứ Úc qua nhiều thế hệ thì có còn là người Anh nữa không? Đây trở thành vấn đề của bản sắc, của căn cước dân tộc; người ta đi tìm một cái “Úc tính” (một thời được gọi là “Australianness”, một ý niệm mà ngày nay chẳng còn ai nhắc đến nữa). Không biết khi người Việt từ miền Bắc và miền Trung trở thành những lưu dân trong cuộc Nam tiến vào đất Chiêm Thành từ 4/5 thế kỷ trước, tổ tiên ta cũng có những phức cảm tâm lý tương tự như vậy chăng?
(more…)

Đỗ Quyên

Thật tình, với cái đời thơ chưa có gì gọi là đáng, nhưng kẻ viết bài vẫn liều đem nó ra bảo đảm điều này: Những ai đã làm thơ, dù ít dẫu nhiều, có thể không ưa mùa hè, chẳng ham mùa đông, thậm chí ái ngại mùa thu (mùa biểu tượng cho nỗi buồn mà nỗi buồn thường được xem là nguồn cơn của thi ca). Song, họ ắt phải viết về mùa xuân! Tức là, phàm đã làm thơ thì phải có xuân, ở đâu đó ngang dọc đường thơ của tác giả.

Cớ sao vậy? Dễ thôi… Bởi mùa xuân là mùa tình. Thơ ca là gì nếu không phải là tình cảm, tình ý, tình tứ của thi sĩ với người, với đời, với thiên nhiên?
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Đường đời muôn vạn nẻo
Đâu lối về quê hương?

(Giao Chỉ – Vũ Văn Lộc)

Xong mấy việc lặt vặt ở Nam Vang, tôi qua Chiang Rai. Đây là một tỉnh lỵ ở cực bắc của Thái Lan – nằm một phần trong khu Tam Giác Vàng – thuộc vùng tam biên giữa Miến, Lào và Thái. Vì không “gây thương để nhớ” cho ai – ngoài dăm ba đứa trẻ thơ đen đủi, và ngơ ngác giữa Biển Hồ – nên tôi cứ lặng lẽ mà đi thôi, chả có song ca (hay hát đôi) bài Biệt Ly với bất cứ ai!

Ấy thế mà vừa xuống phi trường Mae Fah Luang, đã thấy tin nhắn của cố nhân qua fb:

– Còn ở Phnom Penh không?

Đáp:

– Sang Thái rồi. Tính mai chạy lên Tam Giác Vàng, rồi mốt đi bộ qua Miến Điện chơi chút xíu…

– Trời! Muốn qua Burma thì nên xin visa cho nó đàng hoàng, dù có hơi tốn kém và mất công hơn chút xíu. Cũng như Golden Triangle, Myanmar không phải là đất lành đâu nha – thí chủ à!
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Nhà văn Hồ Đình Nghiêm

Trước đây, nhà thơ Bắc Phong sống cùng địa phương, sinh hoạt với anh em chúng tôi: Nhà thơ Luân Hoán, nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn… Về sau, do công việc anh dọn về thành phố Toronto, cách chốn cũ sáu giờ lái xe. Trong thầm lặng, anh đơn thân dựng được trang Sáng Tạo và để nhớ bằng hữu phương nọ, anh cho chúng tôi góp mặt ở nhóm chủ trương.

Ở xa, chúng tôi chỉ có thể “bắt tay” với nhà thơ Bắc Phong bằng vào mỗi một cách: Đóng góp bài. Và chúng tôi đã vui sướng với thành quả mà Bắc Phong gặt hái được. Riêng cá nhân tôi, Sáng Tạo là trang mạng lôi cuốn tôi nhất, hợp tạng tôi nhất, vì ở đó thường khi vẫn xuất hiện những tiếng nói, những nỗi lòng uất nghẹn trình bày qua thơ văn. Tôi vẫn “ngoan cố” với ý nghĩ, rằng người làm văn học nghệ thuật phải biết chia sẻ những đớn đau quanh ta, khi nạn nhân không đủ tỉnh táo để đưa lời trần tình, một tiếng than van. Dửng dưng, lãnh cảm, vô ngại, chính điều đó đã mang “anh” đi xa tôi. Anh tự khoanh vùng, tách biệt. Quan niệm sáng tác của anh không thích vấy tới những thứ “rắc rối” nọ. Tôi tôn trọng, và tôi có nhuốm chút buồn lòng.
(more…)

Khổng thị Thanh-Hương

Mới đó mà mẹ tôi đã mất hơn 100 ngày.  Mới đó mà đã hơn 100 ngày!  Nỗi nhớ thương mẹ đôi khi đến bất chợt như một cánh chim bay vèo từ trên ngọn dừa xuống sân cỏ hay như những giọt mưa nhẹ như tơ trong một ngày nắng ấm.  Không phải bao giờ tôi cũng bình tĩnh và làm chủ được lòng mình.  Có khi tôi ngăn được nước mắt.  Có khi tôi chịu thua, để cho dòng lệ âm ỉ trong tim rồi trào lên từ khóe mắt, làm ướt đẫm hàng mi.  Những lúc như thế, tôi vội đi ra khỏi tầm nhìn của người chồng khác miền khác tỉnh.

Từ tháng Mười tới giờ đã trải qua mấy ngày Lễ lớn.  Lễ Tạ Ơn, Lễ Giáng Sinh và chỉ còn hai hôm nữa là tới Tết Nguyên Đán.  Tết đến khi xa nhà nhớ mẹ mười phần.  Năm nay, Tết đến khi mẹ không còn trên cõi trần khiến tôi nhớ mẹ trăm lần nhiều hơn, dù có ai đã an ủi “Mẹ bao giờ cũng ở trong tim ta.”  Tôi nhớ về những cái Tết có mẹ, từ khi còn ở bên quê nhà, cho tới những ngày mừng năm mới bên quê người, hơn 40 năm qua.
(more…)

Song Thao

Nói tới “tết” người ta nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán. Nhưng tết đâu phải chỉ là thời gian giao mùa giữa năm mới và năm cũ. Ngoài Tết Nguyên Đán, chúng ta còn có Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu. Vậy tết là một ngày hội, một ngày vui được dân gian đón nhận. Những khi năm cùng tháng tận, tôi thường ôn lại dĩ vãng, nhớ lại những gì mình làm được cũng như chưa làm được trong năm cũ. Nhưng, từ bao năm nay, nỗi nhớ dằng dai hơn nhiều, từ ngày được tha khỏi cái gọi là trại cải tạo của Việt cộng. Đối với những người đã bước chân vào vòng tù mà không có tội, án cũng chẳng có, ngày tháng mênh mông như trong những đám mây, thời gian như một thách đố không có lời giải đáp, chuyện được thả cho về với gia đình là chuyện chết đi sống lại. Đó mới là ngày vui, ngày hội, ngày tết đích thực. Ngày về là…tết!
(more…)

Mỹ Trí Tử

Chẳng biết tự bao giờ người ta chia ra một năm gồm có bốn mùa và bao giờ mùa xuân cũng là mùa mở đầu và là mùa đẹp nhất. Mùa xuân được đánh dấu và bắt đầu bằng Tết Nguyên Đán. Có lẽ Tết Nguyên Đán là cái tết lớn nhất trong năm. Tết là do chữ “tiết” đọc chệch ra mà thành,  chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chữ Đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới.  Tết Nguyên Đán được bắt đầu tính từ thời khắc giao thừa của một năm mới, từ ngày mồng một tháng Giêng âm lịch và là cái tết lớn nhất của Việt Nam.

Được biết là như vậy nhưng không khí Tết đã bắt đầu từ rất nhiều ngày trước, có lẽ bước sang tháng Chạp âm lịch thì không khí Tết đã bắt đầu. Từ ngày hai mươi ba tháng Chạp, sau lễ đưa tiễn ông Táo về trời thì việc chuẩn bị tết nhất đã náo nức hơn bao giờ hết. Mặc dù đây là khoảng thời gian bận rộn và tất bật với tất cả mọi người, nhưng không khí háo hức và việc chuẩn bị sắm sửa với rất nhiều thứ như bánh, mứt, lau dọn, sửa sang, trang trí nhà cửa, chuẩn bị gói bánh chưng, bánh tét… đã mang không khí tết đến với mọi nhà. Và háo hức nhất có lẽ là những cô, cậu bé lứa tuổi nhỏ.  Có lẽ trong nhận định non nớt của tuổi học trò thì dường như tất cả mọi người đều mong đợi tết về. Đang là độ tuổi chưa biết lo, tuổi ăn tuổi chơi nên trẻ con luôn háo hức và mong đợi tết về hơn ai hết bởi lẽ nó có rất nhiều thứ mà chỉ tâm tư tuổi học trò mới hiểu được. Đối với người lớn, Tết là dịp để gia đình, họ hàng, người thân xa gần sum họp và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên. Cũng là dịp những người thân quen gặp gỡ, thăm hỏi, chúc mừng nhau, cầu mong cho nhau những ước nguyện sớm được đạt thành.
(more…)

Trần Huy Sao
Gởi người Xóm đình Đa Cát (Cây số 4 Đàlạt)

Đã có từng cơn gió chướng tràn về từ hướng núi. Trời trở lạnh và khô. Hoa Quỳ hương nở rộ hai bên đường, vàng óng.

Bác Hai Mộc đã…qui cố hương. Thím Ba Hồng cũng…hồi cố quận. Anh Tư Quân cũng… xếp tàn y về nơi cố thổ. Đó là cách nói thời thượng mang nặng tính võ hiệp giang hồ của anh Kiệt, nghe riết cũng thấy hay hay lại có văn vẻ cho nên ai cũng cố tình bắt chước. Sức học anh thì chưa tính được bao nhiêu nhưng sức đọc của anh thì tính tới bao, bồ mà đựng. Anh đọc truyện tới nỗi quên ăn quên ngủ. Tòan là chuyện kiếm hiệp. Đọc đến nỗi nhập tâm. Có Bác Hai Luân bị “dị ứng” về lối nói năng nặng mùi kiếm hiệp của anh Kiệt. Bác cứ lầm bầm “Qui cố hương, hồi cố quận hay có về nơi cố thổ thì cứ nói rẹt một tiếng về cho nó gọn. Bày đặt…”.

Mà cũng bày đặt thiệt!
(more…)

Lê Tất Điều

Giữa năm 2006, bị lạc một cú kinh hồn, muốn tàn đời luôn – thực sự là đã tiêu tùng gần hết những tháng năm vàng an hưởng tuổi già.

Suốt hơn một thập niên cứ lững lờ phiêu dạt từ những vi thể cực nhỏ, nhỏ hơn nguyên tử, đến những khoảng không vô tận, kích thước bao trùm vũ trụ. Tâm trí bồng bềnh, lúc cực kỳ sáng suốt, tỉnh táo, lúc lơ mơ, ngây ngất, giữa hai cõi vô cùng. Đường về vẫn nhớ, cũng ngắn thôi, mà không thể quay gót. Miên man bị hút về phía trước, trí tuệ cố mở to hơn mắt, miệt mài tìm cho được một chân dung kỳ bí đã thấy chập chờn, nửa kín nửa hở, ở cuối chân trời.

Chuyện khởi đầu rất tầm phào, vớ vẩn, thật không đáng kể lại làm rờm tai bà con cô bác. Nhưng nó là nguyên nhân chính gây ra cuộc “đổi đời” – từ thi sĩ thứ thiệt biến thành khoa học gia dởm – đành xin vắn tắt:
(more…)

Trần Kiêm Đoàn
Tiếng dạ, tiếng thưa: một biểu tượng nhân văn của văn hóa Huế.


Thiếu nữ trong thành nội
dinhcuong

Nhận diện văn hóa của một đất nước hay của một vùng đất nào đó trên mặt địa cầu nầy thường có quá nhiều hình tượng và đề tài để nói: Có thể đó là “biểu tượng nhân văn” do con người dựng lên hay nhờ có bàn tay con người gìn giữ và bảo vệ sản phẩm của thiên nhiên lâu dài mới còn tồn tại. Như tháp Eiffel của Pháp, Kim Tự Tháp ở Ai Cập, lá phong ở Canada hay con chuột túi (Kanguru) ở Úc. Hoặc có khi chỉ là một âm vị của ngôn ngữ như tiếng “Ok” của Mỹ, “Amen” của đạo Chúa và “Nam mô” của đạo Phật… Nhưng rốt lại, chỉ còn một nét nào đó nổi bật nhất mà chỉ cần nhìn hay nói ra là sẽ nhận được ngay câu trả lời tên nước, tên vùng.

Chắc nhiều người còn nhớ ngày Hội Huế đầu tiên trên vùng đất thủ phủ tiểu bang California, thành phố Sacramento năm 1985, khi nhà thơ Thành Đạt đưa giải thưởng “1000 hột sen Tịnh Tâm” rất quý hiếm vào thời điểm nầy cho ai chọn “một cái gì” bình dân và đơn giản nhất mà ai cũng biết cũng quen dùng tượng trưng cho Huế. Người ta đã đưa ra nhiều hình ảnh, tiếng nói làm “biểu tượng” cho Huế như chùa Thiên Mụ, Cầu Trường Tiền, Cửa Ngọ Môn, núi Ngự Bình; hoặc tiếng nói: “Mô, Tê, Răng, Rứa”…
(more…)

Nguyên Minh


Uống nước mát từ giếng nước của khuôn viên bảo tàng Quang Trung – Ảnh: NH

Không hiểu sao mỗi lần tôi gặp mặt Elena Pucillo Truong tôi cứ liên tưởng đến một cô gái tóc vàng của một thời rất xa. Thời của 300 năm trước. Giữa hai con người của hai thời đại khác nhau. Giữa hai đất nước ngày ấy rất xa lạ. Một phương Đông thời đại Tây Sơn. Một phương Tây hiện đại đã xa thời đế chế La Mã. Với tôi, liệu giữa hai con người đó có gì dính liền nhau như hai là một. Kiếp luân hồi. Tiền kiếp chăng?

Tôi có nói điều này với Elena. Và, cô ấy gật đầu, đôi mắt xanh, nhìn về một phương trời xa xăm nào đó. Còn tôi, tôi nhớ lại ngày chúng tôi quen nhau.
(more…)

Phan Ni Tấn

Tuổi học trò là tuổi mang nhiều kỷ niệm khôn nguôi. Chúng ta nghĩ về thuở xa xưa đó như nghĩ về sân đá banh, suối Đốc Học, suối Mu-ri (Maury), thác Nhà Đèn, hồ Piscine, hồ Trung Tâm hay cột đèn ba ngọn, kể cả con chim, con dế, một thứ keo dính chặt trong trí nhớ học trò. Hồi xa xưa đó chắc ai cũng nhớ những ngày đầu rụt rè theo cha mẹ đến trường, có đứa còn đái dầm, đứa ỉa đùn, có đứa khóc nhè, đứa thò lò mũi xanh. Bậc mẫu giáo là bậc đầu đời của tuổi thơ đi từ chỗ ê a vỡ lòng cho đến chỗ biết đọc, biết viết như một phép lạ thần kỳ.

Học đường là những bậc thang tiến thân trên đó mỗi năm nhà trường đòi hỏi sức học của con em để bước lên lớp cao hơn hầu mai sau làm người hữu ích cho xã hội, cho nước nhà.

Trước năm 1975, thị xã Ban Mê Thuột có nhiều trường lớp, từ mẫu giáo tới tiểu học lên trung học, công tư thục. Thuở đó, Ban Mê Thuột không có trường đại học.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Vì địa hình, những con đường trong thành nội thường cụt ngắn. Dài nhất e chỉ có riêng mình Đinh Bộ Lĩnh, khởi đi từ cửa Thượng Tứ, đâm thẳng tới cuối đường, kết thúc bằng đồn Mang Cá.

Nép thân Đinh Bộ Lĩnh hoặc toạ lạc ngay trên danh xưng nổi tiếng kia có lắm trường học nương nhờ, che nắng mưa cho biết bao thế hệ an tâm dùi mài sôi kinh nấu sử không thành danh cũng thành nhân: Tiểu học Trần Quốc Toản, trung học Hàm Nghi, trung học Bồ Đề, trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, trung học Nữ Thành Nội, trường Nông Lâm Súc. Không tính hai ngôi trường ẩn náu trong thâm cung Đại Nội: Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật và trường Quốc Gia Âm Nhạc.
(more…)

Nguyễn Mạnh Trinh


Bìa báo Xuân xưa

Bắt đầu vào một đầu năm dương lịch và chừng chỉ hơn 3 tuần là tới tết. Với người bản xứ, tháng của lễ lạc đã qua và bắt đầu bằng những tháng ngày của cuộc khởi hành mới của một năm. Còn với người Việt Nam, thì vẫn tràn đầy không khí lễ hội. Dù ngày đầu năm âm lịch là ngày thường không phải cuối tuần nhưng ý xuân tưng bừng vẫn dường như còn lẩn khuất đâu đây. Ở sở làm và các nơi khác, tôi thấy mọi ngày như mọi ngày. Nhưng khi về đến gần nhà, lái xe qua khu phố Bolsa cuối tuần, thấy không gian tết chan hòa. Nắng tươi nhưng pha những cơn gió lạnh nhắc đến những ngày xuân năm nào. Dạo qua chợ hoa đang tấp nập lại nhớ đến chợ hoa Nguyễn Huệ ngày xưa. Một thuở nào hiện về. Chao ơi là nhớ.

Bây giờ, cũng là thời điểm của báo xuân. Muôn hồng ngàn tía đua chen. Ðọc những tờ báo xuân hôm nay lại nhớ đến những tờ báo xuân ngày cũ. Những ngày cận tết khi còn ngày xưa ở trong nước, đi qua sạp báo, dù là ở một tỉnh thị heo hút cao nguyên hay phố quận sình lầy miền Tây, thấy cả bóng dáng mùa xuân. Những bức tranh, những chân dung thiếu nữ, như mỉm cười với cái lạnh ngọt ngọt của trời đất sang mùa. Những trang bìa báo xuân, như dấu hiệu báo trước năm tháng tươi đẹp của đất trời.
(more…)

Ngô Thế Vinh


Hình 1: Linh Đài với Ba Cây Đa cao 20 mét tượng trưng cho Ba Ngôi được dựng nơi Đức Mẹ đã hiện ra, với tượng Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng. Có người cho rằng đây là tác phẩm của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ nhưng chi tiết khắc trên đá nơi sau chân tượng gốc ghi là của Điêu khắc gia Nguyễn Văn Thế, ông cũng là tác giả công trình tượng đài Hai Bà Trưng Công Viên Mê Linh Sài Gòn, đã bị phá sập sau biến cố 1963. (5)

PHAN NHẬT NAM VỀ LA VANG VỚI NGÔ THẾ VINH

Con Đường Buồn Tênh / Street Without Joy, Dọc đường số 1, Đại Lộ Kinh Hoàng, Con Sông Bến Hải, Cây Cầu Hiền Lương, ngược về quá khứ, qua hai cuộc chiến tranh Việt Pháp, Quốc Cộng Nam Bắc, ngược dòng thời gian xuyên suốt con đường lịch sử đầy xác chết, đẫm máu và nước mắt, bằng cách này hay cách khác, thế hệ tuổi trẻ chúng tôi trong chiến tranh hay hoà bình cũng đã hơn một lần đi qua và chẳng thể nào quên.

Và trong chuyến đi này, Phan Nhật Nam cũng đã đến La Vang với tôi qua một hồi cảnh / flashback với hồi chuông báo tử hay sám hối / For Whom The Bell Tolls, với lời ai điếu hay cả lời nguyền… Những hồi chuông từ nơi tháp cổ mang đầy thương tích ấy vẫn như còn ngân và vang xa, vươn xa tới 9 cây số của Đại Lộ Kinh Hoàng để xoa dịu vỗ về và là nguồn an ủi cho linh hồn của vô số những ngưởi dân lành đã chết oan khiên trong Mùa Hẻ Đỏ Lửa 1972…
(more…)

Lê Quang Thông

Ta nhìn ngọn cỏ lòng mê mẩn
Nghĩ tới đời ràn rụa thâm ân

(Tô Thuỳ Yên)


Old French man in Paris cafe
by Edie Fagan

Tôi nhờ người phóng viên tờ Hörzu gởi về Paris cho Émile một bức điện tín, lúc tàu Cap Anamur ghé Singapur, một ngày sau khi vớt ghe chúng tôi trong Vịnh Thái Lan. Sợ phiền người phóng viên mới quen, tôi chỉ viết vắn tắt bằng tiếng Pháp mấy chữ: đã đến Singapur, nhờ báo tin về Việt nam. Émile hết sức sốt sắng, đã đánh đến hai cái điện tín, một về Huế cho Ba Mẹ tôi, một về Sài gòn cho vợ tôi. Émile còn nói sẽ vận động để Petit Ton, biệt danh mà Émile vẫn thường gọi tôi, qua Pháp sớm, như sau này vợ tôi kể lại. Sự thực đã không đơn giản như vậy.

Lúc ghé cảng Singapur là lúc bản thân Dr. Neudeck bối rối nhất. Trên tàu có trên hai trăm thuyền nhân. Một trăm rưỡi trong số đó nằm trong quota 1982 của chính phủ Tây Đức, sẽ được đưa lên đảo Palawan, chờ đi Đức. Số còn lại gồm hai ghe, ghe tôi đi từ Rạch Giá, và chiếc kia từ Vũng tàu, tổng cộng trên sáu mươi người, không biết số phận sẽ ra sao.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Ai liều tảo mộ chiều nay
Mà hương tảo mộ bay đầy hoàng hôn
(Phùng Cung)

“Vừa rồi tôi có đi Tây Nguyên dự lễ bỏ mả của gia đình ông Y Ngông Niết Đam. Người Eđê có một tục lệ rất đặc biệt. Khi nhà có người chết, gia đình con cháu hàng ngày vẫn nuôi nấng, vẫn mang cơm nước ra mộ, khi có điều kiện họ làm lễ bỏ mả. Đó là bữa tiệc linh đình chia tay vĩnh viễn với người chết. Sau đó họ không quan tâm đến ngôi mộ ấy nữa, để linh hồn người chết được siêu thoát, không còn vướng víu cõi trần.” (Trần Đăng Khoa. Chân Dung và Đối Thoại. Hà Nội: Thanh Niên, 1988).

Bãi mả, thực ra, không phải là “một tục lệ rất đặc biệt của người Eđê” mà là tập tục chung của nhiều sắn dân bản địa – ở Việt Nam:
(more…)

Phan Ni Tấn

Trước 1975 ở Ban Mê Thuột có khá nhiều tiệm sách.

Thập niên 1960, ông Cao Trí là chủ nhân tiệm sách Cao Trí khai trương đầu tiên tại thị trấn miền cao Buồn Muôn Thuở. Tiệm sách này nằm trên đường Nguyễn Thái Học, cạnh nhà thầu rau cải của bà cụ Thất (ngoại tôi) và tiệm may Thừa Thiên.

Ông Cao Trí tên thật là Y Tí, em song sinh với ông anh là Y Lý. Hai ông là người Thượng nhưng thuộc giới có học thức. Hồi trào Tây, gia đình họ Y và ông bà Thừa Thiên là hàng xóm thân thiết với gia đình bên ngoại tôi. Ông bà Y Tí có một cô gái rượu tên Hoa, hiền lành, ít nói. Hàng ngày đi học về, cô thường coi sóc tiệm sách. Ngược lại, ông bà Y Lý đông con hơn. Hai người con trai lớn tên Y Sự và Y Huỳnh là bạn học với tôi thời tiểu học.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Khi nghe tới bút hiệu Trần Vàng Sao, thú thật là tôi không mấy cảm tình. Nhưng khi tôi đọc, theo cảm nhận, nhà thơ mãi bị đồng chí nghi kỵ, luôn hứng chịu sự trù dập, đã viết nên nhiều bài thơ hay. Do tài năng, ông tạo ra những hình ảnh, những màu sắc, những nhịp điệu; gầy dựng được thứ khí hậu bao bọc lấy một vùng trời riêng. Ẩm thấp, sương khói, váng vất chút thơ mộng đặc thù của vùng đất sinh ra ông: Huế.

Giả dụ:

đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu

con sông nằm dài nhớ những chặng rừng đi qua
nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước
chim đậu trên cành chim không hót
khoảng trống mùa thu ngủ trên cỏ may

(more…)

Bá Dương

Trên thế giới không có nước nào có lịch sử lâu đời như Trung Quốc, không có nước nào có một nền văn hóa không đứt đoạn như Trung Quốc, mà cái văn hóa đó lại đã từng đạt đến một nền văn minh cao độ. Người Hy-Lạp thời nay với người Hy-Lạp ngày xưa chẳng liên quan gì với nhau. Người Ai-Cập cũng vậy. Nhưng người Trung Quốc hôm nay thì đúng là hậu duệ của người Trung Quốc cổ đại.

Tại sao một nước khổng lồ như vậy, một dân tộc to lớn như vậy ngày nay lại ra nông nỗi xấu xa ấy? Chẳng những bị người nước ngoài ức hiếp mà còn bị ngay dân mình ức hiếp. Nào là vua bạo ngược, quan bạo ngược, mà cả dân (quần chúng) cũng bạo ngược.
(more…)

Trần Doãn Nho

Tất cả những di dân từ mọi phương trời, khi đến Mỹ, đều lần lượt được đổ vào cái được gọi là “The Melting Pot”, một nồi nấu hỗn hợp để, sau một thời gian “đun sôi”, trở thành một công dân mới.

Nhóm chữ “The Melting Pot”, xuất hiện từ cuối thế kỷ thứ 18, là ẩn dụ ám chỉ những thành phần khác nhau “hòa tan vào nhau” (melting together) trong một toàn thể hòa hợp (harmonious whole).

Nhưng mãi đến đầu thế kỷ thứ 20, ẩn dụ này mới được xử dụng một cách phổ biến để diễn tả ý niệm đó (hòa tan văn hóa và chủng tộc) trong một vở kịch có cùng tên do Israel Zangwill (1864-1926) sáng tác và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1908 ở New York.
(more…)

Luân Hoán

Thời mới lớn, đồng nghĩa với giai đoạn biết có cái gì khác lạ ở con gái, khiến mình ưa nhìn, ưa vẩn vơ suy nghĩ nặng phần mơ mộng. Một thời kỳ đẹp rực rỡ như vậy, nhưng tôi ôm nặng mặc cảm về sự èo uột của mạng sống mình. Tôi sớm có cảm tưởng sẽ chết yểu, chết bất đắc kỳ tử. Chính vì thế, khi lòng dạ nhập chung với thơ, tên gọi các thi phẩm của mình mang đậm sự bi quan này. Một Về Trời chưa đủ, phải thêm Trôi Sông, thậm chí tô đậm rõ nét hơn với Chết Trong Lòng Người vào các năm tiếp sau lênh đênh trên dòng tình si đầu đời…

Nói đến Trôi Sông, hình như nhiều người liên tưởng đến Lạc Chợ – trôi sông lạc chợ – Câu chữ dính liền trong dân gian, để nói lên một kiếp sống nổi trôi không ra gì. Thế nhưng cái “thứ trôi sông lạc chợ” ở đây lấp lánh cái gì rất ư màu mè thi ca. Và tôi hình như đã có chút vịn vào hình ảnh này.
(more…)

Đỗ Bình


Nhà văn An Khê (1923-1994)

Vào cuối năm 1988 làng văn nghệ Paris rất vui vì được tin nhà văn An Khê, một cây bút lão thành, tính tình hiền hậu, khiêm tốn trong giới cầm bút trước 75 ở Sài Gòn, mới từ Việt Nam qua Pháp định cư. Nhà văn An Khê tên thật là Nguyễn Bính Thinh, sinh 01.09.1923 tại làng Tân An, tỉnh Sa Đéc, nhưng trưởng thành ở Rạch Giá, Kiên Giang. Thời trẻ ông đã tham gia phong trào chống Pháp. Năm 1941 bị thực dân Pháp bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn rồi bị đày ra Côn Đảo. Tháng 8 năm 1945, ông được chính phủ Trần Trọng Kim trả tự do đưa về đất liền cùng 122 chiến sĩ quốc gia khác. Năm 1952 ông vào quân đội Quốc Gia với cấp bậc thiếu tá và năm 1954 ông bị thương vì đụng trận với Việt Minh ở đèo An Khê thuộc tỉnh Bình Định, bị hỏng cánh tay mặt. Từ đó ông lấy bút hiệu An Khê và gõ máy một tay để viết tiểu thuyết Dã Sử VN.
(more…)

Phạm Nga

Nhớ cái thời ‘ăn độn’ thập niên 80, có những cái Tết đầy khó khăn, thiếu thốn đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị thật chua chát, nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng áy náy, sượng sùng, tội nghiệp cho chính mình…

Khi tôi đi học tập cải tạo về rồi lập gia đình (1977) thì thời thế sau 30 tháng 4 đã chất chồng khó khăn về mọi mặt. Gia đình cha mẹ, anh em tôi thì ở Sài Gòn, gia đình bên vợ tôi thì ở Vũng Tàu, cách nhau hơn 100 cây số, còn tôi thì sau ngày học cải tạo về đã bị chỉ định phải nhận việc ở một nông trường vùng Củ Chi, cách Sài Gòn 45 cây số. Bên nào cũng nghèo, nhất là nhà bên ba má tôi rất chật hẹp, nên vợ tôi cùng hai đứa con phải về nhờ đỡ bên ông bà ngoại ở Vũng Tàu. Ngày thường thì đã phải sống xa vợ con, cha mẹ nên mùa Tết đến là tôi lại đắn đo và thường là tôi chọn (gọi là) ăn Tết ở quê vợ, vì dù sao cũng là gần vợ, gần con mình.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Họ không sợ và thậm chí không thèm để ý đến cái gọi là “luật an ninh mạng.” Họ vẫn nói, vẫn viết như đã nói và viết vào ngày 31 tháng 12 năm ngoái. (Trần Trung Đạo)

FB Pháp Vân ghi nhận rằng “các vị gặp vận hạn về xe biển xanh có vẻ như tên đều có vần ‘anh’. Đầu tiên là Trịnh Xuân Thanh, đi cái Lexus ‘mượn’ của người tài xế, gắn biển xanh vào để tiện đi công tác. Kế đến là Nguyễn Xuân Anh, đi cái xe được doanh nghiệp biếu, và mấy hôm nay đang rộ lên về xe biển xanh đi đón phu nhân bộ trưởng Trần Tuấn Anh.”

Nếu đúng vậy thì rõ ràng là Luật An Ninh Mạng, có hiệu lực từ ngày đầu năm 2019, hoàn toàn và tuyệt đối chả ảnh hưởng gì ráo trọi đến “vận hạn” của các vị lãnh đạo ấp cao ở Việt Nam cả. Bốn hôm sau, sau khi Bộ Công Thương gặp “nạn” vì đã dùng xe công vào chuyện tư, trên trang fb của Hoàng Huy Vũ xuất hiện một stt ngăn ngắn (nguyên văn) như sau:

Hai vợ chồng quan nằm với nhau.

– Quan bà tỉ tê: Tưởng có chồng làm quan thì được nhờ, ai ngờ điều cái xe đi đón vợ thôi mà thiên hạ nó chửi cho mục cả mả. Biết vậy gọi Grab cho nó lành.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm


Từ trái, đứng: Nhà văn Lâm Chương, nhà thơ Đức Phổ; ngồi: Nhà văn Phạm Ngũ Yên,
Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Triều Hoa Đại, nhà văn Nguyễn Vĩnh Long
(Boston. 2000)

Người về già thường hay mang tật nhìn lui, vọng tưởng. Có thể để tiếc nuối.

Năm cùng tháng tận, giữa bàng giao chuyển dịch cũ sang mới, ta thường mượn đến bốn chữ “rêu bám” này: Ôn cố tri tân. Cố là quá khứ, tân là hiện tiền. Nhắc chuyện cũ để hiểu thêm chuyện mới. Lâu nay chưa có chữ nào thay thế? Đành lạm dụng cho giản tiện. Ôi, hán với nôm! Nói rêu bám là bởi thế.

Vì sao gọi “ông cố nội”? Cớ sao bảo “kẻ quá cố”? Tựu trung nó thay thế cho một thứ gì được xếp vào hàng cổ vật. Xưa rồi diễm là cụm từ rất đỗi tầm bậy. Năm con Heo xuất hành đúng lối hoàng đạo, thiên thời địa lợi nhân hoà nên cưa đổ được em tên Diễm tuổi tròn trăng, đang cầm tay nhau đôi uyên ương nọ hẵng phật lòng, bất bình khi nghe được. Cái gì xưa, cha nội? Diễm rạng ngời như đoá tường vi vừa bung nở trong đêm giao thừa đấy thôi, sương ướt át còn đọng, mới tinh khôi. Không cứ là tình nhân, Trịnh Công Sơn khi đón nhận, trong dạ cũng chẳng mấy vui. Bá tánh thật lắm chuyện!
(more…)

Đỗ Duy Ngọc


Họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)

Hồi còn ở Đà Nẵng thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, tui là thằng con trai đang lớn mê vẽ vời, rảnh rỗi là chạy đến phòng vẽ của hoạ sĩ Trần Viết Hậu ở đường Hùng Vương gần đường rầy xe lửa sau chợ Cồn hoặc lên chỗ gần rạp xi nê Kinh Đô đường Độc Lập nơi có phòng tranh của nữ hoạ sĩ Maria Mộng Hoa để xem tranh và học lóm cách thức vẽ các hoạ sĩ này.

Năm 1965, hoạ sĩ Đinh Cường triển lãm lần đầu tiên tại Trung tâm văn hóa Pháp ở Đà Nẵng, tui đến xem và ngỡ ngàng, say đắm, vỡ ra nhiều điều về nghệ thuật. Trước đây, xem tranh của các hoạ sĩ sáng tác theo kiểu trường lớp, màu sắc na ná nhau, vẽ theo lối hiện thực hàn lâm, nay tui choáng ngợp với những bức tranh đầy sáng tạo, đầy ngẫu hứng và màu sắc, đường nét, bố cục rất mới, nội dung tranh phóng túng rất nghệ sĩ. Tôi bắt gặp một chút Marc Chagall, một phong vị Modigliani, những họa sĩ Pháp tui rất mê từ hồi học lycée, lại thêm một chút không gian bàng bạc rất Huế, rất Đông phương trong tranh của họa sĩ Đinh Cường.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Sắp tới Tết. Tết năm nay mang tên Kỷ Hợi. Tết con heo.

Heo là giống vật tạp ăn (ăn như heo). Heo là súc vật quen sống trong điều kiện dơ dáy (bẩn như heo). Heo thường được quý bà quý cô dùng, thay thế cho cụm từ “đồ dê chúa”, là hạng đờn ông cứ chực chờ ghẹo nguyệt giỡn hoa buông lời đường mật rù quến ong bướm. Phụ nữ đa phần đều ghét nhân vật Trư Bát Giới, họ cũng chẳng mặn nồng gì tới Tôn Ngộ Không. Sau “đồ con heo” có lúc họ rầy rà người yêu: Đồ con khỉ! Cứ ưa bày trò rờ rịt người ta! Họ có lí do chính đáng để cạy mặt con khỉ, Tết khỉ Mậu Thân 1968 đã biến thành phố an lành họ đang sống trở thành địa ngục. What the Hell…

Heo là tiếng Việt, phát âm nghe giống tiếng Anh “hell”. Bụt từng nói: Ta không vào địa ngục thì ai vào? Tựa như lời của Winston Churchill: “If you’re going through hell, keep going”.
(more…)

Phạm Quốc Bảo


Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016)

Trong vòng bốn năm năm nay, mỗi lúc càng nhiều websites tổng hợp tin tức việt ngữ trên mạng lưới điện tóan tòan cầu. Theo hiểu biết của cá nhân, tôi thấy rằng mặc dù càng nhiều tin tức thì càng dễ bị lầm lạc nhưng mặt khác, sự kiện này cũng thể hiện lên một bước nỗ lực phát triển đáng kể trong tiến trình thông tin đa chiều của các cộng đồng gốc Việt. Hằng ngày tôi đã thường xuyên bỏ ra độ từ một đến hai tiếng đồng hồ để theo rõi mấy băng tần truyền hình việt ngữ ở địa phương Nam Cali; trong đó họ thường tổng hợp tin và cho chiếu lại vài đọan chương trình việt ngữ của hai đài VOA và RFA.
(more…)

Tưởng Năng Tiến

Nhiều người cho rằng, Cambodia đã đi trước Việt Nam một bậc về mặt dân chủ, rằng xã hội dân sự đã nở hoa, rằng quốc gia này sẽ là người tiên phong của vùng Đông Dương về tự do, dân chủ và sự phát triển kinh tế – kinh trị. Vài năm sau, chúng ta bắt đầu khóc than về một nền dân chủ kiệt sức và hấp hối. Điều gì đã xảy ra? (Nguyễn Quốc Tấn Trung)

Bởi tính hà tiện (và cũng vì thói quen luôn thức sớm) tôi hay rời Bangkok lúc trời còn tối, và đến Phnom Penh khi vừa sáng bạch. Chuyến bay đầu ngày bao giờ cũng rẻ, ít ra thì cũng rẻ hơn được năm/bẩy Mỹ Kim. Đỡ được đồng nào hay đồng đó.

Phi đạo vắng ngắt nhưng phi trường thì ồn ào hơn thường lệ vì có nguyên cả một đoàn du khách Trung Hoa (gần cả trăm người) đang lào xào trò chuyện hơi lớn tiếng. Tôi gặp họ hoài, ở khắp mọi nơi, nghe riết cũng quen nên không có gì để phàn nàn cả. Hơn nữa – tự thâm tâm – tôi tận tình chia sẻ với nỗi “hạnh phúc vỡ oà thành tiếng” của hằng tỉ con người (vừa được xổ lồng) sau hơn nửa thế kỷ bị giam cầm, trong bức màn sắt

Khác với Lào hay Thái, tuk tuk ở xứ Cao Miên nhiều quá – tá lả khắp nơi – nên tiếng mời chào (khẩn thiết) nghe mà thương cảm. Tôi phóc đại lên cái xe gần nhất, nói nhỏ:

River side! Ra mé sông!
(more…)

N. Nguyễn

“Ước mơ vươn tới một vì sao” là nhan đề một bộ phim rất ăn khách của Nam Hàn trước đây, tôi không có xem qua nên không biết bộ phim đó nói về cái gì, chỉ thấy thích cái nhan đề bởi vì tôi cũng từng mơ có ngày mình sẽ chạm tới một vì sao… mặc dù cũng biết cái ngôi sao lấp lánh kia nó ở xa lắm, nhưng mơ thì cứ việc mơ, mơ đâu tốn tiền, có người còn mơ giữa ban ngày nữa kìa. Tôi mơ được làm nhà văn.

Từ nhỏ tôi đã thích viết… thường là viết tuỳ bút cho dễ, nghĩ sao viết vậy, không cố gắng đặt câu sao cho “hoa lá cành” như các bạn văn đồng trang lứa. Lớn lên ra hải ngoại tôi có viết truyện ngắn đăng báo lai rai. Chỉ viết lai rai thôi nên mãi… vẫn chưa là nhà văn. Mà cái sự viết lách của tôi cũng không đều tay, có khi năm bảy tháng không có được một truyện ngắn nào. Rồi tôi lặn mất tăm mất tích một thời gian dài đằng đẳng, rồi bây giờ bước vào tuổi xưa nay hiếm, lại viết… (viết như vậy biết tới bao giờ mới được kết nạp vào hội nhà văn đây ông?). Tôi tự nhủ: “có hề chi! Nếu không được cấp thẻ nhà văn, thì mình tự phong cái mác nhà văn cho mình cũng được vậy”.
(more…)

Nguyễn Lệ Uyên
Trích lại bài viết trên Thư Quán Bản Thảo số 18 tháng 2 năm 2005


Bàn thờ Y Uyên với bức tượng do điêu khắc gia Phạm Văn Hạng phục chế, bên cạnh là tạp chí TQBT số 18 chủ đề Tưởng nhớ Y Uyên và tập truyện Tuyển truyện thời chiến của Y Uyên.

Như vậy cuối cùng thì bức tượng đồng Y Uyên cũng được phục chế hoàn chỉnh.

Bao nhiêu những lo lắng phập phồng của anh em đã được điêu khắc gia PVH và các môn sinh của anh đêm ngày đúc khuôn. Đúc và xoá và đúc chỉ với hai lỗ tai thôi (đã bị kẻ trộm cưa mất cách đây hơn ba mươi năm ở nghĩa trang quân đội Hạnh Thông Tây) nhưng quả thực là khó tạo được vẻ thật của nó lúc ban đầu mà điêu khắc gia Đỗ Toàn cùng anh em văn nghệ ở Tuy Hoà đã bỏ khá nhiều công sức như một tấm lòng với người bạn văn quá cố.
(more…)

Hồ Đình Nghiêm

Ở trong nước, mỗi năm, bộ hành, người dùng xe đạp, người cỡi xe gắn máy từ chết đến bị thương đếm không xuể, nguyên nhân do đang lưu thông chẳng may có ô tô điên từ đâu láng cháng rồ tới, tông, đụng, húc, cán không khoan nhượng. Thường dân than: Khi khổng khi không cái phủi chân lên bàn thờ đi gặp mặt ông bà; mà đảng viên thì báo cáo: nó vừa đi thăm Các-mác Lê-nin.

Chết, có trăm phương nghìn cách, kể cả khi nghĩ là an toàn leo được, ngồi vào lòng ô tô, mua vé xe đò có giường nằm bon bon trên quốc lộ Một. Xe đổ đèo xe đứt thắng, bác tài ngủ gật lạc tay lái. Đại lộ không chạy lại nhắm tiểu lộ mà cày xới bao vật ngáng đường, trầy trụa khi rơi “êm” xuống vực, “một bộ phận không nhỏ” liền khuất núi, hồn du địa phủ.
(more…)

Phan Ni Tấn

“Đoạn viết về sự khác biệt giữa chim én và chim yến dưới đây là do một người bạn sành sõi nghề săn bắt tổ yến kể ra, tôi căn cứ vào lời kể đó viết ra truyện này”.

Cứ mỗi độ xuân về chim én lại xuất hiện bay rợp trời trên cao nguyên quê tôi. Chim én là biểu tượng của mùa xuân, và là hình ảnh rất quen thuộc với người Việt mình. Hồi nhỏ tôi tưởng chim én là chim yến, nhưng lớn lên tìm hiểu mới biết không phải. Chim én là chim én, cũng không phải là chim nhạn như nhiều người ngộ nhận, còn chim yến gọi là yến biển. Hai loài chim này mới nhìn thấy giống nhau, có cùng sở thích bay lượn và săn mồi trên không, còn thì khác nhau ở nhiều điểm.
(more…)